28 thg 12, 2018

Hà Nội 45 năm trước tháng 11 - 12/ 1973


2/11
Một kẻ mà mỗi buổi sáng lại xét lại bước đi của mình trong đời sống -- kẻ đó không phải là người biết sống, biết làm việc. Mà tôi đang là vậy.
Dẫu sao thì cuộc đời cũng vẫn phải đi thành vệt, vẫn phải có những nền nếp. Những nền nếp cần phải luôn luôn được kiểm tra lại, nhưng trước hết, anh phải cho nó thành những nền nếp, để biết mà tính.

26 thg 12, 2018

Nguyễn Hiến Lê -- người cải chính nhiều sự hiểu nhầm về Trung quốc.

Đóng góp của Nguyễn Hiến Lê (1912 - 1984) trong khoa Trung quốc học là ở chỗ tận dụng ưu thế thời đại mang lại cho nó một cái nhìn khác các bậc tiền bối. Xuất thân từ Tây học, song ông lại có thời gian về học với người bác là một bậc thâm nho, nhờ đó bồi đắp cho mình cái vốn Hán học chắc chắn. Trong suốt cuộc đời ông luôn luôn có cái nhìn phối hợp Đông Tây khi cần xem xét các vấn đề cơ bản mà người trí thức phải đối mặt.

23 thg 12, 2018

Thế nào là trở cờ, thế nào là thay đổi niềm tin chính trị ? Trường hợp L. Aragon (1897 – 1982)



Bài đưa lần đầu trên blog này ngày 19 thg 12, 2017
https://vuongtrinhan.blogspot.com/2017/12/the-nao-la-tro-co-nao-la-thay-oi-niem.html


Khi gõ mấy chữ “nhà thơ  Louis Aragon“, vào mục Wikipeda tiếng Việt tôi đọc được một phác thảo tiểu sử quá sơ lược, và lại thiên lệch nữa.  Đại khái như mấy dòng sau đây:

...Thời kỳ Thế chiến II, Aragon   tham gia phong trào Kháng chiến, là nhà thơ tiêu biểu nhất của phong trào này.

    Các tập thơ Le Crève-Cœur, (Dao trong tim, -- [hồi 1960,  được dịch là Nát lòng VTN ] in1941); Les Yeux d'Elsa, (Đôi mắt Elsa, 1942); thể hiện lòng yêu nước và sự quay về với những đề tài tình yêu cổ điển.

19 thg 12, 2018

Hà Nội 45 năm trước tháng 9 -10 /1973

Nhật ký chiến tranh – phần tiếp sau bài  Hà Nội tháng 6/1973
6/9
Từ Quảng Trị trở về Hà Nội. Cảm thấy như một con tàu đang đi, bị chững lại. Đấy, cái nơi mà ta ao ước trở về -- tức Hà Nội -- chỉ có như thế. Tôi vừa thấy đây là nơi chứa tất cả quá khứ tương lai cau, và tinh thần vì việc chung, cũng đã rất khó.

16 thg 12, 2018

Thanh Tịnh những năm chiến tranh

 Nguyên là bài Thanh Tịnh, cuộc đời ngậm ngải tìm trầm 
in ở tập Cây bút đời người 2002 , và trên blog này ngày 30-12-2014

Năm sớm năm muộn xê xích ít chút nhưng nói chung hàng năm cứ đến khoảng cuối tháng mười một, đầu tháng chạp dương lịch, khi những chiếc lá bàng chuyển dần từ màu xanh sang màu đồng điếu, thời tiết bắt đầu ngả hẳn sang mùa đông, trời đất thấm lạnh đôi khi có thể giá rét thấu xương - thứ rét ngọt như người ta vẫn nói - thì cũng là lúc dân làm báo Hà Nội chúng tôi bắt tay vào một công việc thuộc loại vất vả trong năm là chuẩn bị những số báo tết.

13 thg 12, 2018

Nguyễn Giang - Những người giúp chữ Quốc ngữ "làm nên"


Trên BBC 31 tháng 8 2018, có bài của Nguyễn Giang mà tôi dẫn ra sau đây. Do chỗ nhận thấy nội dung bài viết có góp phần giải quyết nhiều vấn đề đang thảo luận trong nước, mặc dù chưa được phép của bạn Nguyễn Giang, nhưng tôi vẫn xin được đưa lại trên blog để chúng ta cùng đọc. Mong bạn Nguyễn Giang đồng ý. Trong khi đưa lại bài viết tôi xin phép rút bỏ những hình ảnh minh họa. Nếu cần bạn đọc có thể tìm lại nguyên văn bài viết ở đường link: https://www.bbc.com/vietnamese/culture-social-45249539

7 thg 12, 2018

Chung quanh sự học

KHÓ NHẤT LÀ BIẾT HỌC
Cao Xuân Dục (1843 1923 ) là một đại thần triều Nguyễn .Trong cuốn Nhân thế tu tri ( bản của Nxb Văn học 2001) tôi đọc được một câu quá hay bàn về sự học:
” Kẻ đi học qúy là ham học, quý hơn nữa là biết học”

5 thg 12, 2018

Một thứ tự do hoang dại


Lần đầu lên Đà Lạt, tôi được nghe kể là người Pháp trước kia đề ra những quy chế rất gắt gao cho việc xây dựng các biệt thự ở đây. Ví dụ, phải có diện tích đất bao nhiêu mới được làm nhà; còn về kiểu cách, trong khi bắt buộc mỗi nhà phải khác các nhà chung quanh (để tạo cảm giác độc đáo), thì anh lại vẫn phải kết hợp với cảnh quan sẵn có một cách nhịp nhàng. Nhìn Đà Lạt hồi trước, ai cũng thấy là không chỉ có nhiều nhà đẹp mà thú vị hơn là cả một thành phố đẹp.

3 thg 12, 2018

Thế nào thì được gọi là người tài?

Lớp 10C Chu Văn An bọn tôi (khóa 1958-1961) có bạn Phạm Đình Tuấn. Tuấn thông minh, nhưng thường điểm các môn không cao lắm, nên không được coi là học sinh giỏi. Tôi chỉ bái phục Tuấn khi được biết rằng hồi ấy anh đã đọc được “Thủy hử” trong nguyên văn bằng chữ Hán.

30 thg 11, 2018

Thành phố sống sốt - Hà Nội tháng 5 tháng 6 - 1973

    
 2/5
  Nhớ lại cái phía đời thường của ngày lễ hôm qua. Công việc được bàn nhiều ở các khu phố là lấp nốt những hố cá nhân. Một mặt thì ở đó chứa chất tất cả những gì cần phải đổ đi, than xỉ, bùn cống. Mặt khác, cái miệng cống vẫn quẩn lên một lớp váng như một thứ ký ức   không chịu tan biến đi cho. Dĩ vãng có mặt trên mỗi đoạn đường chúng ta đi tới.
    Là người công dân Hà Nội lúc này nghĩa là gì?  Là người thợ may vá chữa quần áo. Là người thợ thiếc nhặt từng ống bơ cũ về làm lại cái đèn, cái ấm đun nước. Là mấy chị phe phẩy lo chạy hàng phục vụ đám dân Hà thành từ nơi sơ tán trở về. Là… cô giáo cũ đi thu nhặt lại đám học sinh.... Họ đang là những nhân vật chủ yếu của thành phố!
    Người ta mang về các vườn hoa một ít dụng cụ đồ chơi. Và đây quả thật là những “quả nhỏ” của chiến tranh: những cái khung đồ chơi bằng sắt trông nặng, chắc. Những lớp sơn tạm bợ. Tiếng khung sắt động vào mặt đất xi măng nghe rào rạo một thứ âm thanh xa lạ.
   Hà Nội thích nói tới sự tài hoa vì Hà Nội chỉ có cái bề ngoài. Hà Nội dũng cảm vì Hà Nội nghèo khổ. Hà Nội từng trải, lì lợm, vì Hà Nội sống sát mặt đất. Đã bao nhiêu lần, tôi nghe được những người khác nhau nói về Hà Nội. Có những chuyện vui nhất lẫn những chuyện buồn nhất. Và tôi hiểu cộng những cái đó lại, mới là Hà Nội.

28 thg 11, 2018

Một nền hòa bình ngấm bệnh - Hà Nội tháng 4-1973

3/4
     Vẫn chưa hết ngỡ ngàng vì hoà bình. Bây giờ, trên nhiều quãng đường, cái âm thanh nghe reo vui nhất, là tiếng máy gạt, máy san. Và cái mặt đất đẹp nhất, là những nền đất mới. Đất mới đổ xuống hầm hố cá nhân. Đất mới san nền, đất lật tung ra, từ những hầm đất lâu nay cỏ đã lên xanh.
   Bầu trời được dọn dẹp đã trở thành bầu trời bình yên.
   Hôm qua đất là chỗ trú chân. Hôm nay, đất phải là cuộc sống.

24 thg 11, 2018

Hà Nội tháng 3 - 1973


Tiếp vào bài Hà Nội tháng 2-1973 đưa ngày 26-19-2018
https://vuongtrinhan.blogspot.com/2018/10/ha-noi-thang-2-1973.html


2/3
     Những lo ngại, mà tôi cảm thấy ngay từ lúc mới nghe tin hoà bình, hình như là có thực. Đây là những ngày quá độ (Nguyễn Minh Châu: “lúc này là cứ phải đi chậm lại”).
     Dỏng tai nghe, về phía nào, cũng thấy có những tiếng động. Người ta mở ra ư? Có mở đấy. Nhưng mở thế nào, mở đến đâu không ai biết?

22 thg 11, 2018

Chữ NHÀ trong tâm trí ca sĩ Khánh Ly


Trong khi lang thang trên mạng tôi tình cờ đọc được một bài viết nhiều kỳ của ca sĩ Khánh Ly trên tờ Thời báo nhạc xưa in ở hải ngoại.

https://nhacxua.vn/tuy-but-ben-doi-hiu-quanh-khanh-ly/

 Bên đời hiu quạnh -- vốn là tên một ca khúc của Trịnh Công Sơn từng được nhiều ca sĩ thể hiện -  lại được đặt tên cho bài viết nhiều chất tự bạch này, đó là điểm cần chú ý trước tiên.

Nhưng đối với tôi có điều lạ là  người ca sĩ trong đoạn sau đây  có lối nhẩn nha ôn lại những chữ nghĩa nối tiếp nhau để rồi qua đó nói lên cả một thời mà mình đã sống qua.

Lối viết này trước đây tôi chỉ thấy ở Nguyễn Tuân không ngờ lại xuất hiện ở Khánh Ly.

Xin mời các bạn đọc thử  và nếu có thấy tôi đã liên tưởng quá vu vơ thì cũng ...tha tội cho.

17 thg 11, 2018

Hai lá thư về văn học( 2)

Thư trả lời thứ hai (chưa tìm ra thư Linh gửi)

Cháu Linh

Suốt tháng qua bác bận một ít việc nhà và lo viết một bài về trí thức VN, nay đã tạm xong mới viết thư cho cháu đươc

Về lớp thanh niên VN hiện nay -- bác nghĩ để hiểu họ và văn chương của họ, ít nhất cháu nên đọc và suy nghĩ về mấy mảng sách
Một là mảng viết về con người sau chiến tranh.

Hai là mảng viết về con người hiện đại xã hội hiện đại nói chung.

Và ba là —  cái này thì hơi rộng quá, nhưng phải cố làm một cách gọn nhất --  tìm hiểu con người VN được miêu tả qua lịch sử và văn chương ra sao.

15 thg 11, 2018

Hai lá thư về văn học ( 1)


Khoảng mươi năm trước, qua giới thiệu của bạn Minh Hà, tôi có trao đổi với  Linh B.,
một sinh viên Mỹ về một số vấn đề trong văn học Việt Nam.
 Sau đó Linh có viết cho tôi hỏi thêm vài điều.
Tôi đẫ nhân đó nêu vài vấn đề văn học VN mà tôi hằng quan tâm.
Hôm nay đây chín năm sau, xin trình ra với bạn đọc 

Thư của  Linh vốn viết không dấu. Tôi chỉ đánh dấu lại , ngoài ra  
giữ đúng  như nguyên bản mà tôi đưa ở dưới.

12 thg 11, 2018

Một bài viết về Bảo Ninh trên báo MekongReview (Phạm Văn Thiều dịch)


NHỮNG CUỘC CHIẾN TRANH CỦA BẢO NINH

Khi chúng tôi bấm chuông cửa nhà của tiểu thuyết gia nổi tiếng nhất của Việt Nam, thì bản Für Elise bắt đầu chơi. Bảo Ninh, tác giả của cuốn tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh được thế giới ca ngợi, vẫn còn sống ở thành phố tuổi ấu thơ của ông – chính cái thành phố nơi nhân vật chính của ông – anh chàng cựu chiến binh Kiên luôn dày vò dằn vặt, đi lang thanh hàng đêm, khi “linh hồn của Hà Nội là mạnh mẽ nhất …thậm chí còn mạnh hơn cả cơn  mưa. Giống như bây giờ, khi toàn thành phố dường như hoang vu, ẩm ướt, đơn độc, lạnh lẽo và buồn tê tái”. Ngôi nhà của nhà văn, một kiến trúc đô thị Việt Nam thẳng đứng điển hình, nằm trên con đường với hai hàng cây, rẽ xuống từ đường phố chính, ở ngay phía nam Hồ Tây, nơi mà Kiên và Phương, người bạn  gái từ tuổi ấu thơ của anh, đã cùng nhau xuống bơi vào ngày trước khi anh ra chiến trường, và điều đó đã khơi gợi trong Kiên nỗi hoài niệm tuyệt vọng khi anh trở về, 10 năm sau.

7 thg 11, 2018

Chính sách đào tạo trí thức của nước Nga




  Tập tiểu luận  Về trí thức Nga ( La Thành và Phạm Nguyên Trường dịch, nxb Tri thức H. 2009)  gồm có nhiều bài viết xuất sắc
+ Chân lý của triết học và sự thật của người trí thức 
+ Khủng hoảng trí tuệ và sứ mệnh của tầng lớp trí thức cả hai cùng của  tác giả N.A. Berdaev
+ Tầng lớp kỹ giả -- Alekssandr Solzhenítsyn
+ Phẩm tính trí thức -- Dmitri Likhachev

Riêng bài Bàn về  số phận của tầng lớp có học ở Nga của Sergey Kirilov thì bàn sâu vào lớp trí thức Nga sau 1917. Tầng lớp này  đã được quan niệm như thế nào, nhà nước xô viết đã hình thành họ theo những cách thức ra sao, tại sao giới trí thức Nga  lại có bộ mặt như chúng ta đang thấy, tại sao trong thời đại mới,  đa số những người này dừng lại ở cái trình độ thảm hại và kèm theo  những suy đồi  về đạo đức quá rõ so với trí thức Nga trước Cách mạng.
Chúng tôi lược thuật  bài này, cốt để các bạn xa gần qua đó, từ trí thức Nga sau 1917, có thể hiểu thêm về lớp trí thức được đào tạo ở Hà Nội sau 1954.
Trong cơn thức tỉnh sau chiến tranh, nay là lúc xã hội thường hay chê trách lớp trí thức này về mọi mặt.  Nhưng nếu hiểu được người trí thức ở ta là thế và được nhào nặn như thế, chúng ta sẽ độ lượng với họ hơn với nghĩa… bớt hy vọng ở họ hơn.

5 thg 11, 2018

Quản lý đô thị : Cơ sở lý luận cho việc bác bỏ thứ dân chủ hóa một cách dung tục


Trong các nhận xét của  Nguyễn Huy Tưởng mà tôi đã nêu ở bài trước Những thay đổi  đã đến với  Hà Nội từ sau 1954:Tính nghiệp dư trong quản lý, thì cái nhận xét có liên quan đến nhân sự “con sen trở thành đại biểu khu phố”có lẽ là quan trọng nhất.
Nó đề cập tới nhân tố hàng đầu khiến cho Hà Nội từ một thành phố thanh lịch văn minh trở thành một thành phố nham nhở nhếch nhác, một thành phố tầm thường và đi đầu trong việc học đòi ăn chơi như chúng tôi đã nói.
    Người ta có thể bảo sự tức giận của Nguyễn Huy Tưởng là hoàn toàn có lý nếu đứng trên bình diện cảm tính – nghĩa là một người có lương tri bình thường cũng dễ cảm thấy.
     Nhưng điều này cũng đúng nếu dùng đầu óc để suy đoán và truy tìm lại sách vở kim cổ để có chỗ dựa.

Quản lý Hà Nội sau 1954, tính nghiệp dư và tinh thần dân chủ dung tục


    Sau Cải cách ruộng đất, nhiều nông dân được chia quả thực, có khi là cả một phần những cơ ngơi nhà cửa và những đồng đất bờ xôi ruộng mật của địa chủ.
    Nhưng nhiều người trong họ, nhất là những người được chia đậm, lại là những người chưa có của cải bao giờ, họ không biết làm chủ.
    Không những dốt nát kém cỏi, không biết làm cho của cải sinh sôi nẩy nở, mà có khi một số người này còn rơi vào cảnh rượu chè cờ bạc, đến mức bán cả nhà cửa và đẩy vợ con vào cảnh nghèo khó như cũ.

1 thg 11, 2018

Sự tiếp nhận Kim Dung ở Việt Nam sau 1975 -- phác thảo tình hình và những lý giải sơ bộ



 Tham luận tại một cuộc hội thảo về Kim Dung 
 được tổ chức ở Trung quốc 2003


      TÌNH HÌNH TIẾP NHẬN TRƯỚC 1975 : Sài Gòn (thủ phủ của miền Nam Việt Nam trước ngày Việt Nam thống nhất) là một thành phố có đông Hoa Kiều. Giữa Sài Gòn với Hồng Kông lúc đó đã có sự thông thương rộng rãi bao gồm đủ loại  hàng hoá cả vật chất lẫn  tinh thần: Sự xuất hiện ồ ạt các loại sách chưởng với các tác giả như Cổ Long, Ngoạ Long Sinh, Nghê Khuông, Nhược Minh, Nam Kim Thạch, Điền Ca, Độc  Cô Hồng ở Hồng Kông vốn lây  lan rất nhanh  khắp  các thành phố  Hoa Kiều ở Đông Nam Á thì đến Sài Gòn cũng được  đón nhận một cách hào hứng  (Chẳng hạn  trên 10 bộ sách chưởng của Cổ Long đã  được  xuất bản ).

31 thg 10, 2018

Ngoài trời lại có trời -- về truyện chưởng của Kim Dung


I. Đặt chưởng vào trong dòng chảy liên tục của tiểu thuyết Trung Hoa
Khi đi vào nghiên cứu lịch sử bộ môn tiểu thuyết, không hẹn mà nên, các nhà nghiên cứu ở phương đông lẫn phương Tây nói chung đều xác nhận rằng thật ra, ban đầu thể tài này là một thứ văn chương bị coi rẻ và chỉ dần dần, trong quá trình lâu dài của lịch sử, nó mới trưởng thành để trở nên ngang hàng với các bộ môn nghệ thuật khác.

26 thg 10, 2018

Hà Nội tháng 2 -1973



4/2

     Trong lúc này vẫn không thể quên được các vấn đề cơ bản như vấn đề  trí thức.
    Nhàn: Tôi khổ tâm lắm. Tôi không dám tin gì cả.
   Khải: Tất nhiên, mọi chuyện ngày mai có thể là vẫn thế thôi. Nhưng tôi cũng mong rằng ông sai, tôi sai, nghĩa là mọi chuyện lại thay đổi theo kiểu khác. Ví dụ như về các chuyện hòa bình này nhớ.

24 thg 10, 2018

Nhật ký 1973 - những ngày hòa bình đầu tiên


  Việc chờ đón Hiệp định Paris là nội dung chính của những trang nhật ký 1973 của tôi, và đã được đưa lại trên blog này ở địa  chỉ
https://vuongtrinhan.blogspot.com/2013/01/cho-on-hiep-nghi-paris.html

Từ hôm nay tôi chỉ muốn bạn đọc chia sẻ lai những cảm giác mà tôi đã sống trong nửa năm hòa bình đầu tiên.


24/1
     Hoà bình ư? Nhưng anh nên nhớ rằng tất cả mọi người chung quanh đều vẫn là những người cũ. Đó là ý nghĩ đầu tiên của tôi về hoà bình, một trong những ý nghĩ thuộc loại cay đắng.

17 thg 10, 2018

Làm và nghĩ. Bế tắc và lẩn trốn trong tuyệt vọng

TẤN KỊCH KÉO DÀI

CỦA TÌNH TRẠNG LÀM LIỀU MÀ KHÔNG HIỂU BIẾT

Sau ngày 30-4-75, nhiều cán bộ miền bắc được phân công vào miền nam làm việc, bên cạnh một số nhỏ thạo việc, thì một số hiện ra như những người quê mùa, thiển cận, không hiểu biết và do đó không thích ứng được với một Sài Gòn năng động.

Số người này ngày càng đông, họ nghĩ ra mọi lý lẽ tự biện hộ để tiếp tục làm liều rồi nhanh chóng sa đà trong cảnh ăn chơi hưởng thụ và trượt dài trong cuộc tham nhũng.

Có nhiều cách giải thích về chuyện này nhưng tôi nhớ hơn cả cái ý của nhà khoa học Trần Đại Nghĩa trong một buổi nói chuyện ở Thư viện quốc gia ở Hà Nội 1976:

-- Có gì lạ đâu. Hãy hình dung xã hội miền nam như một cỗ máy, nhiều anh em vào đấy mà không được chỉ dẫn trước rằng cỗ máy đó hoạt động ra sao, thành ra nhiều khi họ cho cả tay vào, vừa hỏng máy vừa hỏng người, nhưng khách quan mà xét không trách họ được. Tại chúng ta chỉ kéo họ làm mà không giúp cho họ suy nghĩ thậm chí cấm họ suy nghĩ.

Không chỉ đối với việc quản lý miền nam sau 75 mà hầu như trong mọi việc chúng ta làm từ sau 45 chúng ta đều rơi vào tình cảnh phải làm những công việc mà bản thân chẳng hiểu gì cả.

Làm liều làm ẩu nghe qua loa rồi bắt tay làm, tự mình gán cho công việc của mình những ý nghĩa sang trọng.

Rồi lại mang nhau mà khen thưởng và phong tặng cho nhau đủ loại danh hiệu và lấy làm bài học truyền lại cho thế hệ sau.

Một kết quả rõ rệt của lối làm ăn chỉ biết có nhiệt tình và nhắm mắt làm theo lệnh trên này là nó làm hỏng con người. Chống lại thì lại nẩy sinh những bi kịch mơí.

BẾ TẮC

Tôi không biết có một dân tộc nào mà lại khuyến khích người dân của mình uống bia uống rượu. Thời trước hễ có ai đến rủ những người đàn ông đi chè chén chơi bời, thì những người đàn bà trong gia đình có thể đến tận nhà người rủ chồng mình làm bậy kia mà chửi rủa và tất cả làng xóm đều đứng về phía người đàn bà đã sáng suốt bảo vệ chồng con mình, gia đình mình.

Còn ngày nay không còn những người đàn bà như vậy, và nếu có thì chị ta lại bị coi là không thức thời, không biết hưởng thụ cuộc đời. Nay là lúc con người hoàn toàn bất lực trước cái xấu. Các gia đình vốn có cấu trúc chặt chẽ trong xã hội cũ nay trở nên lỏng lẻo, không đủ sức giữ con người xa lánh cái xấu và khi đã xấu thì khó có dịp hối cải trở lại với sự lương thiện.

Tôi vốn cơ địa không cho phép mình uống rượu và bẩm sinh có chút khổ hạnh, nên có thể những lời bàn ở đây hơi cổ lỗ không thức thời.

Nhưng tôi vẫn thấy cần phải nói vì tôi đoán có nhiều người cũng nghĩ như tôi mà chưa tiện nói.

Tình cảnh quá nhiều người sa vào rươu chè quên đời như hiện nay là một tai vạ cho dân tộc.Bởi lẽ từ chỗ chơi bời trụy lạc sẽ sinh nhiều thói xấu khác.

Tuy nhiên cứ thấy thật ra ở đây phải có thái độ nước đôi, có cả phê phán nhưng cũng có thể nói là cần thông cảm.

Tôi tin nhiều người trong họ đã có lúc muốn sống tử tế, nhưng gặp nhiều chuyện bất lực nên tìm cách giải buồn rồi cứ thế không còn làm chủ được mình. Với những tình cảnh trụy lạc hư hỏng khác cũng vậy, cần thấy có nguyên nhân khách quan tác động. Khách quan không khuyên giải, khách quan còn đẩy người ta  xuống vực.

 Một xã hội đẩy rất nhiều người từ tốt sang xấu - dưới mọi hình thức - như ta đang thấy hiện nay phải gọi đích danh là một xã hội phi nhân bản.








14 thg 10, 2018

Tổ chức và quản lý xã hội ở nước ta thời trung đại ( phần 2 )



Bài đã đưa trên blog này 26-2-12

Việc quan hỗn hào lẫn lộn
   Các cụ ngày xưa quá tin vào sự nhiệm màu của đạo Khổng. Họ tưởng rằng lầu thuộc Tứ thư, Ngũ kinh, học hết mấy pho sử, làm được câu thơ bài phú là có đủ đức hạnh để dạy dỗ dân, đủ tài kinh luân để đưa dân đến cõi hạnh phúc. Họ tưởng rằng đã là sĩ phu, thì là một người hoàn toàn, một đấng thánh hiền, nên họ mới phó thác cho trách nhiệm quá nặng.

13 thg 10, 2018

Tổ chức và quản lý xã hội ở nước ta thời trung đại ( phần 1)


Bài đã đưa trên blog này 26-2-12
    
 Nếu dùng văn hóa theo nghĩa rộng thì việc tổ chức và quản lý xã hội là thuộc về văn hóa quyền lực.
   Nhưng đây là khâu các nhà cầm quyền chưa bao giờ đặt ra một cách bài bản. Trong việc tiếp nhận văn hóa Trung Hoa, cái chúng ta chỉ thích học theo là thơ văn hoặc thi cử, còn chính việc quản lý xã hội thì không để ý hoặc chỉ làm theo lối học tắt học lỏm.
     Các bộ sử ít ỏi viết thời sau cũng chưa bao giờ  được viết với tư cách những cuốn lịch sử xã hội.

12 thg 10, 2018

Thời đi học


Trong các tài liệu liên quan đến tiểu sử, tôi khai quê ở Đông Hồ, Thuận Thành, Bắc Ninh, nhưng lại khai nơi sinh ở Hà Nội. Đầu đuôi là thế này.

9 thg 10, 2018

Những chỗ yếu của dân ta khi tiếp xúc với văn hóa nước ngoài (phần2)




 Ý kiến của một số trí thức Việt Nam đầu thế kỷ XX

Bắt chước không phải lối
     Tính bắt chước vốn là tính tự nhiên của loài người, dẫu ở nước nào cũng thế cả. Nhưng giá ta có sẵn cái tinh thần tốt rồi chỉ bắt chước lấy những điều có bổ ích thêm cho tinh thần ấy thì thật là hay lắm. Chỉ hiềm vì mình để cái tinh thần của mình hư hỏng đi, mà lại mong bắt chước sự hành động của người ta thì sự bắt chước ấy lại làm cho mình dở hơn nữa.
    Vì đã gọi bắt chước là chỉ bắt chước được cái hình hài bề ngoài mà thôi còn cái tinh thần ở trong, phi(1) lâu ngày nhiễm (2) lấy được mà hoá (3) đi thì khó lòng mà bắt chước được. Thành thử bao nhiêu những sự bắt chước của mình chỉ là làm loạn cả tính tình tư tưởng và phong tục của mình.
     Có lắm người vọng tưởng (4) rằng mình cố bắt chước được người ngoài là mình làm điều có ích cho sự tiến hoá của nòi giống. Không ngờ rằng sự bắt chước vội vàng quá lại thành cái độc gây ra các thứ bệnh cho xã hội. Mà sự lầm lỗi ấy chỉ mỗi ngày một thêm ra chứ không bớt đi được.

 (1) không phải
 (2) thâm nhập
 (3) thay đổi. Từ điển Hán Việt của Thiều Chửu ghi: phàm vật này mất đi mà vật kia sinh ra gọi là hoá
 (4) nghĩ lầm

 Trần Trọng Kim
 Nho giáo, 1930

8 thg 10, 2018

Những chỗ yếu của dân ta khi tiếp xúc với văn hóa nước ngoài ( phần 1)


 Ý kiến của một số trí thức Việt Nam đầu thế kỷ XX

      Đằng sau câu chuyện về tính ưa dùng hàng ngoại, thật ra có ẩn dấu những vấn đề lớn lao của mối quan hệ giữa cộng đồng người Việt mình với các cộng đồng mà chúng ta có tiếp xúc trong suốt trường kỳ lịch sử.

5 thg 10, 2018

Trở lại với một cuốn sách của GS Vĩnh Sính

Nguyên là bài  Có một căn bệnh gọi là “ Dạ lang tự đại “ 
đã đưa trên blog này 28-2-2009

Nhiều người Việt sống ở nước ngoài đã chia sẻ với chúng ta cảm giác thương mến nhớ nhung khi xa Tổ quốc. Nhưng bên cạnh đó, những ngày gần đây, chúng ta còn nhận được những lời tâm sự kín đáo và những suy nghĩ thâm trầm hơn.
Như trường hợp Vĩnh Sính (1944 - 2014) giáo sư đại học Alberta, Canada. 
Tập sách Việt Nam và Nhật Bản giao lưu văn hoá (1) của ông có nội dung khá phong phú.
Có bài khái quát Vị trí lịch sử của Trung quốc đối với Việt Nam và Nhật Bản hoặc đề cập tới Trục giao lưu văn hoá Nhật Bản Trung quốc Việt Nam vào đầu thế kỷ XX.
Có bài giới thiệu về các nhân vật của lịch sử Nhật như Fukuzawa Yukichi và Asaba Sakitarô .
Có bài so sánh những bản điều trần của Nguyễn Trường Tộ với những đề án có tính cách khải mông của những học giả trong hội trí thức Meirokusha.
Điều đáng nói là ở đó người ta bắt gặp mấy đoạn ghi nhận về một khía cạnh còn đang ít được nói tới trong tâm lý dân mình, nhưng lại rất thiết yếu với công cuộc hội nhập đang được khởi động.
Lời nhắn nhủ của Vĩnh Sính bộc lộ trong ba trường hợp :
1/ Thiên kỷ III đang mỉm cười là mấy trang sổ tay, ở đó Vĩnh Sính chỉ kể lại ít điều ông ghi nhận được từ một hội nghị văn hoá châu Á tổ chức ở Hàn quốc vào tháng 11-1998. Khi bàn về giáo dục, trước hết ông nhắc lại ý kiến của học giả Trung quốc Hà Phương Xuyên là để vươn lên tầm thời đại, các dân tộc châu Á cần chuẩn bị hành trang cho cuộc giao lưu văn hoá. Rồi ngay sau đó ông dừng lại khá kỹ ở một thứ chủ nghĩa quốc gia văn hoá, hay gọi đích danh ra là một thứ “chủ nghĩa sô-vanh văn hoá ” cần phê phán.
Nguyên đây là một ý trong bài phát biểu của giáo sư Hàn quốc Park Seong Rae bàn về Hội chứng độc lập (independence syndrome) hay nói nôm na là “ bệnh độc lập ” của đồng bào mình.
 Theo Park Seong Rae “ nếu người Hàn quốc càng nhấn mạnh độc lập văn hoá của nước họ đối với các nước láng giềng ( Nhật Bản và Trung quốc ) -- chẳng hạn như cảm xúc nghệ thuật độc đáo của người Hàn quốc -- thì chính bản thân họ lại càng phải chịu thiệt thòi nhiều hơn ” (tr 336).
Liên hệ tới Việt Nam, Vĩnh Sính viết “ Hội chứng độc lập trong con người Việt Nam cũng khiến đa số chúng ta thiếu tinh thần tiếp thu những điều hay cái lạ của các nền văn hoá khác, đồng thời chỉ thích nói về những gì hay ho ưu việt trong văn hoá Việt Nam hơn là nói ra những khuyết điểm của mình để sửa chữa.
Hội chứng độc lập cũng khiến ta thiếu tinh thần khách quan khi buôn bán làm ăn hay giao lưu với nước ngoài, chỉ biết mình nhưng không biết người ” ( tr. 337).

2/ Bài viết về Shiba Ryôtarô ( 1923-1996 ) giới thiệu một trong những tác giả đại diện cho nước Nhật và một trong những người viết sử có ảnh hưởng nhất ở Nhật. Ông này có viết riêng một cuốn sách phân tích quá trình lịch sử Việt Nam. Theo ông ở Việt Nam, “ làng xã vẫn là một đơn vị xã hội có tầm quan trọng hơn nhà nước “(tr 280), và đó là một nhân tố gốc, nó quy định trình độ phát triển của xã hội Việt.
Trên đường đi vào tâm lý dân tộc, nhà nghiên cứu Nhật cho là người Việt có một số căn bệnh chưa biết bao giờ mới chữa nổi, như cái tình trạng thiếu tinh thần hợp tác với nhau để làm việc chung ; đặc biệt, theo Shiba Ryôtarô, một khuynh hướng của người Việt là “ xem dân tộc mình ưu việt so với người dân tộc khác ” ( các tr 288 –289), do đó là một sự cản trở đối với việc học hỏi và chung sống với thế giới.

3/ Một dịp khác, Vĩnh Sính dừng lại ở câu chuyện về một nhân vật của thế kỷ XVII. 
Đó là Chu Thuấn Thuỷ (1600-1682) một trí thức Trung quốc sống ở thời nhà Minh bị Mãn Thanh xâm chiếm.Trong quá trình vận động phản Thanh phục Minh, có mấy lần Chu đã lưu lạc sang Việt Nam. Chính quyền đương thời tức các chúa Nguyễn ở Đàng Trong đã có lúc tính chuyện dung nạp ông, nhưng việc không thành, về sau Chu sang ở hẳn Nhật, trở thành một trí thức có công giúp đỡ cho việc đưa nước này vào một giai đoạn hưng thịnh.
 Những ngày làm việc với người Việt được Chu ghi lại qua tập sách mỏng An Nam cung dịch kỷ sự (Ký sự về việc phục dịch ở An Nam, 1657).

Dưới con mắt Chu, xã hội Việt Nam hiện ra với những nhược điểm cố hữu của một cơ chế khép kín ít tiếp xúc với bên ngoài. 
Ngay với thế giới Trung Hoa tưởng là quá quen thì hiểu biết của người Việt cũng rất hạn chế. 
Vừa gặp Chu, các nha lại địa phương đã giở trò hống hách, bắt người ta lạy, hỏi người ta bằng cấp gì, và nếu không có bằng cấp thì lập tức rẻ rúng. Đúng là cái bệnh quá quê mùa và hay chấp nhặt mà ngày nay chúng ta còn bảo lưu khá đầy đủ !
Đến như những câu chuyện mà các bậc gọi là thức giả bấy giờ quây vào hỏi Chu Thuấn Thuỷ thì phần lớn cũng là chuyện tầm thường. Sự yếu kém trong đời sống tinh thần của xã hội bộc lộ ở nhiều mức độ. 
Thứ nhất là lối học chỉ hớt lấy những cái lạ mà thiếu cơ sở học thuật, một sự ngây thơ trong tư duy khiến đương sự phải cười thầm “ Người quý quốc đọc những truyện như Tam quốc diễn nghĩa hoặc Phong thần mà cả tin là thật, cứ đến đây hỏi tôi hết chuyện này sang chuyện khác mãi không thôi. [Trong khi ấy thì lại bỏ qua không nghiên cứu những sách kinh điển như Ngũ Kinh, Tam sử ]. Tựa như bỏ vàng ngọc mà chọn gạch đá, nhổ lúa xanh mà trồng cỏ tranh, không hiểu cái gì phải lấy, cái gì phải bỏ ” (tr.393). 
Thứ hai là mê muội vì những trò mà nói theo thuật ngữ hiện đại là văn hoá tâm linh. “ Nhưng tại sao chư quân tử từ trên xuống dưới lại cứ đến đòi xem tướng số. Hỏi thật không nhằm chỗ, đến cuối cùng không biết là đã làm nhục Du (Tức CTT). Người coi tướng, người xem sao đông biết bao nhiêu mà đếm cho hết. Trong tứ dân (tức sĩ nông công thương -- Vĩnh Sính chú) và chín học phái (tức cửu lưu : Nho gia, đạo gia, âm dương gia vv… Vĩnh Sính chú ), họ là hạng người thấp hèn nhất. So họ với nhà nho có đức nghĩa, khác xa một trời một vực, như đen với trắng, như nước với lửa, hoàn toàn tương phản ” (tr 392).


 Sau hết, Chu cho rằng xứ này “ tuy là nước nhỏ, nhưng khí kiêu ngạo, học vấn nông cạn, kiến thức có giới hạn, tuy có thể tuyển chọn được người tài năng trong nước Dạ Lang của mình, nhưng không tránh được vẻ ếch ngồi đáy giếng ” (tr.401).
Theo ghi chú của Vĩnh Sính, “ nước Dạ Lang ” nói ở đây là một ẩn dụ, bắt đầu từ câu chuyện có thật về một nước nhỏ thời Hán, trong giao thiệp với thiên hạ mắc bệnh hoang tưởng, từng tranh luận với các sứ giả quanh chủ đề “ nước Dạ Lang so với Trung Quốc bên nào lớn bên nào nhỏ ”. Dạ Lang tự đại đã thành một thành ngữ có ghi cả trong các từ điển phổ thông như Tân Hoa, Tứ giác, chuyên để chỉ những cộng đồng quen sống biệt lập nên không có ý thức đúng đắn về vị trí của mình trên thế giới.


Trên đây là một trong những điều tâm đắc nhất tôi cảm nhận được khi đọc Vĩnh Sính. Cảm hứng sâu sắc về đời sống tinh thần xã hội Việt Nam hôm nay đã giúp cho tác giả có cách khai thác lịch sử hợp lý, và lời đề nghị ông muốn gửi gắm sau các trang viết cũng đã rõ, vấn đề chỉ còn là ở chỗ chúng ta có chia sẻ và chấp nhận , để rồi cùng bắt tay vào việc đi tìm những di lụy của nó trong những công việc trước mắt và tìm cách “gỡ rối “… hay không thôi .
 (1) Nhà xuất bản Văn nghệ TP HCM và Trung tâm Nghiên cứu quốc học xuất bản, 2001 . Những số trang ghi trong bài đều dựa theo bản in trên.

30 thg 9, 2018

Chung quanh câu chuyện đổi mới nhận thức lịch sử

Được viết đã 27 năm trước,
 bài viết sau không tránh khi nhiu chi tiết lc hu.
Nhiều thiếu xót nêu trong bài nêu ra đã được sửa chữa.
Nhưng tôi tin rng
quan niệm lâu nay về chủ nghĩa yêu nước và
chủ nghĩa nhân đạo --trong văn hc s nói riêng và s nói chung --
 vn đang cần bàn lại; việc cố thủ trong những quan niệm cũ đó chính là một trong những nguyên nhân làm cho sử ta không thích ng vi sự phát triển.


Bài đã in trên blog này ngày 28-11-2015

 Tạp chí Văn học số 6 - 1990 đăng bài Đổi mới nhận thức lịch sử trong nghiên cứu khoa học xã hội nói chung, nghiên cứu văn học nói riêng của Nguyễn Huệ Chi.  Trên nét lớn chúng tôi tán thành các ý kiến của tác giả bài báo và muốn nhân đây, bàn thêm về một vài căn bệnh mà một số tài liệu liên quan tới lịch sử văn học thường mắc phải, nó là lý do khiến cho các công trình nghiên cứu đó ít sức thuyết phục và cả ngành lịch sử văn học trì trệ, chậm phát triển.

24 thg 9, 2018

Trong sự suy đồi của nghề thầy, cả xã hội cùng có lỗi

     Bài đã đưa trên blog này ngày 19 - 11- 2015       

Trên báo Tuổi trẻ số ra 4-11-15  có bài viết của một giáo viên mang tên Còn đâu "thương cho roi cho vọt"?
Lâu nay ta thường nghe những lời xã hội ca thán các giáo viên. Rằng thời nay không còn những người thầy như xưa. Đờì sống càng đi lên phẩm chất những người đứng trên bục giảng càng sa sút.
Trước các lời bình luận ấy, không thấy các thầy kháng cự trở lại gì cả - đây tôi nói theo chỗ tôi đọc được. Có vẻ như các thầy trong bụng cũng chấp nhận.

22 thg 9, 2018

Ba đoạn ghi ngắn về giới trí thức

HÃY CHUYỂN BIẾN SỚM HƠN 
 Khi ông Phan Đình Diệu qua đời, ngoài các công trình khoa học,  người ta nhắc đến những phát biểu của ông, về các vấn đề chính trị xã hội rất trực tiếp. Những phát biểu đã hai mươi năm trước này đã gây cho ông bao phiền phức khi đang sống nhưng lại là cái điều người ta trân trọng nhất trong cái nhìn của một trí thức.
          Còn khi ông Phan Huy Lê qua đời,  bè bạn và những người yêu mến ông thích nhắc tới những phát biểu mới nhất của ông về sử Việt Nam, như vấn đề triều Nguyễn, vấn đề nhà nước của người Chàm ở miền Nam Trung Bộ, và nói chung là sự có mặt của các dân tộc ngoài người Kinh trên lãnh thổ Việt Nam...

20 thg 9, 2018

Ba năm hai trường đại học sư phạm ( hồi ký)

     
    Năm 1961,  học xong lớp 10 trường Chu  Văn An, nơi tôi mơ ước là khoa Văn Đại học  tổng hợp. Nhưng tôi thi trượt, và nói nôm na là bị “tống khứ “ vào Đại học Sư phạm Vinh, chỉ giữ nguyên được cái nguyện vọng  học văn.

17 thg 9, 2018

Trường Chu Văn An và niên học 1955-56 (hồi ký)


Trước 10-1954, gia đình tôi ở một ngõ nhỏ trong phố Thụy Khuê – quãng giữa Sở xe điện và Nhà máy giặt. Những năm còn học ở trường tiểu học Thụy Khuê, tôi đã được nghe nói nhiều về Trường Bưởi. Với lòng ngưỡng mộ của tuổi học trò, nhiều phen ngồi tàu điện xuôi ngược Chợ Bưởi — Đồng Xuân, tôi không khỏi liếc mắt về dãy nhà nằm bên Hồ Tây của Chu Văn An cũ.

16 thg 9, 2018

Nguy cơ trở thành bãi thải của thế giới hiện đại


Từ gần hai chục năm trước sau khi viết xong bài viết dưới đây tôi sớm cảm thấy  là một thất bại nên hạn chế trong việc chia sẻ với bạn đọc.
Nhưng trong những ngày này tôi cảm thấy có thể cách giải quyết mà tôi đề nghị chưa ổn , nhưng vấn đề tôi đặt ra là có thật, bởi vậy vẫn muốn đưa lại với tính cách một phiếm luận.
Tôi sẽ có thêm mấy dòng tâm sự ở phần cuối.
Nhưng trước hết mời các bạn cùng đọc.

VĂN MINH TÚI NY LÔNG
Chúng tôi đã được biết thứ túi đa năng này ngay trong những năm chiến tranh. Dạo ấy, ny-lông còn là của hiếm. Bằng cách nào đó, nhỡ ra có lần có được một cái túi, thì bất cứ to nhỏ thế nào, cũng phải giữ lại để giặt đi phơi khô rồi dùng tiếp, và nói chung là dùng nhiều lần đến khi nó rách hẳn.
Nay thì túi ny lông các cỡ to nhỏ rất sẵn và được dùng trong nhiều việc.

14 thg 9, 2018

Trong thế giới hiện đại cách hiểu về lòng yêu nước đã thay đổi



Nguyên là bài Cách nghĩ hiện đại 
đã đưa trên blog này ngày 10-5-2017

1/Nghịch lý "một viên tướng phải nghĩ tới cách đi theo đối phương"?!
"Từ điển danh ngôn thế giới" do Lưu Văn Hy biên soạn bản của nhà Tổng Hợp TP HCM 2006 có một ưu điểm, so với một số cuốn khác tôi đã đọc.
Ở đây, tác giả chọn được ra nhiều câu nói thú vị có liên quan đến đời sống chính trị hiện đại.
 So với tư tưởng cổ điển, nó mang nhiều chất nghịch lý, không xuôi chiều, nhưng lại có vẻ đúng với tình hình đương thời.
 Chẳng hạn, sách có dẫn lời nhà văn Mỹ Henry Brooks Adams (1838 – 1918) từng chỉ ra một khía cạnh của nghề chính trị: “Làm chính trị, trên thực tế, bất luận trong lĩnh vực nào, luôn luôn là việc tổ chức một cách có hệ thống lòng căm thù.”(tr 12)

11 thg 9, 2018

Người trí thức khác với người làm khoa học thuần túy ở chỗ nào?


Trong một bài viết về lòng yêu nước trên trang  FB cá nhân 8-9-2018, tôi có nhắc tới một ý

Nếu bề ngoài, xã hội Việt Nam là do người Việt Nam làm chủ mọi phương diện, nhưng trong kinh tế, là yếu tố căn bản của một xã hội lại do người nước ngoài định đoạt, thì sự độc lập kia cũng chỉ là giả tạo.

Ý này không phải do tôi nghĩ ra mà do nghe được trong một buổi nói chuyện rông rãi của Trần Đại Nghĩa ( 1913-1997).

9 thg 9, 2018

Cát nhìn của những người lính già về hậu phương - Nhật ký Quảng Trị 7 - 9 / 1973 kỳ 9


Đến những năm này lính thiếu quá phải vơ vét ở cả lứa tuổi trên dưới 30, nhiều lính già đã là những  cán sự ở các cơ quan miền bắc. Đó là đặc điểm riêng của QTrị .Tôi có kinh nghiệm loại lính này nói rất hay về hậu phương.
 Một nhân vật bóng hình của tôi: Nghĩa.
Hòa bình rồi câu chuyện chúng tôi có thể khá dềnh dàng.

6 thg 9, 2018

Nguyễn Minh Châu:Không đến được với chủ nghĩa nhân đạo, anh không viết được về chiến tranh đâu.


Tuy chưa thể hiện hết những ý tưởng của mình,
nhưng những quan niệm dưới đây của tác giả Dấu chân người lính
đã có nhiều chỗ trùng hợp với quan niệm của các nhà văn các nước khác mà
 vì đóng cửa lâu dài , không được đọc nên chúng ta không được biết.
Tôi đã ghi lại những ý này sau những buổi trò chuyện với tác giả trước 1975
Xem các bài trong blog này cuối 2015 .
 https://vuongtrinhan.blogspot.com/2015/12/nguyen-minh-chau_11.html

Xã hội học chiến tranh


Ghi chép từ công trình nghiên cứu xã hội học Nga       
    


             
 Xã hội học chiến tranh

      Bản tiếng Nga của  V.V. Serebryannikov
Tác giả sách là giáo sư tiến sĩ khoa học triết học .Sách nằm trong chương trình nghiên cứu của  Viện nghiên cứu xã hội chính trị  Viện hàn lâm khoa học nga  và Trung tâm xã hội học các vấn đề anh ninh quốc gia
Nhà xuất bản Thế giới khoa học , Moskva, 1977

                                        
Lời dẫn
               Nếu đọc bài viết Bối cảnh lịch sử Việt nam giai đoạn 1558-1802 tập san Nghiên cứu Huế tập VII, NXB Thuận Hóa 2010, ở tr 93-95, người ta sẽ  thấy nhà sử học Nguyễn Hữu Châu Phan cho biết :
             “Họ Nguyễn trong lãnh thổ Đàng Trong từng dùng chính sách táo bạo” biến hết dân làm binh”.
“Một tu viện trưởng là Choisy, đến Đàng Trong vào năm 1656 nhận xét “Người Đàng trong chỉ sống với chiến tranh.”
“Thích Đại Sán, một nhà sư Trung quốc cũng có mặt thời ấy thì ghi nhận là trong nước[ Đàng Trong] , hay bàn việc võ bị, chẳng chuộng văn đức’

5 thg 9, 2018

Nhật ký Quảng Trị 7 - 9 / 1973 kỳ 8



 Ông Nhĩ kể : Tôi vào một gia đình, ông chủ nhà 50 (ở đây  chỉ còn đàn ông  trên 50) ông làm một hầm thật oách. Tôi bảo ông nên phân chia gia đình ra. Ông bảo tôi không sợ. Tôi trông tướng ông rất thọ. Mà ông ở nhà tôi thế này, lo gì nữa. Quả thật, lâu nay nhiều nhà trong xóm bị vướng bom lu bù, nhưng nhà ông này không việc gì. Đến một hôm đang ngồi, thì có tiếng bom. Tôi chỉ kịp chui xuống  một cái hầm ở ngoài sân. Lúc lên, thì thấy cả cái nhà cũ đã bật đi. Không còn dấu vết gì. Không biết là loại pháo gì. Tôi không còn biết nói thế nào nữa.

3 thg 9, 2018

Lưu Quang Vũ - một kiểu nghệ sĩ chuyên nghiệp riêng của thời đại chúng ta


Những ý nghĩ khác nhau

về cuộc đời và sáng tác của Lưu Quang Vũ



Trong dịp kỷ niệm 40 năm ngày mất của Lưu Quang Vũ tôi không viết được gì mới chỉ trích trong sổ tay những ghi chép về anh hồi mấy năm 67 – 75 chỉnh lý lại một chút rồi đưa lên mạng. Cạnh đó thì được in lại một bài  cũ của tôi về thơ Vũ tôi viết từ 1993. Thật tình là tôi cũng rất ưng ý bài viết đó: Tôi có cảm tưởng đã nói được cái phần đóng góp chủ yếu của Lưu Quang Vũ về văn học và tôi tin là không phải là kịch mà chính là các bài thơ có tính chất “viển vông, cay đắng, u buồn” của Vũ viết trong những năm chiến tranh mới là cái phần ở lại với lịch sử.

2 thg 9, 2018

Nhật ký Quảng Trị 7 - 9 / 1973 kỳ 7


 Loanh quanh nghe chuyện anh em ở Tích Tường, Thanh Hội, Gia Đẳng
Ngày ngừng bắn, lính địch kêu lên: Chúa ơi, thế là con sống rồi! Sang gọi lính mình, ngồi cả vào xe tăng. Chỉ sau 5 phút, 2 bên đã mời nhau hút thuốc.
Hôm sau ra thấy lính địch vẫn nằm đó. Nhiều muỗi. Thấy những cành lá động đậy. Mới đầu tưởng là gió. Sau trích nhẹ, một thằng lại bật dậy. Thằng này làm nũng, đòi cõng. Pháo bắn đến, nó chạy được, không phải cõng nữa. Đòi ăn phở, ăn cháo gà, không ăn cơm. Không ăn thì nhịn..
Cát trắng. Quần áo xanh nổi lên rất rõ

29 thg 8, 2018

Nhật ký Quảng Trị 7-9/1973 - kỳ 6


Trong những vấn đề có ý muốn tìm hiểu, tôi định hỏi thêm về tâm lý người chiến sĩ trong những năm này - tâm lý người cán bộ, người thanh niên. Ở họ, bước đầu tiếp xúc với xã hội miền Nam - bước đầu trở thành “con người suy nghĩ!”.
Lẽ sống. Những dấu vết của cuộc chiến năm 1972, trong đời sống người lính, cũng như người dân. Ký ức cay đắng.

27 thg 8, 2018

Đâu là nguyên nhân mọi yếu kém của người Việt ?

Bài đã đưa trên blog này ngày 30 - 10 - 14


Trên FB Nhân Thế Hoàng, hôm nay 30-10-2014, tôi đọc thấy đoạn văn sau đây:
Nhiều bạn bè trong nước cứ chê rằng: Người Việt mình xấu xí, lười nhác, giỏi làm thầy hơn làm thợ nên đất nước mới không phát triển chứ không phải do đường lối chính sách, vì đường lối chính sách đưa ra là đúng chỉ do người thực hiện không làm đúng theo chỉ thị mà thôi. 

26 thg 8, 2018

Nhật ký Quảng Trị 7-9/1973 - kỳ 5

Xem kỳ 1 từ 28 - 7

Bữa ăn ở đội du kích,
Một đội du kích ở một mảnh đất sót lại của một huyện, cả huyện phải bỏ cho nó, chỉ có xã đây, ta ghé chân được.

24 thg 8, 2018

Chuyện quanh Hội nhà văn hồi trước 30-4-75 -- kỳ 8


1974

30/6
 Cùng một lúc, trong văn học có từng này chuyện.
Thứ nhất Cây táo ông Lành  in Văn nghệ 1-6. Coi như phạm huý. Và bắt đầu thì cũng bằng đồn thổi. Người ta suy ra: Tại sao lại có sự trùng hợp đến kỳ lạ giữa các tên tuổi. Rồi những chi tiết tổ kiến, cái nhà đổ...
Hoàng Cát đi đâu cũng bị người ta... từ chối không tiếp. Gặp Ng Khải: Tôi là Hoàng Cát đây, tác giả Cây táo ông Lành đây. Ng Khải: ông làm gì mà cứ phải kêu toáng lên thế. Bây giờ cũng đừng nên đi đâu, đừng thanh mình, đừng gây gổ gì. Rồi sẽ qua đi thôi.

20 thg 8, 2018

Trí thức Trung quốc thế kỷ XX


Bài đã đưa trên blog này ngày 8 - 2 -2017

Dưới tên gọi Mô hình Trung Quốc thành công như thế sao không ai bắt chước?! bản dịch  bài viết của hai tác giả Châu Hữu Quang và Mã Quốc Xuyên từ nguồn Trung Quốc vừa được trang mạng Tạp chí Văn hóa Nghệ An  đưa lại ngày 26-1- 2017
Đầu đề bài viết cho thấy nhiệt tình của tác giả hướng về sự phát triển của Trung Quốc hiện nay.

Nhưng theo tôi, cuộc phỏng vấn này đã gợi ra bức tranh toàn cảnh về trí thức Trung Quốc thế kỷ XX và cả trí thức Trung Quốc sau 1976  mà chúng ta ít biết, nên đã làm việc tóm lược cho bản thân và giới thiệu sau đây.
Tôi ghi lại đường link của bài viết để bạn nào muốn đọc trực tiếp có thể tiếp cận dễ dàng.

https://www.vanhoanghean.com.vn/chuyen-muc-goc-nhin-van-hoa/nhin-ra-the-gioi/mo-hinh-trung-quoc-thanh-cong-nhu-the-sao-khong-ai-bat-chuoc

Về phần mình khi lược trích lại bài viết, tôi tự cho phép tước bỏ các ý mà tôi cho là không quan trọng và có đảo lại trình tự một đoạn vấn đáp trong phần cuối, sau đó có thêm phần bình luận ngắn . Các tiểu đề in chữ đậm là của người tóm lược.

Chuyện quanh Hội nhà văn hồi trước 30-4-75 -- kỳ 7



 Bấy lâu nay, trong sự giao lưu đến mức tối thiểu về sách báo giữa hai miền Nam Bắc, thấy hiện tượng những vị cốp của văn học trước cách mạng vẫn còn, ở cả hai bên, họ vẫn nói về nhau, trân trọng và kính phục nhau và các thế hệ sau cũng chỉ có cách há mồm ra mà ngạc nhiên. Ở trong này hay ở ngoài kia không kể, nhưng mà ai động vào bạn họ, là không được.

17 thg 8, 2018

Tìm hiểu chính sách đào tạo lớp trí thức mới của nhà nước Nga Xô Viết để hiểu trí thức được đào tạo ở Hà Nội sau 1954

Bài đã đưa trên blog này ngày 22-10- 14

Tập tiểu luận  Về trí thức Nga ( La Thành và Phạm Nguyên Trường dịch, nxb Tri thức H. 2009)  gồm có nhiều bài viết xuất sắc
+ Chân lý của triết học và sự thật của người trí thức 
+ Khủng hoảng trí tuệ và sứ mệnh của tầng lớp trí thức cả hai cùng của  tác giả N.A. Berdaev
+ Tầng lớp kỹ giả -- Alekssandr Solzhenítsyn
+ Phẩm tính trí thức -- Dmitri Likhachev
Riêng bài Bàn về  số phận của tầng lớp có học ở Nga của Sergey Kirilov thì bàn sâu vào lớp trí thức Nga sau 1917.

15 thg 8, 2018

Chuyện quanh Hội nhà văn hồi trước 30-4-75 -- kỳ 6


26/10
Theo Phan Ngọc (ngôn ngữ học) muốn nghiên cứu tiểu thuyết hiện đai, cứ nghiên cứu ông Tuân thì rõ. 1. ông Tuân viết rất chuyên về cái tôi tuyệt đối 2. ông Tuân viết bao giờ cũng rất nhiều tư liệu, đến những tay chuyên môn trong nghề, nó cũng không bịp được.
Nguyễn Khải bảo nhưng mà bây giờ đọc lại Sông Đà, thì thấy ông ấy cũng không đều tay. Nhiều chỗ cũng vớ vẩn. Trong Tuỳ bút kháng chiến cũng chỉ được từng mảng.

13 thg 8, 2018

Chuyện quanh Hội nhà văn hồi trước 30-4-75 -- kỳ 5


Xem từ 4-8-2018

1973

6/1
Những ngày vừa rồi địch bắn phá miền Bắc.
Rồi tình hình hoà đàm. Vào lúc chính trị câm lặng, tự nhiên thơ được chờ đợi. Ví như Chế Lan Viên. Đã thành  một công lệ, là người ta chờ đợi thơ Chế. Năm ngoái , bài Hè 72 bình luận rất nổi tiếng. Gần đây,Tài liệu Tham Khảo đặc biệt có tin của một nhà báo Pháp "Báo Nhân Dân là tờ báo đọc buồn ngủ ở miền Bắc. Hè vừa rồi, người ta cho đăng một bài thơ của Chế Lan Viên. Đọc bài thơ ấy, ông Sérbakov đập bàn, nói rằng: Chúng ta đã làm cho họ rất nhiều. Vậy mà họ còn nói vỗ mặt chúng ta. Và đòi lên gặp thủ tướng Phạm Văn Đồng. Còn ông Vương Ấu Bình, đại sứ Trung quốc, một người hào hoa, thì nhắc cặp kính, cười mỉm: Đúng là họ có nói về chúng ta trên trang báo..."

11 thg 8, 2018

Nhật ký Quảng Trị 7-9/1973 - kỳ 4


Trở lại với những trang ghi chép
 45 năm trước


Trong những ngày qua tôi bị tai biến liệt cả bàn tay phải. Không viết được gì mới, tôi tính việc hoàn chỉnh những tài liệu đã viết cũ để gọi là có bài trên blog. May mà càng làm tôi càng thấy hứng thú và cảm thấy có lẽ phải coi đây là công việc chủ yếu trong những ngày tới. Trước mắt, tôi chỉnh lý lại các ghi chép  hồi tôi ở độ tuổi 25-30.

9 thg 8, 2018

Nhật ký Quảng Trị 7-9/1973 - kỳ 3


Lính nói về Quảng Trị: Tỉnh 6 vạn dân, thì 12 vạn lính. 1 tấc đất, 1 cân sắt. Sỏi đá ít hơn mảnh đạn.

Rừng mít kín hai bờ sông, cả bên Thượng Phước, lẫn bên Tích Tường. Nay chỉ còn những thân cây. Những con đường tăng bị phá huỷ, đào xới (5.000 viên đạn đại bác/ngày) nay không còn là đường. 

7 thg 8, 2018

Chuyện quanh Hội nhà văn hồi trước 30-4-75 -- kỳ 4


Cuối năm 1972, Hội nhà văn đang có một chuyện quan trọng: Giải thưởng văn học 17 năm (1955-72). Việc này việc của triều đình. Khi không thì mọi người đồn đại chuẩn bị mãi chả làm được. Khi quyết làm thì làm vèo vèo một lúc là xong. Và có nhiều cái rất là mô đéc: Ví như không tính các lãnh tụ cùng là các tập hồi ký, các tập thơ của họ. Đại khái là một cuộc du hí rất vui vẻ: Rồi sẽ nhiều người được giải thưởng.
Xuân Sách: Giải có thể có những tác phẩm dở, nhưng không bỏ qua những tác phẩm hay.

6 thg 8, 2018

Chuyện quanh Hội nhà văn hồi trước 30-4-75 -- tiếp hai kỳ trước

Năm 1969, ông Chế Lan Viên rất khen bài của tôi về thơ trẻ. Ông bảo tôi làm đơn vào Hội, ông nói giữa đông anh em hẳn hoi. Đến hội nghị gần đây, ông nói toáng lên ông Vương Trí Nhàn cứ khái quát vung vít - rằng thơ hiện đại trần trụi đi. Thơ có cởi trần đâu. Thơ cũng mặc áo chứ.
Năm 1970, ông khen bài một bạn về lực lượng thơ trẻ, dù không đăng. Năm nay, cũng bài ấy, lúc thông qua bài. có bao nhiêu điểm, ông bác hết.

5 thg 8, 2018

4 thg 8, 2018

Chuyện quanh Hội nhà văn hồi trước 30-4-75



30/11/71
Sao những ngày này, ở nước mình, lại nổi lên chuyện đi nước ngoài? Chẳng phải là chuyện của văn nghệ mà là chuyện của các ngành khác. Ng Khải nhiều lần nói: gọi là nhà văn của mình thì chưa ai đi nuớc ngoài bằng tác phẩm cả. Toàn những người đi nước ngoài bằng tiếng tăm của dân tộc mình. Thế thì việc gì phải chuẩn bị. Trước khi đi, tôi còn thử định đọc cái nọ cái kia, Tô Hoài ông ấy chả đọc gì hết.

2 thg 8, 2018

Thử giải thích tình trạng lạc hậu của khoa học vã hội

Nguyên là bài viết đưa trên blog này 14-10-2013

Khoa học xã hội ở ta là thế, làm sao khác được !


Muốn  hiểu tình trạng của khoa học xã hội ở VN, chỉ cần chúc ý hai câu hỏi

-- Tại sao lớp trẻ Việt Nam ngao ngán KHXH đang dạy ở nhà trường và những đầu óc ưu tú nhất trong thế hệ các em chối từ đến cùng các ngành sử triết ..?
-- Tại sao những người cầm chịch KHXH hiện nay không ngớt kêu gào đưa trình độ của ngành lên tầm quốc tế, và càng kêu thì họ càng thấy tuyệt vọng?

Nếu không ngại lòng vòng mà lần tới các vấn đề cơ bản khác, chẳng hạn quá trình hình thành KHXH ở ta , thực chất quan niệm của xã hội về những người làm KHXH  nói chung, ta sẽ vỡ ra mọi chuyện.

29 thg 7, 2018

Nhật ký Quảng Trị 7-9/1973 - kỳ 2



  7/7
Sao tôi vẫn không sẵn sàng ở với một vùng rừng núi. Giá có phải chọn thì tôi không ưu tiên lựa chọn nó. Rừng núi Cam Lộ tôi đứng hôm nay, phơi ra cái mênh mông một vùng lì lợm. Rừng núi có che tầm mắt người ta thì mới là hợp lý. Người ta có thể quên nó đi. Người ta không bị nó vây ép - trả nó cho hư lãng là chuyện dễ hiểu. Đằng này đồi đất rộng rãi quá, đồi không cao, nhưng đồi nọ đồi kia liên tiếp và đằng sau nó là núi trùng điệp, đằng sau nó là hiểm trở và những hiểm trở ấy kéo dài vô hạn. Ở ngoài kia, nghe nói có đén mấy F ở Quảng Trị thấy đã nhiều, nhưng vào vùng rừng núi này, thấy không thấm thía gì.

28 thg 7, 2018

Nhật ký Quảng Trị 1973 - kỳ 1

2/7
Từ Hà Nội vào Vinh- cảm giác của một ngày đi ô tô là cảm giác về một đất nước nghèo.
Quãng Tĩnh Gia, Quỳnh Lưu, cây không xanh lên được, lá không ra lá, ruộng không ra ruộng. Những ga xép, tốc mái, nham nhở. Mà dù có là những mái nhà mới lợp thì trông cũng heo hút, xa lạ.

25 thg 7, 2018

Lời giới thiệu viết cho tập BÀY ONG TRONG ĐÊM SÂU của LQ Vũ -1993

Lưu Quang Vũ
và một mảng đời, một mảng thơ  
thường bị quên lãng 


Trước khi vùng vẫy tung hoành trên sân khấu, Lưu Quang Vũ đã được biết tới như một người làm thơ. ấy là một nhà thơ thuộc loại bẩm sinh, dễ dàng giãi bày mọi vui buồn của mình trên trang giấy. Những lúc mở lòng ra chan hoà tâm tình với người thân, với bè bạn, với cuộc đời, anh đã có thơ; những lúc buồn bã quay về một mình đơn độc, anh lại cũng chỉ có cách tìm tới thơ để tự an ủi.

Vài đoạn ghi chép về LQ Vũ - kỳ 3

1971

Những ngày dự hội nghị
những người viết trẻ.
Trước khi họp, Vũ nói nhiều điều nhưng tôi nhớ hơn cả là mấy câu về tôi, mà lại nói ngay với Chu
-- Họp mặt viết trẻ lại không có tao, không có Chu nữa, thì để toàn những người như thằng Nhàn thôi à.
... Ông Nhàn mở đầu bằng việc viết ca dao, và kết thúc bằng việc kết nạp đảng.
Mặc dù cay cay mũi tôi vẫn  chịu đựng được, chẳng phải là đã nhiều lần Vũ bốc tôi một cách quá đáng, nào tôi có phản ứng gì đâu.Vả lại trong thâm tâm tôi còn cảm thấy Vũ có quyền nói thế.

23 thg 7, 2018

Vài đoạn ghi chép về LQ Vũ - kỳ 2


        

             GIỮA CÁC BẠN THƠ

1/
Nguyễn Minh Châu điểm mặt từng người: Tôi vẫn thích 2 thằng Đỗ Chu và thằng Vũ. Hai thằng ấy nó có cái gì đã nói ra , nói đến nơi đến chốn. Cái loại như Bằng Việt chóng cạn lắm.
Xuân Quỳnh: Những ông như ông Vũ, ông Bằng có phần gì được đề cao hơn là chính ông ấy chứ không phải là thực lực như thế.

Vài đoạn ghi chép về Lưu Quang Vũ - kỳ 1

1967

6/4

Số phận đưa mình đến gặp Lưu Quang Vũ. Sự thực là như thế nào? Câu chuyện của chúng mình động đến mọi chuyện trên đời: thơ nước ngoài và ca dao, đời ông Nguyễn Tuân và chuyện tình yêu của bọn trẻ. Mình cảm thấy không muốn giấu nó chuyện gì kể cả mọi thứ riêng tư, như là chuyện Tịnh. Về phần nó, nó cũng kể cả chuyện Tố Uyên, chuyện gia đình nó cho mình nghe.

16 thg 3, 2018

Người Việt qua cách bộc lộ tư tưởng tình cảm


  Cùng với niềm tự  hào vì tiếng nói của dân tộc mình , 
  các nhà trí thức tây học nửa đầu thế ký XX  
  cũng bắt đầu chú ý  tới cách  dân ta sử dụng tiếng Việt trong đời sống hàng ngày
 xem sự tùy tiện cẩu thả này 
   là những biểu hiện tiêu cực mà xã hội trung đại để lại 
 từ đó  gợi ra những cách vận dụng ngôn ngữ của con người hiện đại .
 Những lời cảnh tỉnh của họ đến nay vẫn có ý nghĩa 
  vì suốt từ sau 1945
 trong hoàn cảnh chiến tranh 
   sự trau dồi văn hóa ngôn ngữ bị coi nhẹ
 và nhiều nhược điểm của con người trung đại, nhất là con người dân gian tự phát
 đến nay còn được khuyến khích 
  nên trong việc sử dụng ngôn ngữ
   lại nẩy sinh  những biến tướng mới rất đáng lo ngại .
 ____

Không còn lễ nghĩa liêm sỉ
       Nước ta, những nơi chợ búa thành phố, không luận đàn bà trẻ con, đến người có học biết chữ mà cũng mở miệng là nói lời thô bỉ.

Giới Thiệu Cuốn Sách "Lich-Sử Người Việt" Của Keith Taylor (bài Hồ Văn Hiền )

-- Bài thứ hai có liên quan tới cuốn sách Việt Nam thời dựng nước   ·         --  Theo bản đưa trên trang ...