29 thg 4, 2016

Hà Nội đầu 1975 ( nhật ký chiến tranh)

Loạt nhật ký chiến tranh của tôi đã đưa rải rác trên blog này mấy năm nay và kết lại bằng phần  Những tháng ngày ngột ngạt -- nhật ký Hà Nội 1974 (kỳ II) đưa ngày  5-5 - 2014.  
Sau đây là phần  cuối của cuốn  NHẬT KÝ CHIÊN TRANH  này, phần  bắt  đầu từ 2-1-1975 và khép lại vào ngày 2-5-1975.

Đầu 1975
    2/1
     Hà Nội mùa xuân, bao nhiêu màu xanh rút lại cả cho trời, và bao nhiêu màu đỏ, rút cả vào cho hoa gạo. Tôi đã thấy nhiều hoa gạo, nhưng đẹp nhất vẫn là những khi cành gạo nghiêng nghiêng hướng về phía mặt trời, cái cảnh này tôi chưa thấy bao giờ, và chỉ mùa xuân năm nay, trong cảnh đèo mì chạy gạo về nhà, tôi mới bắt gặp hoa gạo bùng nổ như vậy.

Đọc tiếp ...

26 thg 4, 2016

Năm bài viết có liên quan tới "Những chấn thương tâm lý hiện đại"


Dưới đây là hai bài viết nhân việc cuốn NCTTLHĐ của tôi được in ra lần đầu (cuối 2008) và được in lại (đầu 2016). Xin giới thiệu lại để các bạn có nhu cầu cùng đọc và...mừng cho tôi. Nhưng trước hết xin thành thật cảm ơn tác giả các bài báo, trong đó có những người quen cũ của tôi và cả những người tôi chưa gặp.

________________________________________

Về cuốn "Những chấn thương tâm lý hiện đại"
http://tuoitre.vn/tin/tu-sach/20091023/nhung-chan-thuong-tam-ly-hien-dai/343861.html


Nhìn những chiếc xe giá hàng triệu đôla trên đường phố, có người dẫn chuyện trọc phú. Nhà kinh tế có thể nói đến chuyện tiêu xài vượt xa sức chịu đựng của nền kinh tế đang phát triển ở trình độ thấp. Còn nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn lại nhìn thấy "cái tư tưởng ăn chơi đua đòi hưởng thụ bất chấp tình cảnh nghèo đói chung của cộng đồng" (Rác ngoại). Và cách sống đó, theo ông, là một căn bệnh "đã sẵn có trong nội tạng xã hội, quá trình hội nhập chỉ làm chúng bộc lộ rõ mà thôi" (Qua tiếp xúc với người mà hiểu thêm mình).
Sách có 270 trang, 30 câu chuyện phiếm luận, mà con người "sống trên đường" hay sống trên đời thường suy nghĩ. Vương Trí Nhàn đặt người đọc trước những câu hỏi: Chúng ta đang sống như thế nào? Ðiều gì có thể thay đổi? Ðiều gì sẽ phải chấp nhận mãi? Và tác giả lui lại làm người cung cấp những bài học từ lịch sử, Ðông Tây kim cổ, từ những trang sách của Nguyễn Công Hoan, Thạch Lam, Nam Cao, Nguyễn Hiến Lê, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, cả những F. Dostoievski, Lỗ Tấn...
Ông dẫn lại A. Chekhov kể chuyện người nông dân Nga "tháo một bulông trên đường sắt để làm đinh đóng móng ngựa", như người nông dân ấy khai trước tòa: "Thiếu một cái bulông xe lửa vẫn chạy. Còn thiếu đinh đóng móng ngựa, tôi biết làm sao cày ruộng lấy lúa mì nuôi vợ con tôi". Hay trong phiếm luận Tội làm hư dân, Vương Trí Nhàn đã trích dẫn Chính thể đại diện của John Suart Mill một cách đắc địa: "Người ta xét đoán một chính thể thông qua tác động của nó lên con người. Nó làm cho dân tốt lên hay xấu đi".
Ðọc Những chấn thương tâm lý hiện đại, bạn Trần Quang trên trang "Chúng ta" viết: "Anh viết sâu và sinh động, đọc rất thấm nên cũng rất buồn, chẳng thấy lối thoát". Quả là đáng buồn và khó tránh. Chính tác giả chắc hẳn cũng đã buồn, rất buồn khi viết thế này: "Những thay đổi theo hướng thoái hóa, tác động rất lớn, song rỉ rả mỗi ngày một chút nên dễ lọt lưới, và khi nghĩ ra thì đã muộn" (Sự cố trường diễn).

HOÀNG NAM ANH

“Cứ sống thế này thì nhắm mắt sao nổi”
http://www.chungta.com/nd/tu-lieu-tra-cuu/cu_song_the_nay_thi_nham_mat_sao_noi.htm

Câu nói của nhà văn Nga Tchekhov được Vương Trí Nhàn trích lại trong “Những chấn thương tâm lý hiện đại”. Dường như, đó cũng là tiếng cảm thán của chính tác giả, và của nhiều người về sự xuống dốc của lối sống hiện nay.

“Ai bảo tôi lạc hậu tôi xin nhận”
Vương Trí Nhàn tự nhận về mình cái tiếng lạc hậu, để phát biểu lên những suy nghĩ về lối sống hiện đại mà theo ông là đang trong một cơn chấn thương mạnh.
Ông tẩn mẩn xem xét khắp lượt cái cách người ta đi lại, ăn nói, giao thương, lễ lạt, ăn uống, tiêu dùng… để chỉ ra: “Triết lý hưởng thụ thấm sâu trong những người dân thường”, và “thô bạo đã trở nên một thứ khí hậu trong mối quan hệ bình thường.”, “lối sống ô-sin” hay “sự tha hóa trong tiếng nói của ta đã bắt đầu tư lâu lắm”…
Đau đầu nhất, đáng phiền muộn nhất trong những câu chuyện ở một đất nước đang đô thị hóa chóng mặt là chuyện giao thông. Cái hỗn loạn trong giao thông là hệ quả, hay cũng là phản chiếu của sự hỗn loạn trong tâm lý.
Trong sự hội nhập của người mình – theo tác giả - vẫn không theo được lề luật chung, không bỏ được lối làm ăn tủn mủn, vụn vặt, trông tránh được gian dối. Hội nhập làm rõ thêm những khuyết điểm cố hữu trong bản thân xã hội tiểu nông.
“Còn những cái mất, những hư hỏng như học đòi học mót, đua đả hưởng thụ quên cả lịch sử tổ tiên mà gần đây ai cũng thấy chướng? Bởi chúng xuất hiện nhiều trong thời hội nhập nên ta tưởng tất cả lỗi là từ ngoài vào. Nhưng nói thế là nhầm.
Cái chính là những căn bệnh đó đã sẵn có trong nội tạng xã hội, quá trình hội nhập chỉ làm chúng bộc lộ rõ mà thôi.” (Qua tiếp xúc với người mà hiểu thêm mình)

"Thế nghĩa là thế nào?"

Nhiều sự chướng tai gai mắt thế, lắm cảnh ngược đời thế, thế nghĩa là thế nào? Cái đạo lý nào lại sinh ra những chuyện ấy?
Trong mỗi mẩu chuyện riêng, tác giả dần đưa ra một vài kiến giải riêng. Cái căn nguyên cội rễ được nhắc lại khá nhiều lần là những tàn tích tinh thần từ chiến tranh.
"… Tuy đã ra khỏi chiến tranh, song cái thói quen sống một mình ở cả cộng đồng càng được cố kết lại để làm nên nhiều ảo tưởng. Khả năng tự nhận thức lúc ấy bị hạn chết. Ta bằng lòng với mình. Ta ngại thay đổi. Ta thấy chỉ có ta là nhất.
Từ góc độ của những người từ chiến tranh bước ra, cái tội không thạo việc thạo chuyên môn chỉ là chuyện nhỏ, đánh nhau khó bằng mấy còn làm được, nữa là quản lý kinh tế, cứ quyết tâm và có kỷ luật là hoàn thành tất. Nhưng có phải sự đời đơn giản thế?" (Tôi nghiệp dư, anh nghiệp dư, nó cũng nghiệp dư)
Hay như trong một mẩu chuyện khác ông viết:
"Không khó khăn gì lắm để tìm ra lý do khiến chúng ta có nhiều thói xấu như vậy. Trước hết là cuộc chiến tranh kéo quá dài. Trong Câu chuyện triết học, phần viết về H. Spencer, W. Durant cho rằng “xã hội chiến tranh thường ca ngợi một vài đức tính (nguyên tắc ứng xử - VTN) và dung túng cho những việc mà các dân tộc khác xem là có tội”.
Nếu nơi không chiến tranh, con người quảng đại và nhân đạo, thì nơi chiến tranh kéo dài, người ta quen với cướp bóc phản bội. Đây là luật phổ biến song người ta thường quên và tự cho mình là một ngoại lệ.
Con người hôm nay lao vào cuộc làm ăn kinh tế, mà thói quen sống kiểu chiến tranh còn nguyên vẹn. Kinh tế thị trường rút lại được hiểu là thói cạnh tranh không lành mạnh, nói nôm na là chúa đã chết, ai luốn làm gì thì làm. Thành thử có xảy ra lộn xộn hỗn hào thì cũng là điều dễ hiểu. Từ chỗ chăm chăm chửi bới kẻ giàu cho rằng kẻ giàu là xấu, nay người ta lao vào làm giàu để rồi lãnh đủ những xấu xa bỉ ổi đó, và đưa cái ác lên một trình độ hiện đại đáng sợ.
Trong trạng thái như lại muốn thốt lên “cứ sống thế này thì nhắm mắt sao nổi”, tác giả nảy ra một ý:
Tòa án thường chỉ xét những tội cụ thể. Nhưng tôi tưởng tất cả các quan chức một khi hư hỏng, ngoài hành vi phạm pháp, còn phải xét thêm một tội nữa: Tội ngấm ngầm thúc đẩy và dung túng dân làm bậy. Tội làm hư dân." (Tội làm hư dân)

Không lẽ, lại như lời của một nhân vật, mà tác giả đã nhận là “vô cảm, nhưng là thực tế”:
“Khi không thay đổi được hoàn cảnh, tốt hơn hết là chấp nhận cho xong. Chứ đã biết là không ngăn chặn được tình trạng này từ gốc, mà thỉnh thoảng lại nổi cơn sụt sùi thương xót, cho phép nói thật nhé, thấy buồn cười lắm.” (Tổ chức đời sống nông dân sao đây?)

Và đôi lời về sự bế tắc…

Chỉ ra những khuyết điểm trong đời sống tinh thần của xã hội là một điều quan trọng để tiến đến nhận thức đầy đủ về bản thân xã hội. Và điều được mong đợi hơn cả là chỉ ra một lối thoát. Cả hai điều này, người đọc đang rất trông chờ ở giới nghiên cứu VN.
Dù có không ít cuốn sách tự trào, tự giễu về các thói hư tật xấu của người Việt Nam, (chưa kể, hàng ngày trên báo chí có rất nhiều bài viết cùng dạng này), nhưng hiếm thấy một cuộc điều tra xã hội học nào rộng khắp, hay một nghiên cứu đầy đủ nào với các dữ liệu thực tế, thực hiện trong một thời gian đủ dài với số lượng mẫu hỏi đủ lớn để đưa ra các kết quả thực tế.
Các nhà nghiên cứu thường chỉ dừng ở góc độ quan sát các nhân, trong vùng phạm vi trải nghiệm của họ về cuộc sống xung quanh. Do vậy khó tránh khỏi sự thiếu tính phổ quát về các vấn đề mà họ gọi là “người Việt”, hay “xã hội ta”.
Tương tự, các khái niệm thời gian thường chỉ được nói đến một cách chung chung “ngày nay”, “bây giờ”…, thay vì được xác định cụ thể trong một giai đoạn thực hiện nghiên cứu cụ thể.
Vì những điều nói trên, nên có lẽ việc đòi hỏi người viết đưa ra các giải pháp để giải quyết các hạn chế nhận thức xã hội và tâm lý của người Việt là một điều chưa thể. Vẫn biết các biểu hiện của các “thói hư tật xấu” có muôn hình vạn trạng, nhưng làm thế nào để thay đổi, thay đổi bắt đầu từ ai/cái gì? Khi không có những cứ liệu phân tích cụ thể trên diện rộng, thì làm sao có thể đưa ra giải pháp có tính thực tiễn?
Người đọc – bao gồm cả những người đang nhận thức được chấn thương tâm lý của bản thân mình và những người xung quanh – vẫn đang chờ đợi ở các nhà tâm lý một sự kiến giải rõ ràng hơn
Linh Thủy (Tuần Việt Nam)

"Bắt thóp" những thói xấu của người Việt
http://anninhthudo.vn/blog-nghe-si/bat-thop-nhung-thoi-xau-cua-nguoi-viet/662760.antd


ANTĐ - Mặc dù được đúc kết từ những sự kiện xảy ra trong hơn chục năm, lại từng được đăng tải trên nhiều mặt báo, trang web nhưng những vấn đề đặt ra trong cuốn “Những chấn thương tâm lý hiện đại” của nhà nghiên cứu văn hóa, nhà phê bình văn học Vương Trí Nhàn vẫn không hề cũ. Đọc sách của ông, người ta vừa thích thú trước lời văn tỉnh táo, sắc lẹm, vừa không khỏi băn khoăn: Chúng ta đang sống như vậy thật sao?

Người Việt đang bị bệnh “sốt ruột”

Bạn đọc chắc không quá xa lạ với nhà nghiên cứu văn hóa, nhà phê bình văn học Vương Trí Nhàn. Không chỉ là một người nặng lòng với văn chương, nhiều độc giả biết đến ông qua những bài báo, bài nghị luận sâu cay vạch trần những thói hư tật xấu của xã hội. “Những chấn thương tâm lý hiện đại” có thể coi là một khảo cứu khá thú vị của ông về xã hội hiện đại, trong đó tập trung chủ yếu vào đời sống người dân thành thị.
Ở đây, có thể nói, Vương Trí Nhàn đã không ngừng quan sát, để rồi chỉ ra, lý giải một cách cặn kẽ căn nguyên những biểu hiện lệch lạc, sự thoái hóa, xuống cấp của xã hội. Một trong những “căn bệnh” được Vương Trí Nhàn nhắc đến nhiều đó là căn bệnh “sống vội”, bệnh “sốt ruột”: “Hình như nay là lúc ai cũng vội. Hằng ngày mở mắt ra đã thấy bao nhiêu việc chờ mình. Ý nghĩ chúng ta đi quá nhanh. Mà tốc độ đi lại quá chậm”.
Thói quen sống gấp, sống vội tưởng chừng chỉ là một sản phẩm tất yếu của xã hội công nghiệp, chẳng hại đến ai, hóa ra đã len lỏi khắp các ngõ ngách, dần dần ăn sâu vào nếp nghĩ, nếp sinh hoạt của mỗi người, khiến người ta dần đồng lõa với cách làm việc qua loa, đại khái, cẩu thả, thiếu trách nhiệm.
Lĩnh vực viết báo, viết sách cũng vậy. Theo Vương Trí Nhàn, nếu như hồi năm 1986 trở về trước, khi ở Hà Nội chỉ “lom đom” dăm bảy tờ báo, sách viết xong không chắc đã có giấy để in thì người ta không ai bảo ai viết cái gì cũng đậm đà, chậm chạp. Nay thì “…vừa nghĩ ra cái đầu đề đã ngồi ngay vào bàn, bản thảo chưa hoàn thành đã giục nhà xuất bản xin phép cho in”, để đến nỗi khi nhìn lại những gì mình viết mới thấy đã “sa vào vòng tay của sự làm liều, làm ẩu lúc nào không biết”.
Không chỉ nhắc đến “căn bệnh thời đại”, Vương Trí Nhàn còn sắc sảo bắt bệnh những thói xấu của người Việt, chẳng hạn như “bệnh ảo tưởng”, “thích ồn ào”, “chuyện sùng ngoại”, “nạn cờ bạc”… Ông thậm chí gọi văn hóa giao thông mà chúng ta đang có là một cuộc “biến hình khốn khổ” khi mỗi người tham gia giao thông thay vì nhìn nhau với ánh mắt thiện cảm, lại luôn thường trực một tâm lý “kẻ thù”, sẵn sàng tranh giành nhau từng centimet, nạt nộ nhau khi xảy ra va quệt. Rồi vô vàn những “chấn thương” tâm lý khác mà con người ta không lý giải nổi.

Sự trở lại của phiếm luận

Ngòi bút Vương Trí Nhàn tài tình ở chỗ ông kết hợp nhuần nhuyễn những tri thức sách vở với những câu chuyện thế sự, bằng việc sử dụng ngôn ngữ sắc sảo, trực diện nhưng cũng đầy sâu cay. Đọc “Những chấn thương tâm lý hiện đại”, độc giả thấy thích thú khi được gặp gỡ một cây bút không những thông tường văn chương mà còn nắm bắt từ chuyện Tây, chuyện Tàu… và móc nối chúng với những vấn đề nóng hổi của cuộc sống hôm nay.
Với mỗi vấn đề, nhà phê bình này lại có một cách tiếp cận rất đa dạng, khi thì “thẳng tay” vạch rõ khiếm khuyết, khi thì lồng ghép trong một câu chuyện tản mạn, vô thưởng vô phạt nhưng cũng đầy thâm thúy. Cái hay ở đây là mặc dù ngôn ngữ rất thẳng, rất quyết liệt nhưng không nặng về giáo điều hay lấy hiện tượng để quy chụp cho toàn thể.
Người đọc có thể thấy đôi khi ông “đi ngược”, tức là thay vì đồng ý với số đông thì tìm cách lý giải, mổ xẻ vấn đề theo điểm nhìn khác thường. Giống như tiêu đề một bài viết của ông - “Cái đúng hôm qua nay không đúng nữa”.
Có người nói “Những chấn thương tâm lý hiện đại” đánh dấu sự trở lại của thể loại phiếm luận - vốn tồn tại dưới nhiều tác phẩm đơn lẻ chứ ít khi chịu đứng riêng thành một tác phẩm độc lập. Với riêng Vương Trí Nhàn, người đã hơn chục năm nay theo đuổi thể loại phiếm luận, thì cuốn sách này giống như sự đối thoại giữa những con người khác nhau trong ông.
Trong cuộc đối thoại kỳ lạ đó, người đọc ắt hẳn đã nhìn thấy những lúc đồng cảm, nhưng cũng có cả những cuộc tranh cãi nảy lửa để rồi đi tìm ra câu trả lời cho câu hỏi: “Chúng ta đang sống như thế nào”, và “Tại sao lại có tình trạng nhân thế như chúng ta đang thấy”. Và kết quả, dù đấu khẩu hay “hòa bình” thì ngòi bút ấy vẫn hướng con người tới những điều tích cực, để cùng nhau xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn, hay chí ít là giảm thiểu những ung nhọt, những căn bệnh “biết rồi khổ lắm nói mãi”.
Mai Anh (An ninh Thủ đô)

Nhà phê bình văn học Vương Trí Nhàn: Trăm sự chỉ vì chữ “vội”!

http://laodong.com.vn/van-hoa/nha-phe-binh-van-hoc-vuong-tri-nhan-tram-su-chi-vi-chu-voi-536163.bld



“Hiện đại hóa làm nảy sinh bao bi hài kịch về tâm lý con người, trong đó có chuyện chúng ta “vội”. Vội chen lấn, vội thăng tiến, vội mưu sinh, vội like, vội share, vội chỉ trích, lại cả vội tha thứ… - trăm nghìn kiểu “vội”! Sập cầu, nổ bom, quấy rối tình dục (không từ cả trẻ em)… - cũng là từ chữ “vội” ấy mà ra cả chứ đâu!” - Nhà phê bình văn học Vương Trí Nhàn chia sẻ với “Buffet cuối tuần” về “Những chấn thương tâm lý hiện đại”, cũng là tên cuốn sách vừa xuất bản của ông.

“Chấp nhận đôi khi giúp tránh được tổn thương”
Thật ra, lúc này mà còn gọi ông là nhà phê bình văn học thì vẻ như không được chính xác lắm nhỉ?
- Đúng là, trong khoảng 8 năm trở lại đây, kể từ ngày nghỉ hưu, có thời gian đi đây đi đó, sống chậm hơn, ngắm nhìn thời cuộc nhiều hơn nên sự quan tâm của tôi dần ngả về phía những vấn đề văn hóa xã hội, chứ không chỉ gói gọn trong trang sách, đời sống văn học, chân dung các nhà văn… như trước đây nữa. Một phần có thể là do sau hàng chục năm làm nghề, “ông già về hưu” ấy đã đến hồi cạn vốn nên buộc phải mở rộng trường quan sát của mình hơn, nếu như còn muốn tiếp tục cầm bút và cầm bút có trách nhiệm, để đối thoại với bạn đọc, đặc biệt là bạn đọc trẻ hôm nay, những người bạn của tôi trên FB...
Tuy nhiên, cũng lại phải là một nhà phê bình văn học, có một bề dày quan sát, nghiên cứu lâu năm thì mới có thể đưa ra những liên hệ, soi chiếu độc đáo giữa những vấn đề hôm nay với những câu chuyện, những khảo cứu… đã từng được các lớp nhà văn đi trước kể lại trên trang sách?
- Có những liên tưởng đến một cách tự nhiên, cũng có những cái cần tìm tòi, khảo cứu, theo kiểu “nói có sách, mách có chứng”. Âu cũng là một cách “tựa lưng” vào những giá trị chưa bao giờ cũ như văn học tiền chiến, văn học Nga Xô viết…; những Nguyễn Công Hoan, Thạch Lam, Nam Cao, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải… và cả những F.Dostoievski, A.Tchekhov, Lỗ Tấn... để rọi vào những vấn đề của cuộc sống hôm nay.
Bằng cách soi rọi đó, “Những chấn thương tâm lý hiện đại” kể từ lần in đầu tiên vào năm 2009 có thể nói là đã ít nhiều đưa ra được một số dự báo, cảnh báo mà cho đến hôm nay vẫn còn là những vấn đề nổi cộm. Lần ra được sợi dây liên hệ giữa cái hôm nay và hôm qua hẳn cũng là một cách giúp chúng ta bớt đi được cảm giác hoang mang thái quá trước những biến chuyển của thời cuộc và lòng người.
Là một nhà phê bình văn học, nhưng từng học giỏi các môn khoa học tự nhiên nên ít nhiều trong cách nghĩ, cách viết của tôi cũng có phần được dung hòa hơn giữa hai thế mạnh. Đọc “Những chấn thương tâm lý hiện đại”, đôi lúc bạn cảm thấy như có hai người đang “cãi nhau” trong cách nhìn nhận một vấn đề thì đó chính là hai con người ấy. Nếu không có cái nền tư duy hiện đại, giàu tính phản biện ấy, hẳn là tôi đã không có được độ “mềm” của tư duy như trong những trang viết gần đây. Một độ mềm đủ để không nhìn mọi việc bằng con mắt quá bi quan, cay nghiệt, cũng không đến mức “lạc quan tếu”.
Đại loại: Ở hiền chưa chắc đã gặp lành; một “nhân” có thể sinh ra nhiều “quả”, lại cũng có khi nhiều “nhân” lại chỉ sinh được một “quả”… Chấp nhận những điều không dễ gì chấp nhận đó, đôi khi cũng là một cách để chúng ta tránh được phần nào những tổn thương trong đời sống hiện đại.
“Người nghèo mưu sinh, người giàu… sinh mưu”
Từng là biên tập viên NXB, chứng kiến quy trình gồm nhiều công đoạn để xuất bản một cuốn sách, và sau đó là một ông già sành blog, Facebook, có thể tự xuất bản những bài viết của mình một cách nhanh nhất, ông nghĩ sao về bạn đọc trẻ hôm nay?
- Nhiều người già tỏ ra bi quan về lớp trẻ hôm nay nhưng tôi thì không. Tôi thậm chí còn đánh giá rất cao các bạn đọc trẻ của mình và không hề nghĩ họ hời hợt, trong cách họ giao lưu với tôi tại hội chợ sách mới đây, hay trước giờ, trên FB, blog… Nếu văn hóa đọc của giới trẻ hôm nay bị cho là có vấn đề thì tôi nghĩ lỗi trước hết và trên hết phải là ở người viết. Còn nếu như cách viết, cách đặt vấn đề của bạn gần gũi với người trẻ thì chắc chắn họ sẽ đối thoại với bạn một cách rất nghiêm túc và sâu sắc hơn bạn có thể tưởng tượng nhiều. Điều thú vị nhất của việc tự xuất bản một bài viết hay một cuốn sách trên mạng, đấy là được tương tác, đối thoại rất sôi nổi, “kịch tính” với các bạn đọc trẻ.
Tôi tưởng từ “Vội” - một trong những căn bệnh của thời hiện đại mà ông chỉ ra trong cuốn sách là để nhằm vào người trẻ?
- Đâu phải chỉ mỗi người trẻ. Bao người trong chúng ta đều đang “vội” cả đấy thôi! Hiện đại hóa làm nảy sinh bao bi hài kịch về tâm lý con người, trong đó có chuyện chúng ta “vội”. Vội chen lấn, vội thăng tiến, vội mưu sinh, vội chiếm đoạt (tình yêu hay của cải), vội thay lòng đổi dạ, vội like, vội share, vội phê phán, chỉ trích; lại cả vội tha thứ, bỏ qua nữa… - trăm nghìn kiểu “vội”! Sập cầu, nổ bom, quấy rối tình dục (không từ cả trẻ em)… - cũng là từ chữ “vội” ấy mà ra cả chứ đâu! Người nghèo chết vì mưu sinh, người giàu chết vì… “sinh mưu” - nhiều khi là thế. Đến lành hiền như nông thôn mà giờ cũng nhiều chuyện tan nát lắm: Vợ chồng bỏ nhau dễ dàng, con gái mới lớn giờ nghe từ “ngàn vàng” như chuyện của ai, không liên quan...
Những chuyển động bất quy tắc (trong đó có cả quy tắc đạo đức) đang khiến xã hội trở nên hỗn loạn, nhốn nháo, thiếu quy hoạch, thiếu phép tắc… và đáng lo ngại nhất, là những hỗn loạn trong đời sống tâm lý của mỗi chúng ta, đặc biệt là những người trẻ có sức đề kháng thấp. Sự hỗn loạn là tất yếu, nếu như ngày càng có thêm nhiều người cho rằng: Chỉ có những điều không làm được, còn thì không có những điều không được làm, và cùng đó, là những mục tiêu ngắn hạn, trước mắt, hoặc được chăng hay chớ, hoặc bằng mọi giá. Nhiều người trong chúng ta gần như không biết đến sự tồn tại của khái niệm “lý tưởng sống” mà chỉ đơn giản là có lối thoát hay không có lối thoát, được hay mất...
Chúng ta (trong đó có không ít người nổi tiếng) thường nói rất nhiều, nhưng vấn đề là liệu có làm được điều gì tử tế cho cộng đồng… Hoặc có kiệm lời, thì cũng chẳng qua là vì đang cắm mặt vào cái điện thoại và cắm cúi “còm”, like…, không cần biết đến sự tồn tại của người bên cạnh, kể cả là những người cùng nhà, ngay trong một bữa cơm…
Ông đừng bi quan thế chứ! Tôi biết ông mê thơ Lưu Quang Vũ, có cách nào để vừa ghét mà cũng vừa “yêu quá đời này” được không?
- Thì đúng là Lưu Quang Vũ cũng từng hỏi thế mà: “Có ai nói cho lòng ta hiểu nổi/ Về cuộc đời ghê gớm ta yêu”. Và chính anh cũng nói: “Hãy bình tĩnh, bình tĩnh/ Những khuôn mặt những vòng xoáy những đám mây/ Sẽ hiểu được sẽ không còn đáng sợ/ Chúng ta sẽ chịu được khổ đau sẽ làm việc/ Đóng một cái đinh treo một tấm áo/ Và yêu nhau dưới một ngọn đèn…”.
Vâng, rốt cuộc vẫn là không nên “vội”! Cảm ơn ông.
THỦY NGUYÊN (thực hiện)

Người trẻ và những chấn thương tâm lý hiện đại

http://www.doanhnhansaigon.vn/doi-thuong/nguoi-tre-va-nhung-chan-thuong-tam-ly-hien-dai/1096489

Rất lâu sau khi nổi tiếng với loạt bài nghiên cứu những tính xấu của người Việt cách đây hơn 10 năm, tên nhà nghiên cứu văn học Vương Trí Nhàn mới lại xuất hiện trên kệ sách Nhã Nam với tựa sách rất lôi cuốn: Những chấn thương tâm lý hiện đại.

Thật sự nếu là tác giả khác, có lẽ tôi không muốn đọc, bởi thời bây giờ nhấp chuột máy tính đọc báo, bạn sẽ cảm nhận về một xã hội tổn thương sâu sắc lắm rồi. Nhưng nhãn quan của Vương Trí Nhàn không chỉ chứa đựng kinh nghiệm của người già, mà còn là tư duy khoa học, xã hội nghiêm túc, một sự soi rọi xã hội với tính triết lý cao.
Ông Vương Trí Nhàn nhớ thời chiến tranh, để vận động thanh niên nhập ngũ, những người lên đường ra chiến trường chưa tốt nghiệp cấp 3 vẫn được nhận giấy chứng nhận tốt nghiệp. Những thanh niên có tiền sự, càn quấy, nếu nhập ngũ lại thành người tốt. Nghĩa là xã hội vận hành tất cả cho mục đích chiến thắng. Ngày nay, giữa bối cảnh xã hội mà luật pháp chưa đủ chặt chẽ, cả xã hội vẫn ngấm ngầm cổ vũ cho tư duy "làm tất cả để chiến thắng", tạo ra vô vàn kẽ hở để nhà nhà "tặc lưỡi" làm quen với những việc làm trái quy định để trục lợi cho bản thân, cho ngành của mình, và vẫn được xem là có công hơn có tội với guồng máy đang vận hành.
Tôi tâm đắc nhất bài phiếm luận "Những tù binh của lợi ích trước mắt" của nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn, trong đó ông viết con người chỉ sống cho giây phút hiện tại, chỉ cần tồn tại và thắng. Con người đang ngày càng mệt mỏi, buông thả, hoặc hung hãn, bất cần, hoặc ôm vào người thứ lý luận của kẻ bị bần cùng hóa: "Mình không ăn, không lấy thì thiên hạ cũng lấy, cũng tham nhũng, cướp giật hết".
Hoặc đề cập triết lý sống mới: "Cả xã hội cũng như cá nhân phải biết kiềm chế sự ham muốn của mình, hay nói cách khác phải có ý chí mạnh mẽ là sản xuất nhiều hơn tiêu thụ”. Đó chính là nước Nhật, một đất nước mạnh mẽ, thần kỳ trong tạo ra của cải, nhưng cũng tạo ra con người cần kiệm, khiêm tốn làm tiền đề chính của sự phát triển.
Trong khi đó, sự tiêu thụ ở người Việt hiện đại giống như "ăn trả bữa", tàn phá hết thiên nhiên, tàn phá cả văn hóa và đạo lý, dẫn đến làm suy sụp hệ thống giáo dục và đạo đức xã hội. Một cái nhìn không lạc quan, nhưng rất nghiêm túc về nền tảng nghiên cứu xã hội học Việt Nam khoảng mươi, mười lăm năm trở lại đây.
Tôi nghĩ, những quan điểm phiếm luận này đặc biệt quan trọng với doanh nhân, những người nắm những phương tiện sản xuất, nắm con người và tạo ra của cải cho xã hội nhiều hơn những người khác trong xã hội.
Chưa hết, ông Vương Trí Nhàn sau các phân tích về xã hội bỗng kết thúc bằng một phiếm luận: "Càng trẻ, chấn thương càng nặng!", đặc biệt trong lối sống thụ động, đặt hết vui, buồn của chính mình trong bàn tay thao túng của kẻ khác vì không có nền tảng tốt trong giáo dục nhân cách. Bạn có lo sợ không khi đọc điều này?
Những người lớn tuổi đã tiếp thu một nền văn hóa truyền thống, ít nhất còn được trang bị nền tảng để bình tĩnh tiếp nhận và chọn lọc cái mới, có sức đề kháng. Vậy những người trẻ sẽ đối diện thế nào với những chấn thương tâm lý hiện đại, như tiêu đề của cuốn sách?
Rất lý thú với lý giải sâu sắc của nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn. Ông nói, suốt thời trung đại, Việt Nam không chế ra được văn tự riêng, phải dùng chữ Hán. Sau này người ta chế ra chữ Nôm, có khác đi, nhưng ác nỗi muốn biết chữ Nôm phải giỏi chữ Hán. Nghĩa là gì? Ông cho rằng chính các nhà nho xưa muốn thế, nếu học chữ dễ dàng thì ai cũng học được cả, còn gì là một tầng lớp đặc quyền đặc lợi, tìm ra thứ chữ dễ học, trao cần câu cơm cho người khác à, đâu dễ và không đời nào họ chấp nhận.
Đặc quyền đặc lợi cho riêng một tầng lớp luôn ám ảnh tâm lý xã hội hiện đại. Mình thành công trên sự thất bại của người khác. Mình có đời sống tốt trong các khu đô thị nhà giàu riêng mới thấy sung sướng. Mình đi ô tô trên con đường đông nghẹt xe máy mới thấy thoải mái. Cả xã hội đang hoang mang với chuyện thực phẩm nhiễm độc thì một bộ phận người ung dung khoe khoang sử dụng rau và thịt đưa từ nước ngoài về. Cái tâm lý nguy hiểm đó, nhân cách méo mó ở đó, chứ không đâu xa lạ!

HỒNG BÍCH


Đọc tiếp ...

24 thg 4, 2016

Sơ bộ tìm hiểu tình hình tiếp nhận văn hóa nước ngoài (phần II)

TK: Trên đây, anh có nói đến khía cạnh hai mặt, vừa “tự tôn”, vừa “tự ti” của người Việt trong việc tiếp nhận văn hóa nước ngoài. Liệu anh có thể nói rõ hơn một chút, trước hết về khía cạnh “tự tôn”. 
VTN: Kể ra dùng chữ tự tôn cũng chưa hẳn đã chính xác, chỉ biết là trong khi tìm hiểu về việc tiếp nhận, tôi có nhận ra một sự thực là dân ta rất sợ mang tiếng là kém cỏi, rất sợ nói rằng chúng ta chịu ảnh hưởng của nước ngoài, và luôn luôn tâm tâm niệm niệm rằng ta chẳng kém gì người.

Đọc tiếp ...

22 thg 4, 2016

Sơ bộ tìm hiểu tình hình tiếp nhận văn hóa nước ngoài (phần I)


Nguyên đây là bản ghi cuộc trò chuyện giữa tôi và nhà phê bình văn học Thụy Khuê, từng  được chị Thụy Khuê, khi đó đang làm ở RFI, ghi lại và đưa trên blog 
 http://thuykhue.free.fr/rfi/ 
dưới cái tên Nói chuyện với nhà phê bình Vương Trí Nhàn về tình hình tiếp nhận văn hóa nước ngoài tại Việt Nam
Nhân đây, xin có lời cảm ơn tới  chị Thụy Khuê về những thịnh tình mà chị đã dành cho tôi, và sự giúp đỡ to lớn bao gồm từ những câu hỏi gợi ý tới việc ghi chép chỉnh lý, chuyển những điều tôi nói trong băng ghi âm thành văn bản.
Những suy nghĩ về các vấn đề nêu lên trong bài là thuộc về mười năm trước, ngày nay cần phải bổ sung và đi sâu thêm rất nhiều, tuy nhiên, tôi chưa thu xếp được thời gian để xử lý lại. Dưới đây chỉ xin giới thiệu văn bản cũ, sau một vài sửa chữa nhỏ. 

Đọc tiếp ...

11 thg 4, 2016

Mấy trích đoạn văn học viết về chiến tranh ...(II)

 Ngoài các tác giả trong nước, một số  sách sách giáo khoa quốc văn in ở Hà Nội trước 1954 và Sài Gòn trước 1975 còn đưa vào cho học sinh học những đoạn văn viết về chiến tranh  của các tác giả ngoại quốc.
Dưới đây là hai đoạn văn trích từ Năm chín ba (dưới đây chúng tôi theo bản gốc mà viết Năm 93) của Hugo.
Lưu ý là các đoạn này được đặt lẫn vào các mục của sách chứ không phải trong phần học về lịch sử văn học nước ngoài như thường thấy trong sách của học sinh cấp III Hà Nội.

Đọc tiếp ...

10 thg 4, 2016

Mấy trích đoạn văn học viết về chiến tranh ...(I)

Mấy  trích  đoạn văn học viết về chiến tranh dùng làm bài giảng văn in trong các sách giáo khoa trung học ở miền Nam thời kỳ 1954-75
Các sách giáo khoa văn học ở miền Bắc trước 1975 thường xuyên mang thẳng các sáng tác văn chương vào nhà trường để góp phần giáo dục tư tưởng cho học sinh.
 Nhưng, có một tình hình dễ thấy. 
Các nhà văn đồng nghiệp của tôi lúc ấy chỉ lo viết để kêu gọi người ta ra trận, nghĩa là phải nghiêng hẳn về sự lạc quan tin tưởng, chứ không được yêu cầu  miêu tả cái thực trạng chiến tranh mà mọi người trong xã hội, cả ở hậu phương lẫn tiền tuyến cùng chứng nghiệm. 
Thì nhà trường lấy đâu ra tài liệu được biên soạn để giảng dạy?
 Giả sử như trên báo chí, người ta có để lọt lưới một vài mẩu tin một vài bài, những người biên soạn sách giáo khoa cũng không bao giờ tính chuyện thu góp.

Đọc tiếp ...

6 thg 4, 2016

Con người và tư tưởng thời bao cấp (II)

 Những thay đổi đã đến với con người   
        Nói như ngôn ngữ thời nay, cái giá để duy trì sự nhất trí và do đó sự ổn định như vậy  “ không rẻ “. Về mặt sản xuất,đã thấy chế độ bao cấp mang lại nhiều tai hại. Nó tước đi của xã hội sự năng động và khả năng điều chỉnh tự nhiên. Nó kìm hãm sức làm việc khiến cho toàn bộ sản xuất ngưng trệ thậm chí thụt lùi. Nhưng không chỉ có thế. Tác động sâu xa  mà nó để lại trong đời sống tâm lý và toàn bộ cách sống của con người cũng là điều đáng để day dứt.

Đọc tiếp ...

5 thg 4, 2016

Con người và tư tưởng thời bao cấp (I)

  Từ 5-2015, một  cuộc triển lãm dựng lại không gian văn hóa thời bao cấp đã thu hút được nhiều bạn trẻ. Đầu tháng tư 2016, nhà văn hóa Pháp L' Espace có cuộc triển lãm các bức ảnh của một phóng viên thường trú Pháp tại Hà Nội: “Việt Nam những năm 80“.
      Nhân đây xin giới thiệu lại bài viết của tôi về một cuộc triển lãm tương tự  mang tên Cuộc sống  Hà Nội 1975-86 từng được tổ chức tại Bảo tàng dân tộc học 2006. Bài đã in trên blog này ngày 15-7-2011

Một cách làm sử
   Mặt nghệt ra  như mất sổ gạo. Một yêu anh có  may ô -- Hai yêu anh có cá khô để dành -- Ba yêu rửa mặt bằng khăn--- Bốn yêu anh có cái quần đùi hoa. Những câu ca dao tục ngữ ấy được dịch hẳn ra tiếng Anh rồi được kẻ nắn nót cẩn thận trên những bức tường lớn, dưới đó là mấy gian trưng bày các hiện vật theo một cách thức mà trong điều kiện ở Hà Nội này  phải gọi là “hoành tráng”. 
Đó là một căn hộ thu nhỏ với những vật dụng phổ biến một thời, kể cả cái hố xí được ngăn lại để nuôi lợn. 
Đó là một cửa hàng  gạo có kèm theo thông báo tháng này bán gạo thế nào.
 Rồi một cửa hàng bách hóa với biển hiệu rỉ nát và những bao thuốc cũ mèm, tưởng như sắp mốc đến nơi.

Đọc tiếp ...

28 thg 3, 2016

Nghiên cứu văn hóa, có rộng thì mới có sâu


Tạp chí Văn hóa Nghệ An số ra 1-5-2015 đã in bài Nghiên cứu văn hóa từ góc nhìn của Vương Trí Nhàn
Dựa trên cơ sở bài đó, tôi viết lại thành bài “tự phỏng vấn” sau đây, xin được coi như một thứ “tự thú” nghề nghiệp. Cảm ơn bạn Phan Thắng về một số câu hỏi gợi ý.

Đọc tiếp ...

23 thg 3, 2016

Phạm Thị Minh Thư: Đọc Vương Trí Nhàn và đôi điều suy nghĩ

Bài viết này đã in trên báo Văn Nghệ 2006
Mười năm trước đờì sống văn học thể hiện cả trên báo giấy, mà thời nay có mấy ai sau khi đọc còn  lưu giữ báo bao giờ(?!) 
Tôi  cũng không có bản gốc của tác giả trong tay, chỉ căn cứ vào một bản cũ, sơ bộ chỉnh lý những lỗi in và đưa lại trên blog  này với ý nghĩ là có thể có một số bạn đọc nào đó quan tâm. 
 Nhân đọc lại, với tư cách người được nói tới, tôi thành thực cảm ơn Phạm Thị Minh Thư.
 Còn đây là đường link  của bài Nguyễn Du như một thi sĩ 
 mà ở đoạn cuối PTMT ,có nhắc tới 
http://vuongtrinhan.blogspot.com/2012/04/nguyen-du-nhu-mot-thi-si.html

Tôi không thường xuyên tiếp xúc với Vương Trí Nhàn nên không rõ gương mặt ông trong mọi lúc còn ở những lần đã biết nếu mắt ông không nhìn xuống thì cũng là nhìn ngang, ông trong mấy tấm ảnh chân dung anh Hữu Bảo chụp mắt nhìn cũng đều như vậy.

Đọc tiếp ...

21 thg 3, 2016

Thi sĩ của gió hoang cỏ dại

Một ý nghĩ tội lỗi thường vẫn đến với tôi mỗi khi nghĩ về nền văn chương mà các đồng nghiệp già có trẻ có góp phần làm ra sáu bẩy chục năm nay. Đại để đó là một thứ văn học dân gian, tự phát, mỗi ngòi bút vốn liếng mỏng manh tính chuyên nghiệp thì ít mà nặng về có gì viết nấy, còn như khả năng tự cải tạo tự thuần hóa, khả năng gia nhập vào lịch sử lâu dài, khả năng đó rất thấp. 

Đọc tiếp ...

19 thg 3, 2016

Cuốn sách mới về ông Lư Thoa

“Dân chủ là chế độ chính trị khó nhất vì nó đòi phải có dân trí thật cao; mà ta thường quên nâng cao dân trí của chính mình khi nắm được chủ quyền”
Đoạn trên được dẫn từ lời giới thiệu của nhà nghiên cứu Bùi Văn Nam Sơn dành cho cuốn Jean – Jacques  Rousseau, NXB Đại học Quốc Gia TPHCM, 2016.

Đọc tiếp ...

16 thg 3, 2016

Sự tự phát hiện lại của Nguyễn Khải trong "Một thời gió bụi"


THỬ NHÌN LẠI SÁNG TÁC  CỦA NGUYỄN KHẢI
DƯỚI GÓC ĐỘ”VĂN HỌC HẬU CHIẾN” 

 Nếu có dịp trở lại với đời sống văn nghệ được phản ánh trên mặt báo bốn chục năm qua, người ta thấy rằng tên tuổi của Nguyễn Khải thường được nhắc nhở, các tác phẩm  của ông lần lượt từ Cách mạng (1978) Gặp gỡ cuối năm (1982) Thời gian của người (1985 ) thường ở vào trung tâm chú ý của dư luận.
    Mấy tác phẩm vừa kể, trong khi làm tốt công việc phục vụ giáo dục chính trị, lại đánh trúng vào tâm lý người đọc đương thời, nhất là tầng lớp cán bộ đã có đóng góp trong chiến tranh. 
    Đọc ông, người ta cảm thấy hả hê khi cảm thấy đời mình có ý nghĩa. Người ta yên tâm làm ăn kiếm sống.
     Nhưng còn đối chiếu với lòng người ở một xã hội hậu chiến thì sao? Tôi cảm thấy  việc này không nằm trong  sự quan tâm của Nguyễn Khải.

Đọc tiếp ...

14 thg 3, 2016

Thơ Nguyễn Duy những năm chín mươi


LỜI DẪN:
Nên trở lại với  từng chặng đường của văn học sau 1975.
Nghiên cứu văn học không phải chỉ là đưa ai lên  xếp hạng ai trước .
 Mà nghiên cứu văn học cần nhất là rút đúc kinh nghiệm trong quá khứ.

 Nhiều lần tôi đã bỏ qua những tập thơ tuyển hoặc những kỷ yếu hội thảo rất có giá trị chỉ vì ở đó bài hay lẫn với bài dở, có nhiều bài dở được chọn chỉ vì vai vế hay đơn giản tác giả chính là người có chức quyền hoặc chi tiền cho những xuất bản phẩm.
Đối với các tác giả đang sống cũng vậy.
Dân làm nghiên cứu phê bình ở dạng "nghiệp dư", "tự do" chúng tôi thường cũng tự nhận thấy mình đã bất công khi nhìn lại đời sống văn học hậu chiến mà chỉ nói đến Nguyễn Huy Thiệp Bảo Ninh Dương Thu Hương, hoặc Lê Lựu Nguyễn Minh Châu ...
Tại sao? Chỉ vì các tác giả khác không thật nổi lắm.
 Nhưng  người ta càng có lúc trồi lúc sụt anh càng phải đi vào bàn với người ta chứ. 
Tại sao anh lạ lờ đi luôn thể ?! 
Tôi có ngẫm nghĩ và thấy một lý do như sau:
-- nền văn học của chúng ta thường không được tổng kết một cách công bằng, hơn nữa một cách cụ thể. 
-- Các giải thưởng xét không nghiêm minh và dựa vào quá nhiều tiêu chuẩn khác nhau, trong đó tiêu chuẩn nghệ thuật  thường khi không được đặt ở vị trí đúng mức.
--  Do ý muốn tìm tới một cái nhìn toàn diện và cũng để đoàn kết,  chúng ta có một bảng xếp hạng  cái hay lẫn với cái dở và những người có một thời gian nào đó nổi lên  cứ bị lẫn đi.
Thêm một lý do nữa, tạm gọi là bệnh quan liêu. 
Khi nhìn lại 40 năm văn học hậu chiến, chúng ta có thói quen gộp cả lại một giai đoạn. Chúng ta chỉ thích ghi nhận những ai liên tục nằm ở trung tâm chú ý mà quên rằng sự sáng tác ở ta vốn rất bấp bênh, đỏng đảnh, làm gì có người lúc nào cũng ở hàng đầu.
Trên đường  ghi nhận các bước đường đã qua của văn học hậu chiến, tôi thấy cần tách ra những khoảng thời gian ngắn, mỗi khoảng  có khi bảy tám có khi mười năm, nhận ra ở đó những đặc điểm riêng về hoàn cảnh, tình hình sáng tác  thì rồi gộp cả lại may ra mới tìm được khuôn mặt của lịch sử 40 năm.
   Tôi nêu lại mấy ý nghĩ này để  thú nhận sự bất lực của mình. Tôi đã không còn sức để làm việc đó. Việc có thể làm lúc này là giới thiệu lại một số suy nghĩ của mình mười lăm hai  mươi năm trước 
,có liên quan tới trường hợp một  nhà thơ ở thời điểm mà tôi cho là cao trào sáng tạo của tác giả.
   Dù không chắc rằng cách phân tích và đánh giá trong bài này nay vẫn đủ sức thuyết phục, tôi vẫn muốn đưa lại ở đây để may ra có thể dùng làm tài liệu cho các bạn đang muốn tổng kết "bốn mươi năm văn học". Và nhất là gợi ra một cách làm việc.
    BỐN MƯƠI NĂM thưa các bạn thời gian đó dài lắm. Vì cái gọi là "những năm tiền chiến huy hoàng"  chỉ kéo dài có khoảng mười lăm năm; Thi nhân Việt Nam , tập sách làm nên tên tuổi Hoài Thanh thật ra có cái tên là Thi nhân Việt Nam 1932-41. Và không ít công sức của các nhà nghiên cứu  trong nước và hải ngoại đã bỏ ra, vậy mà  chưa biết bao giờ chúng ta mới tổng kết được hai mươi năm văn học miền Nam 1954-1975.

Có những tài năng "tinh hoa phát tiết" từ những tác phẩm đầu tay và cuộc đời tiếp sau của con người đó trong nghệ thuật là một chuỗi ngày mỏi mòn tẻ nhạt. Lại có những cây bút phải qua thời gian mới tìm thấy lại mình, sự trưởng thành muộn màng nhưng chắc chắn. Nguyễn Duy là một trường hợp như thế: Ở ngưỡng cửa của tuổi 50, anh mới cho in một tập thơ có lẽ là đều tay hơn cả, chín hơn cả trong đời thơ của mình.
Người làm thơ ấy đã được biết tới rộng rãi trong những năm từ 1975 về trước, với mấy bài thơ quen thuộc như Tre, Hơi ấm ổ rơm, Bầu trời vuông, thường có mặt trong các tuyển tập và đã đưa vào sách giáo khoa học sinh phổ thông. 
Nhưng đúng như người bạn vong niên của tác giả là nhà văn Nguyễn Quang Sáng (trong bài viết in ở cuối tập Mẹ và em) đã nhận xét, thơ Nguyễn Duy hồi ấy còn non nớt, mà tác giả thì còn trong cơn trăn trở tìm tòi. 
Cuộc tìm tòi này kéo dài liên tục qua các tập Ánh trăng (1984), Mẹ và em (1987), Đường xa (1990). 
Giờ đây, với hai tập Về (1994) và Bụi (1997) từ chỗ pha giọng, chập chững, mày mò, nhà thơ đã đi tới một giọng thơ có nhiều phẩm chất thuần nhất. Dân dã mà hiện đại, từng trải dạn dày song lại run rẩy tinh tế, cay đắng ngậm ngùi ngay trong khi cười cợt đắm say, lam lũ dông dài mà vẫn có những nét cao sang riêng, thơ Nguyễn Duy những năm 90 gợi ra cảm tưởng một bản sắc đã chín, đã định hình ở đó có tất cả những phóng túng nồng nàn, lẫn những ngang trái khó chịu mà đã yêu thơ anh người ta phải chấp nhận.

Bao dung nên giàu có
Ở những tập thơ trước, Nguyễn Duy đã tự giới thiệu như một người hay đi. Một cách hình tượng, bạn bè bảo muốn miêu tả  Duy thời ấy, phải dùng đến một câu của Nguyễn Tuân  "như một con ngựa sung sức, nếu không được buông vó trên đường dài, thì ở trong tàu, lúc nào cũng nghe cái tiếng gõ lộp cộp của nó, nó đòi đi". 
Đến những năm gần đây, lẽ tự nhiên là Nguyễn Duy vẫn hay đi lắm, giang hồ phiêu bạt đủ chốn, song cái ấn tượng toát lên từ thơ không phải là sự đi nhiều mà là sự từng trải. 
Dù viết về chuyện gì - cát trắng Quảng Trị, mùa nước nổi ở đồng bằng sông Cửu Long hay chỉ phác ra mấy nét sinh hoạt phố xá Sài Gòn, các bài thơ đều thống nhất ở cái tâm trạng riêng của tác giả.
 Trước chuyện khiêu vũ chẳng hạn: với tư cách là một cựu chiến binh, một người "chân đất", những tưởng anh sẽ nhìn lại cái cảnh "khoan nhặt vô thường ríu rít tít mù loảng xoảng" này bằng cặp mắt xa lạ, chối bỏ. 
Hoặc cũng có thể - như thái độ quay ngoắt 180 độ thấy ở nhiều người - lại ngả sang mốt tân thời, hết lời ca ngợi, cho như thế mới là văn minh lịch sự!
 Nguyễn Duy của những năm này đã vượt qua cả hai thái cực nông nổi như vậy. 
Với tầm nhìn rộng rãi hơn, anh hiểu ngay rằng, thật ra, cả thế gian là một cuộc khiêu vũ, và chính nhà thơ trong anh cũng thường phải làm một cuộc nhảy nhót đầy nhọc nhằn.
"Vũ trường giấy trắng cô đơn anh khiêu vũ giấc mơ 
 Không bắt đầu từ đâu, không kết thúc nơi nào". 
Một cách tương tự, tâm trạng quán xuyến trong anh khi ngồi xem cuộc thi "hoa hậu vườn nhà ta" là "mắt vui vui khúc ruột buồn buồn".
Bài thơ đọng lại ở mấy câu
"Hậu hoa hậu còn gập ghềnh lắm 
 Được cũng thương mà thua cũng thương". 
Nhờ cái nhìn bao dung như vậy, bản thân Nguyễn Duy đã giàu lên khá nhiều. Giờ đây đến với anh, người ta không chỉ gặp những cơm bụi, cát, rau muống, rau tập tàng, cánh cò phiêu bạt... - tức những mảnh đời buồn buồn tủi tủi, mà còn có dịp cùng anh lắng nghe chuông chiều Dresden, nhận ra một Mặt Danube đỏ nhừ như say khướt bên cạnh một Danube xanh muôn thuở của Budapest. 
Rồi ảo giác, rồi áo trắng má hồng, rồi pháo tết... bao nhiêu là vẻ đời - có khi sặc sỡ, có khi thơ mộng, lại nhiều khi đẹp đẽ đấy mà thê thảm đấy - hiện lên như trong ống kính vạn hoa. 
Song dù quay cuồng hỗn loạn đến đâu thì với Nguyễn Duy, thế giới này vẫn có cái gì đó cận nhân tình, và có cái vẻ đáng yêu riêng của nó.
 Ngay việc vận dụng hình thức - tức việc chọn chữ, đặt câu, hình thành nhịp điệu trong thơ anh, cũng đều xuất phát từ một cách nhìn đời, một mỹ cảm nhất quán như thế cho nên cái cảm hứng chính mà tác giả muốn làm lây truyền thêm thấm thía, khi đến với bạn đọc.

Chữ lạ, người lạ
Sự tìm tòi không phải là nhu cầu của riêng ai. Đọc nhiều tập thơ xuất bản dăm bảy năm gần đây, người ta nhận thấy một ý hướng chi phối người làm thơ là họ đều muốn cục cựa, thay đổi, mỗi người mò mẫm một cách, những mong có được cách diễn đạt thích đáng về một thế giới mà họ đều cảm thấy là đang thay đổi.
 Hiềm một nỗi là đọc một số tập thơ loại đó, thấy người viết cứ miên man tìm kiếm, mỗi lúc một kiểu, mỗi bài một hướng, không tạm dừng lại ở hẳn một chỗ nào, làm rõ một giọng nào, kết quả là cả tập thơ vừa bề bộn vừa tẻ nhạt, đơn điệu ngay trong những tìm tòi hỗn loạn thường trực.
Ở tập thơ này, Nguyễn Duy có cách tìm khác. Sau khi dò ra mạch, anh dừng lại khai thác đến cùng. Nhờ thế hai tập gần đây có được sự nhất trí mà ở những tập thơ của nhiều người khác, người ta thấy thiếu.
Trước tiên là ở khu vực chữ nghĩa. 
"Thơ là sự do dự giữa chữ và nghĩa", "chữ bầu lên nhà thơ", "sự say mê sáng tạo ngôn từ phải là sự say mê đầu tiên của một nhà thơ" - những tuyên bố lớn lao, không phải là mục đích Nguyễn Duy theo đuổi, song có thể anh cũng không ngại gì sự thách thức của những khái quát kiểu ấy, đơn giản là vì nếu không có điều kiện để quan tâm tới mọi khía cạnh của vấn đề hình thức thì cũng có một số phương diện của nó được anh chăm sóc tỉ mỉ, và gắng tìm tòi một cách xử lý riêng. 
Nói cụ thể hơn, trong nhiều sự đắm đuối đôi khi đến mức đồng bóng mà con người này nhận lấy và cho phép nó thả cửa hành mình, có sự đắm đuối đi tìm những chữ lạ, những chữ méo mó, oái oăm, song lại diễn tả được hết cái trạng thái kỳ cục của sự vật. ở đây đại khái có thể thấy hai loại. 
Một là có những chữ mọi người đã dùng nát ra rồi, nay được Nguyễn Duy sử dụng lại, song nhờ sử dụng một cách thích đáng lại tạo hiệu quả kỳ thú. 
Hai là có những chữ đọc lên ngờ ngợ, không rõ tác giả bịa ra hay nhặt ở đâu không ai biết, song lại được dùng đắc địa, người ta không ai cãi nổi. Tổng hợp cả hai loại này là cả một bản hợp xướng của những chữ lạ: 
"ngấp nga ngấp ngoáng kêu ma", 
"đàn kêu tang tảng tàng tang",
 "ỡm ờ dở dói dồn ghe dạt bèo",
 "phang anh xất bất xang bang sao đành" v.v... 
Có nhiều bài thơ như các bài Nợ nhuận bút, Trở gió, Em đi, Gió gần như câu nào cũng có một chữ lạ đặc kiểu Nguyễn Duy như vậy. 
Đã bao nhiêu người tả gió, nhưng đến Nguyễn Duy, người ta mới bắt gặp một thứ "hội hóa trang" của gió, hết gió cong queo lại gió tuây huây, gió loang toang, gió vùng vằng, rồi đến gió rờn rợn và cả gió tâm thần nữa. 
Ngày của anh là ngày ngun ngủn, trăng là trăng rỗng tuếch (trong một câu thơ đẹp một vẻ đẹp cổ điển Đêm suông rỗng tuếch trăng tà), mây là thứ mây tướp, thời gian thì trôi thườn thượt và con người nếu không là rơm rạ, không hóa đá, thì cũng lẫn với ma, cùng là các loại người đi như xác chết trôi giữa đường. 
Đến đây, lại càng thấy rõ trong một nền thơ, cuộc khiêu vũ ngôn từ trải ra trên cả một vũ trường hết sức rộng rãi, có người chỉ nhảy theo nhịp cổ điển, có người thích lao vào những thể nghiệm hoàn toàn mới.
 Về phần mình, Nguyễn Duy ở vào giữa hai đám chúng sinh đó. Tìm đến đâu anh vận dụng ngay đến đó. Sở dĩ đôi khi anh đưa ra những chữ lạ, không phải vì anh bị chúng quyến rũ, hoặc ham chơi quá, sẵn sàng "thể nghiệm để thể nghiệm", mà đơn giản chỉ vì phải những chữ ấy mới diễn tả hết cái vẻ riêng của thế giới anh quen hình dung. Chữ vẫn trong tay anh sai khiến.

Vẻ cao quý riêng
Những người có quen Nguyễn Duy thường tỏ vẻ thú vị, khi đối chiếu con người anh với thơ anh. Bề ngoài đó là con người lùn mập, mặt vuông, bàn chân bè, bàn tay chai sạn, mái tóc ổ rơm. Hình như đó là một thứ ngoại hình không thơ chút nào. Giải thích tình trạng ẩn tướng thú vị này, hình như (?)  nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã bình luận một cách thân ái "Hình hài Nguyễn Duy giống như đám đất hoang, còn thơ Nguyễn Duy là thứ cây quý mọc trên đám đất hoang đó".
Nói thơ Nguyễn Duy là thứ cây quý, điều ấy nhiều người có thể chia sẻ. Song "chữ quý kia cũng có ba bảy đường" - tôi tưởng nên nói rõ ở đây không có sự tương phản nào hết. Ngược lại cái quý và cái lạ của thơ Nguyễn Duy là nó mang được hình hài của đám đất hoang đã nuôi dưỡng nó. Đó là một vẻ cao quý riêng, không lẫn với sự cao quý thông thường chúng ta vẫn gặp.
Có lần, nhân tả một đám học trò, Nguyễn Duy bột phát đưa ra một "tuyên ngôn" về cái đẹp: "đẹp như là không đâu vào đâu". 
Quả thực, đọc thơ Nguyễn Duy rất hay bắt gặp những gì bâng quơ bất chợt, những gì hồn nhiên mà đẹp như vậy. Mà trước tiên là giọng thơ.
 Nhịp thơ lúc này không có cái cân xứng cổ điển. 
Luôn luôn nó có cái vẻ "Vó câu khấp khểnh bánh xe gập ghềnh" thế nào đó. 
Ở đây người ta không bắt gặp cái ngân vang tuyệt vời trong thơ Đường mà về sau còn thấy vang vọng kín đáo trong Thơ mới 1932-41. 
Ở đây, thường khi người ta bắt gặp những trái khoáy ngang phè, những nghịch phách tương phản, mà chỉ trong âm nhạc hiện đại mới thấy, để rồi được đẩy lên, gợi một cảm giác vừa khó chịu, vừa thú vị.
Bên cạnh thơ tự do, ai cũng biết Nguyễn Duy khá "ăn chịu" với thơ truyền thống, thơ lục bát. 
Song có thứ lục bát của ca dao Bắc bộ nuột nà óng ả, lại có thứ lục bát của câu đố, của xẩm, dông dài, tàng tễu, ở đó con người thường thích cười cợt và chỉ thỉnh thoảng mới thoáng qua một chút rưng rưng để rồi lại tự giấu đi rất nhanh sau tiếng cười. 
Thơ Nguyễn Duy chính là ngả sang loại lục bát thứ hai này, nó hợp với cốt cách bình dân, bụi bặm của thơ anh, mặt khác, lại tạo được cái vẻ đẹp kỳ dị mà chỉ thơ hiện đại mới chấp nhận.

Cuộc trở về không ảo tưởng
Từ nhiều tập trước, trong thơ Nguyễn Duy đã láy đi láy lại mô-típ trở về. Sau khi chìm nổi cùng đám đông, những phút cô đơn là những phút con người này trở lại với những giá trị cội nguồn. Dù ở đâu, thì với thi sĩ, làng quê xưa cũng là một cõi nhớ. Nó là đối trọng của thành thị. 
Nó có chút gì đó trong sáng thanh sạch mà càng từng trải người ta càng khao khát. Chỉ có điều cần nói là nếu ở một số người (và ở chính Nguyễn Duy trong các tập trước), trở về hàm nghĩa một sự lý tưởng hóa cảnh điền viên thì giờ đây, trong cuộc trở về này, nhà thơ vẫn giữ được vẻ tỉnh táo cần thiết. 
Làng quê nói riêng, quá khứ nói chung, chỉ là một bộ phận hợp thành của cái thế giới kỳ cục, -- như quả sầu riêng "vừa thủm vừa thơm", --  mà tất cả chúng ta đang phải sống. 
Song bởi lẽ nó là cuộc đời của mình, những kỷ niệm của mình, nên người ta vẫn có thể yêu nó bằng một tình yêu hồn nhiên nhất. Sớm mai đánh bệt trước thềm - Đứ đừ phun khói thuốc lên tận trời - bài thơ Thuốc lào phác ra một tư thế hiền triết, song là cái hiền triết dân dã, đi gần tới một thứ lão thực giản dị đáng yêu.

Có thể thấy rõ tâm thế trở về của Nguyễn Duy bộc lộ rõ hơn cả trong mấy bài thơ ở cuối tập như Vợ ơi, Nợ nhuận bút, Mời vợ uống rượu, Rơi và nhặt. Trong những bài này chúng ta bắt gặp một Nguyễn Duy tình nghĩa, có trước có sau, có lúc mê muội đắm đuối, song cuối cùng, vẫn biết trở lại với cái gì thật là của mình. 
Có đến hai lần, nhà thơ nói đến mái tóc ngả bạc trên vai người vợ. 
Có cảm tưởng ấy là những lúc con người này đang trải nghiệm tất cả: thời gian đang trôi, cuộc đời mỗi người đang ngắn lại, những ngày qua có đủ vui buồn, mà những ngày sắp tới đây như chén rượu kia cũng sẽ có đủ ngọt ngào cay đắng. Song được sống đã là một điều thiêng liêng rồi và anh tự nhủ mà cũng là nói với chúng ta: hãy biết trân trọng niềm thiêng liêng ấy.
 in trong Cánh bướm và đóa hướng dương,1999 

Đọc tiếp ...

7 thg 3, 2016

Dấu hiệu của mệt mỏi và thiếu khát vọng sáng tạo



  Trong cuộc gặp gỡ tại báo Người đô thị đầu xuân vừa rồi
 ( xem đường link ,http://nguoidothi.vn/vn/news/chuyen-hom-nay/binh-luan/9028/doi-moi-lan-hai-yeu-cau-cua-cuoc-song-ky-1-.ndt )  
nhà nghiên cứu  Nguyễn Minh Hòa - Trưởng khoa Đô thị học Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP. HCM - cho biết nhiều đồng nghiệp của ông còn không có cảm hứng nghiên cứu.
 Học trò của ông cũng vậy, nhiều người không còn ham học, ham đọc sách [ tức là không còn ham sống theo cái nghĩa tốt đẹp nhất của sự sống. VTN]

Đọc tiếp ...

4 thg 3, 2016

Trả giá ắt là đau đớn

Tại sao văn học ta rơi vào tình trạng lúng túng như hiện nay?
Hỗn loạn âm tính và hỗn loạn dương tính.
Vai trò của tỉnh táo hiểu biết. 
Hãy bắt đầu bằng cách tự phê phán.
       
Cũng như nhiều đồng nghiệp đang cầm bút, tôi thường lẩn mẩn nghĩ ngợi về vị thế của nhà văn trong xã hội hiện thời và tình hình văn học nói chung. Các ý nghĩ đến rồi lại đi, rời vụn, mâu thuẫn, lúc thế này lúc thế khác. 
Bản thân tôi mỗi khi nghĩ xong điều gì cũng thích tự phản bác; trong tâm trí luôn luôn có những cuộc đấu khẩu mà sự thắng bại khó lòng xác định rành mạch. 
Dưới đây tôi thử ghi lại một số ý nghĩ loại đó dưới dạng đối thoại, những mong tìm thấy sự đồng cảm.

Đọc tiếp ...

26 thg 2, 2016

Chỉ phát triển khi biết tự phê phán


Bài trả lời phỏng vấn Thời báo kinh tế Sài Gòn số ra 11-2 2016, người thực hiện là nhà báo Nguyễn Vĩnh Nguyên. 
 Đầu đề trên là  của TBKTSG. Đầu đề ban đầu mà  chúng tôi đề nghị là Trí thức và công cuộc phát triển ở VN hôm qua và hôm nay.

Phía sau sự sắc sảo, đầy tính phản biện trong các phiếm luận văn hóa đề cập đến tính cách người Việt hiện đại, người đọc nhận thấy ở ông mối ưu tư, đôi khi cay đắng, về sứ mệnh, đời sống, danh phận người trí thức trong lịch sử lẫn hiện tại.Qua sách báo, blog, Facebook, có vẻ như nhà phê bình văn học, phê bình xã hội tuổi ngoài 70 này vẫn đang kiếm sự đồng cảm, chia sẻ của người đọc – trong điều kiện xã hội đang cần một sự thức tỉnh để thay đổi và phát triển…

Đọc tiếp ...

12 thg 2, 2016

Chuyện đời sống Hà Nội 1981-1982

 Đã đưa trên blog này ngày 25--8 - 2011  

1981

17/1
Ý Nhi kể con ốm nhiều ngày vì thiếu ăn. Ban ngày, cả nhà muốn bán ti vi, ban đêm, lại muốn giữ lại để xem. Ân thì đau bụng đi ngoài. Sau 2 tháng ăn rau, giờ mua được 2 cân cá dầu bé tí để ăn – có thể đó là lý do chăng?
Ông Kiên kể vợ vừa phải mang bán mảnh vải định may quần.
Ông Nhị Ca bảo đời phải có ân oán chứ. Mấy chục năm nay, dân cán bộ khinh dân buôn bán, bây giờ đến lúc bọn buôn bán nó khinh lại.

Báo Hà Nội mới ngày 16/1/1981 đưa tin có hai vụ giả mạo giấy tờ, lấy ra của nhà nước 60 tấn gạo.

Đọc tiếp ...

8 thg 2, 2016

Chuyện đời sống Hà Nội, 1979


4/5
Ngày Phật đản. Những người tu hành vẫn có nét mặt hệt như mặt người ngoài đời mà tôi vẫn gặp. Sao ở giữa cảnh đèn nhang nghi ngút của chùa Quán Sứ, giữa bao nhiêu cụ bà thành tâm cúng vái, lại thấy một vị sư tuổi còn thanh niên, có nét mặt trông như một trung đoàn trưởng, tiểu đoàn trưởng nào đó, mà tôi từng thấy ở các mặt trận.

Đọc tiếp ...

Chuyện đời sống Hà Nội 1980 (3)


Xem hai phần trước ở blog này ngày 24-1 và 27-1-2016 Chuyện đời sống Hà Nội 1980(1) và  Chuyện đờì sống Hà Nội 1980(2)

27/11
Gạo lên 13 đồng một cân ( giải thích – do lương cán bộ vừa được thêm phần phụ trợ). Guốc mỗi đôi lên một đồng.
Bác Hòa hàng xóm Thụy Khuê giữ trẻ 70 đồng một tháng.
Ông ngoại cháu Tú kể mỗi sáng mở mắt dậy lại sợ. Đường đường là một ông chủ nhiệm Hậu cần quân khu muốn gì có nấy. Nay về hưu phải trông hai cháu, trong đó có một cháu nhỏ 4 tháng. Lo cho nó từ chai sữa, múi cam.







Đọc tiếp ...