16-04-2015

Nhân hai cuốn sách dịch của nhà xuất bản "Kim Đồng"


Bàn về sự khốn cùng của tri thức triết học ở ta hôm nay và
nhu cầu vượt thoát khỏi sự khốn cùng đó


Đã đưa trên FB của tôi 14 và 16-4 thành hai đoạn ngắn,
nay cả hai nhập một


HAI CUỐN SÁCH VIẾT VỀ CÁC VÂN ĐỀ TRỪU TƯỢNG MÀ LẠI DÀNH CHO BẠN ĐỌC NHỎ TUỔI

Nhân đi mua sách cho hai cháu nội, tôi thấy có hai cuốn có những cái tên khá dài, nội dung thì hình như quá cao, quá trừu tượng
-- Cuốn sách về những sự trái ngược mang tính triết học
-- Những câu hỏi hóc búa về đức tin


Cuốn trên -- liên quan nhiều đến triết học -- vốn của nhà xuất bản Nathan bên Pháp, và cuốn dưới -- liên quan tới các vấn đề tôn giáo --- do bộ phận làm sách thiếu nhi của tập đoàn Macmillan bên Anh xuất bản.
Bản quyền bản tiếng Việt của cả hai cuốn trên đều thuộc nhà Kim Đồng.

Hôm nay, tôi mới liếc qua được cuốn thứ nhất.
Chữ nghĩa viết ra không nhiều, nhưng nhìn đầu đề các phần đã thấy đặc sệt chất triết học:
Nhất thể và phức thể
Hữu hạn và vô hạn
...
Thời gian và vĩnh cửu
Tôi và người khác


Đây là cái câu coi như đặt vấn đề về sự cần thiết của cuốn sách
"Tại sao phải suy nghĩ về những điều trái ngược?"
"Bởi thiếu những điều trái ngược, chúng ta sẽ không thể tư duy?"

Câu mở đầu cho đoạn 3 chương Tôi / người khác cũng có cái ý đầy thách thức:

"Mỗi chúng ta đều là duy nhất với bản sắc riêng cần được công nhận và tôn trọng"

Trong chương Lý trí/ đam mê có một câu hỏi.
" Ta nên làm theo lý trí hay theo đam mê?"

Hình ảnh dùng làm minh họa trong sách thì được hình thành và liên kết lại theo những quy luật chi phối ngôn ngữ tạo hình trong nghệ thuật hiện đại. Có thể nhìn qua đã hiểu, xem đi xem lại nhiều lần càng hiểu và càng thích thú hơn.

Tôi không chắc là đám cháu trên dưới mười tuổi của tôi có thể thích được hai cuốn này.
Nhưng tôi cứ mua về để một là tự mình học hỏi thêm, và hai là dần dần bằng cách nào đó, trong những dịp thuận lợi cho các cháu làm quen.
Biết đâu -- trong muôn một - các cháu sẽ tò mò đọc tiếp nghĩ tiếp.

Khi lo làm sách hướng tới một tầng lớp bạn đọc ở lứa tuổi nào đó, người ta thường chỉ tự hạn chế trong cái đối tượng đông đảo tức bộ phận gọi là trung bình. Không ai nhớ rằng còn có một lớp bạn đọc ưu tú vượt lên trên trình độ thông thường, và xã hội cần phải tính tới việc phục vụ họ.

Nhớ những khi đọc loại sách tiểu sử các vĩ nhân -- chẳng hạn cuốn Napoléon Bonaparte của Tarle -- tôi thấy người ta đều viết rằng từ lúc học tiểu học các nhân vật này đã có dịp đọc các loại sách kinh điển của thế giới, kể cả các loại khoa học xã hội.

Lẽ nào chúng ta chỉ chấp nhận rằng trong tương lai người Việt sẽ chẳng có ai vượt lên trên trình độ trung bình thông thường?


NẾU tin rằng chỉ khi có một bộ phận ưu tú xuất hiện -- người xưa gọi là lớp trí thức thượng lưu -- xã hội mới tiến lên được
THÌ hãy tự hỏi ta đã làm gì để chuẩn bị cho những phần tử ưu tú đó?

Trong hoàn cảnh hiện nay, không thể trông chờ vào nền giáo dục do nhà nước đảm nhiệm.
Tùy tâm tùy sức, lớp người lớn tuổi chúng ta phải lo trở thành những nhà giáo dục của con em mình.
Không chừng nhờ thế, một cách ngẫu nhiên, ta lại giúp đỡ cho trẻ ở cả các gia đình khác.


TẠI SAO TÔI LẠI ĐỀ NGHỊ CÁC BẬC PHỤ HUYNH
HƯỚNG DẪN CON EM MÌNH ĐỌC CẢ NHỮNG SÁCH TRIẾT HỌC ?


Vào khoảng 1975 về trước, lực lượng sáng tác của tạp chí Văn Nghệ quân đội ( nơi tôi công tác lúc trẻ ) chủ yếu là các cây bút sinh khoảng trước sau 1930, mới trưởng thành từ kháng chiến chống Pháp, mọi người vừa viết vừa lo nhận thức về nghề của mình.
Chính từ những buổi trò chuyện với các nhà văn hết lòng với nghề như Nguyễn Khải và Nguyễn Minh Châu, tôi hiểu về nghề cầm bút ở ta nói chung và trường hợp của lớp người cầm bút ở Hà Nội sau 1945 nói riêng.

Việc đó đã giúp tôi hiểu đươc nghề văn và trước hết là viết được bài về nghề, trong đó có bài báo mang tên Công việc viết văn nhìn dưới góc độ nghề nghiệp đã đưa vào tập Phê bình & tiểu luận của tôi và đưa trên blog của tôi ở địa chỉ
http://vuongtrinhan.blogspot.com/2013/10/cong-viec-viet-van-nhin-duoi-goc-o-nghe.html
Trong bài ấy tôi đã ghi lại một câu tôi không rõ lúc đầu ai nói ra, song tất cả đều thấy đúng
"Ở nước Việt Nam hôm nay, trẻ con làm văn nghị luận, người lớn làm văn miêu tả"
Lý do khiến chúng tôi rút ra một nhận thức đau xót như thế, chính là một sự thực: người viết văn ở Việt Nam không được khuyến khích để tìm tòi về mặt tư tưởng.
Cấp trên chỉ khuyến khích chúng tôi viết sao cho mùi mẫn, sinh động, còn về tư tưởng, các nhân vật của chúng tôi và trước hết là bản thân chúng tôi, không cần tìm tòi gì cả chỉ cần minh họa cho các tư tưởng đã được giáo huấn là đủ.
Nhưng chúng tôi không lấy đó làm buồn quá lâu.
Vì chỉ cần nhìn ra chung quanh thì lĩnh vực nào cũng thế. Công nông cơ bản hay trí thức lao động trí óc cũng thế, học tắt trong nước hay học ở nước ngoài cũng thế, trong suốt cuộc đời làm dân hoặc làm cán bộ của mình, chúng tôi chỉ lo quán xuyến các tư tưởng dội từ trên xuống.
Ở các nước khác, học sinh những năm cuối tú tài đã được học triết học với tất cả những nội dung mà triết học thời nay quan niệm.
Còn ở ta thì -- cả sinh viên đại học và những lớp sau đại học -- tuy cũng có được học cái gọi là triết học đấy, nhưng chỉ rất sơ sài, phần chủ yếu cũng là Mác- Lê, mà lại là Mác Lê theo cách hiểu riêng ở VN hôm nay.
Đến bây giờ thì chắc bạn đọc đã hiểu tại sao tôi lại hết sức sung sướng khi nhận ra và vồ vập tìm mua mấy cuốn
-- Cuốn sách về những sự trái ngược mang tính triết học
-- Những câu hỏi hóc búa về đức tin

nói ở đoạn trên.
Tôi cũng không ngại ngần tìm cách tuyên truyền để các bạn khác mua về, trước tiên là cho mình đọc và sau đó là tìm cách giúp con em trong gia đình mình cùng đọc.
Ở tuổi trên 70, điều tôi tha thiết nhất trong lúc này là muốn các bạn đọc thân mến của mình cùng chia sẻ cái cảm tưởng là chúng ta không thể sống mãi trong cảnh dốt nát hư hỏng. Có thể nguyên nhân không phải tại ta, chúng ta bị xã hội này đẩy tới. Nhưng khi đã biết rằng mình đang trong tình trạng bi đát thế nào, thì sự vượt lên lại là bắt buộc. Chúng ta phải hiểu cho được cái kiếp làm người của mình và mong rằng con em mình không phải sống như mình và có khi còn tồi tệ hơn mình nữa.
Một lần nữa, tôi muốn dùng lại cái câu mà nhiều người đã nói trong trường hợp này: “Phải tự cứu lấy mình”.
Bằng sự học, và ở ta lúc này, trước tiên là tự học, cố nhiên.

PHỤ LỤC
Dưới đây, xin dẫn lại một đoạn trong bài Công việc viết văn nhìn dưới góc độ nghề nghiệp nói ở trên. Đặt làm phụ lục với nghĩa chỉ dành cho bạn nào có thời giờ và muốn quan tâm đến nghề viết văn. Tôi thành thực cám ơn nếu đọc xong đoạn này bạn có thể tìm đọc cả bài.

Trong một bài báo viết trước khi mất, nhà văn Nguyễn Minh Châu nhận xét: "Một thời gian có lẽ cũng khá dài, hoặc ngay cả bây giờ, trong xã hội ta có một thứ quan niệm: làm nhà văn chỉ cần viết câu cho gãy gọn, đúng văn phạm, khéo hơn một chút nữa là viết cho dí dỏm…". Ý ông muốn nói do quan niệm như thế, nên không bao giờ lớp nhà văn trẻ trưởng thành nổi.
Nếu được gọi sự vật bằng tên của nó, thì theo chúng tôi, quan niệm mà Nguyễn Minh Châu chỉ trích ở đây là quan niệm tước đi cốt cách trí thức ở nhà văn.
Viết văn chỉ là một hành động tự phát, thấy đời đẹp thì ngứa cổ hót chơi. Mà ở thời đại này lịch sử đã quá nhiều kỳ tích, trong nhân dân đã quá nhiều mẫu người đẹp, hào hùng, nên nhà văn không cần suy nghĩ gì thêm, cứ ghi chép về họ cũng đủ.
Một quan niệm như thế đẻ ra kiểu nhà văn có tính chất nghệ nhân, hoặc ca ngợi hoặc than vãn (khi thấy có một số mặt tiêu cực như hiện nay thì than vãn) mà không bao giờ hiểu bản chất đời sống.
Đó là loại nhà văn giống như xẩm chợ, thiên về nói leo, phát biểu một thứ phản xạ tức thời và nông nổi trước đời sống hơn là chiêm nghiệm suy nghĩ thành thế giới nghệ thuật độc đáo của riêng mình.
Xẩm thì cũng cần, chắc có người nói thế, được công nhận là xẩm tức cũng phải có năng khiếu, có lao động, và như thế là được rồi!
Nhưng ở thời đại nào cũng vậy, điều mà đất nước và nhân dân đòi hỏi là những nghệ sĩ hành nghề một cách tự giác.
Ở những nghệ sĩ này, bên cạnh năng khiếu còn cần nhiều phẩm chất khác: trình độ văn hoá (văn hoá theo nghĩa rộng, chứ không phải bằng cấp của người đi học), khả năng vừa đi vào đời sống vừa đơn độc suy nghĩ, thậm chí không ngại dấn thân vào những khu vực thoạt nhìn tưởng là trừu tượng siêu hình, nhưng nằm trong bản chất của sự sống, những điều hình như không dây dưa gì đến đời thường, nhưng một lúc nào đó, những người bình thường lại rất cần.
Tóm lại cần tạo ra những nhân cách lớn, mà phần vốn liếng tinh thần bao gồm cả quan sát thể nghiệm lẫn kiến thức do sách vở mang lại, từ đó có thói quen sống làm việc của một trí thức. Chỉ những người như thế mới có khả năng vừa nói một cách đầy đủ về đời sống, vừa nâng người đọc lên tầm tư duy mới.
Đó cũng là những người dám lên tiếng về các vấn đề lớn lao của nhân dân đất nước và khi cần, lấy uy tín danh dự của mình ra, bảo đảm cho điều mình nói. Cái cốt cách trí thức ấy cũng chính là tiền đề gốc, để tạo ra những giá trị có tính chất nhân bản sâu sắc.










Đọc tiếp ...

05-04-2015

Bị cầm tù bởi quá khứ


Do nhu cầu làm báo, mấy chục năm liền trước khi về hưu, tôi thường phải đọc lại báo chí tiền chiến ngày Tết để làm hàng phục vụ người đón xuân thời nay.
Nay đã đến lúc đọc lại chính cái viết về Tết của thời mình – tức là các bài báo tết từ sau 1945 tới nay, nhất là từ sau 1975 --, ấn tượng chính còn lại trong đầu óc tôi là một sự khác biệt:
-- người viết văn viết báo tiền chiến thường đứng trên góc độ của con người hiện đại, trở về với dân tộc hết sức thiết tha, nhưng bao giờ cũng có sự phê phán. Hoặc nếu không thì cũng cảm thấy quá khứ là một cái gì tốt đẹp nhưng đã vĩnh viễn qua rồi không bao giờ còn trở lại nữa, người ngày nay phải sống khác.
Nguyễn Công Hoan, Tú Mỡ .. là những người nói đến cùng cái tầm thường dung tục của cách ăn tết ngày xưa.
Còn Thạch Lam mở ra một cách nhận thức mẫu mực, vừa thấy nét đẹp cổ điển của Tết, vừa khẳng định rằng thời đại của những cái Tết cổ truyền đã qua xã hội đang tìm tới cách đón tết thời cũ chưa từng biết.
-- Trong khi đó, nhiều bài báo Tết thời nay gần nhau ở cái điểm phục cổ: chỉ thuần một giọng ca ngợi những cái Tết xưa, ra cái điều rằng ở đó tất cả là tốt đẹp, chúng ta phải gắng làm theo, không cần cải tiến thay đổi chi hết.
Không những đối với Tết mà với nhiều phong tục tập quán thời xưa, chúng ta cũng có thái độ như vậy.
Lý tưởng hóa quá khứ đang là khuynh hướng bao trùm tâm lý con người, chi phối sự phát triển xã hội.
Đáng lẽ phải thấy quá khứ có nhiều khuôn mặt thì ta lại chỉ cho nó có một khuôn mặt duy nhất. Trong khi giải quyết các vấn đề xã hội ta chỉ nhăm nhăm dựa vào những kinh nghiệm trong quá khứ coi đó là thư thuốc bách bệnh.

Tôi tự giải thích về tình hình ấy như sau:
Chiến tranh kéo chúng ta lại Sự kiện lớn nhất chi phối đời sống gần ba phần tư thế kỷ nay vẫn là chiến tranh ba mươi năm.
Trước chiến tranh, chúng ta có một xã hội đang hiện đại hóa mà do chỗ nó được tiến hành dưới sự bảo trợ của người Pháp nên chúng ta vẫn không chịu công nhận nó là văn minh tiến bộ, vẫn xem xã hội đó không phải là của mình.
Nếu được gọi sự vật bằng cái tên của nó, phải nói cuộc chiến tranh mà chúng ta tự nguyện tiến hành đã đập vỡ cái xã hội ấy ra. Chỗ này chỗ kia có thể khác, nhưng trên đại cục thì xã hội trước 1945 đã bị giải cấu trúc. Hệ thống quốc gia được tổ chức theo kiểu một đạo quân và hậu phương của đạo quân đó tuy còn gọi là xã hội song chỉ còn là cái vỏ ngoài, ngoài những bộ phận bảo đảm cho hàng ngũ người mặc áo lính chiến đấu, thì mọi thiết chế khác đều đã phá sản.
Cái xã hội đi dần sang hướng hiện đại thời Pháp thuộc bị chúng ta đơn giản hóa và đưa nó về tình trạng tiền hiện đại. Trong bộ phận chủ đạo, bộ phận sau này trở thành bên thắng cuộc, có người hiểu cái giá mình phải trả, nhưng vì nhu cầu trước mắt không thể làm khác. Mọi lý lẽ được huy động để chứng minh việc trước mắt là duy nhất đúng.
Hiểu biết Sau chiến tranh mặc dù tuyên bố là đặt mình vào công cuộc phát triển, nhưng thế nào là phát triển thì chúng ta không biết.
Cái khuôn mẫu mà sau chiến tranh chúng ta muốn xây dựng chỉ là khuôn mẫu mà chúng ta đã phá, thậm chí về nhiều mặt đưa tới tình trạng tiền hiện đại như trên vừa nói. Mọi sự gọi những là hội nhập là ra với thế giới chỉ là trong thế bức bách phải làm. Đội quân cũ được phân công đi làm kinh tế đi làm giáo dục. Mọi khái niệm về văn minh văn hóa chi phối con người sau chiến tranh chỉ là những cái thời tiền chiến ta còn nhớ được, cộng với những cái mới lõm bõm học được từ nước ngoài.
Niềm tin Không chỉ có cách sống mà cả trong tư duy, ở những con người từng hết lòng vì chiến tranh cũng thấy có sự trở lại với những khuôn khổ của cái tư tưởng đã hướng dẫn người ta làm cuộc chiến tranh. Khía cạnh thứ nhất, mà cũng là khía cạnh bao trùm trong suy nghĩ con người lúc này: quá khứ là muôn vàn tốt đẹp.
Chỉ có quá khứ có giá trị.
Tương lai sẽ giống như quá khứ, trên cái mạch của quá khứ.
Lẽ tự nhiên một tâm thế nhất quán là sự sùng bái quá khứ được hình thành. Từng con người tự nguyện sống lại quá khứ, mà cả xã hội cũng không mong mỏi gì khác.
Trong chiến tranh cả xã hội sống bằng một niềm tin trung cổ kiểu như “chân cứng đá mềm” “có công mài săt có ngày nên kim”, “Dù có bao nhiêu gian khổ, chính nghĩa sẽ thắng”.
Khi sự kiên trì giữ vững niềm tin đó được kết thúc bằng một sự kiện mà ta ao ước và gọi chung là chiến thắng thì cũng là lúc tâm trí chúng ta đã đông cứng lại trong một niềm tự tin cao độ, rất gần với sự tự lừa dối.
Ta tin tưởng rằng đã đánh nhau được thì làm gì cũng được. Vốn đã quá mệt mỏi vì chiến tranh chúng ta không muốn tìm tòi gì nhiều. Tương lai tìm trong quá khứ một hình bóng phát triển duy nhất. Mọi cảm tình được dành cho quá khứ, cái quá khứ bị lý tưởng hóa và chỉ có một nghĩa duy nhất. Một cách tự nhiên, những con người hậu chiến thực ra đã trở lại với cái nếp sống trung cổ lúc nào không biết. Mọi phương tiện được huy động để phủ lên sự nhốn nháo bên trong một vẻ ổn định bề ngoài.
Đã từng có những cách nghĩ khác Không chỉ riêng ta, nhiều cộng đồng khác, nhiều dân tộc khác, nhất là những dân tộc từng có một quá khứ anh hùng cũng đang trong một tình trạng dằng xé như vậy. Chẳng hạn như ở nước Nga. Ở bên ấy, cả trong thời xô viết lẫn thời gian sau 1991, sức níu kéo của quá khứ đều khủng khiếp. Để biện hộ cho sự trì trệ trong tư duy, người ta lớn tiếng lên án những kẻ muốn thay đổi, cho đó là sự vong ân bội nghĩa.
Và sự bảo thủ đã được đúc kết thành những câu nói có cánh. Như cái câu mà người ta thường bảo là của Rasul Gamzatov "Nếu bạn bắn vào quá khứ bằng súng lục, thì tương lai sẽ bắn vào bạn bằng đại bác" .
Trong khi đó, trong một bài bình luận chính trị gần đây, bài Những xiềng xích của lịch sử Đông Á (http://nghiencuuquocte.net/2015/01/26/nhung-xieng-xich-lich-su-cua-dong/ ) tôi thấy tác giả Brahma Chellaney dẫn lại một câu ngạn ngữ : “Quên đi quá khứ thì mù một mắt, sống trong quá khứ thì mù cả hai”.
Mà đó lại là một câu ngạn ngữ của chính người Nga.

Ở ta cũng có tình trạng tương tự. Chúng ta có một xã hội ta chỉ chấp nhận có một cách nghĩ của đa số, xem đó là cách nghĩ duy nhất, còn mọi ý tưởng xa lạ với cái chính thống đó, nếu không bị phê phán thì cũng bị bỏ qua. Cách làm lịch sử lại cũng theo kiểu đó mà tiến hành. Khi đọc lại sách báo cũ, những người làm sử hiện đại chỉ chọn ra những gì hợp với thời mình, minh họa cho “giai điệu chính” đang được mọi người công nhận. Còn như mọi ý nghĩ ngẫu nhiên bột phát có thể không đúng trong tình hình ấy song lại đúng về sau - thì chẳng ai buồn nhớ.
Với một sự sáng suốt và phục thiện tối thiểu, mọi người chúng ta -- tôi tin là vậy - đều có thể tìm ra trong ký ức của mình những điểm sáng mà lâu nay bị gọi là lạc dòng nên đẩy vào trong quên lãng.
Phần tôi, dưới đây tôi dẫn lại một bài thơ của nhà thơ Xuân Quỳnh làm trong khoảng thời gian tạm gọi là mười năm đen tối 1975-1985.
Vào một dịp khác tôi sẽ đặt bài thơ trong quá trình phát triển của xã hội hậu chiến và sự phát triển tư tưởng của tác giả; ở đây chỉ xin nêu lên một khía cạnh chủ yếu mà nhà thơ -- trong khi bám chắc vào cách dẫn dắt của một bài thơ tình — thật ra đã chạm tới cả một vấn đề lớn làm nên định hướng của xã hội:
-- công nhận là quá khứ tốt đẹp thật nhưng trong đó rất nhiều điều ngây ngô đơn giản và nếu làm lại ta sẽ chẳng làm như thế.
-- dù quá khứ tốt đẹp đến đâu thì nó cũng không phải là cái mẫu chúng ta làm theo. Mỗi thời mỗi khác, chúng ta phải biết tự khác đi trong hoàn cảnh.

CÓ MỘT THỜI NHƯ THẾ
Có một thời vừa mới bước ra
Mùa xuân đã gọi mời trước cửa
Chẳng ngoái lại vết chân trên cỏ
Vườn hoa nào cũng ở phía mình đi.

Đường chẳng xa, núi không mấy cách chia.
Trong đáy mắt trời xanh là vĩnh viễn
Trang nhật ký xé trăm lần lại viết
Tình yêu nào cũng tha thiết như nhau.

Có một thời ngay cả nỗi đau
Cũng mạnh mẽ ồn ào không giấu nổi
Mơ ước viển vông, niềm vui thơ dại
Tuổi xuân mình tưởng mãi vẫn tươi xanh

Và tình yêu không ai khác ngoài anh
Người trai mới vài lần thoáng gặp

Luôn hy vọng để rồi luôn thất vọng
Tôi đã cười đã khóc những không đâu
Một vầng trăng niên thiếu ở trên đầu
Một vạt đất cỏ xanh rờn trước mặt...

Mái tóc xanh bắt đầu pha sợi bạc
Nỗi vui buồn cũng khác những ngày xưa
Chi chút thời gian từng phút từng giờ
Như kẻ khó tính từng hào keo kiệt
Tôi biết chắc mùa xuân rồi cũng hết
Hôm nay non, mai cỏ sẽ già.

Tôi đã đi mấy chặng đường xa
Vượt mấy núi mấy rừng qua mấy biển
Niềm mơ ước gửi vào trang viết
Nỗi đau buồn dồn xuống đáy tâm tư

Em yêu anh hơn cả thời xưa
(Cái thời tưởng chết vì tình ái)
Em chẳng chết vì anh, em chẳng đổi
Em cộng anh vào với cuộc đời em
Em biết quên những chuyện đáng quên
Em biết nhớ những điều em phải nhớ

Hoa cúc tím trong bài hát cũ
Dẫu vẫn là cung bậc của ngày xưa
Quá khứ đáng yêu, quá khứ đáng tôn thờ
Nhưng đâu phải là điều em luyến tiếc.


Bài thơ làm 11-1984, in lần đầu trong số tết của báo Phụ nữ Việt Nam 1985 và có in lại trong các tuyển tập của tác giả, nhưng thường ít được chú ý. Ngày nay, người ta có xu hướng coi Xuân Quỳnh xa lạ với các vấn đề xã hội và chỉ là nhà thơ của tình yêu.

Đọc tiếp ...

31-03-2015

Sự đỏng đảnh của mùa xuân trên đồng bằng Bắc bộ


Ở cơ quan tạp chí Văn nghệ quân đội trước 1975, Nguyễn Minh Châu nổi tiếng là … hay sổ ra những câu ngược đời.
Chẳng hạn trong khi ai cũng nói là mùa xuân đẹp mùa xuân mơn mởn sức sống, thì có lần ông cho mọi người thất vọng bằng một câu xanh rờn:
-- Chính ra ở mình, mùa xuân lại là mùa bẩn nhất. Đấy các ông thử nhìn xem đường xá lầy lội có kinh không? Làng nào còn ít bụi tre, thì xuân này lá tre rụng đầy đường, mà chính các thân tre lại xơ xác trông gớm chết đi được !

Đọc tiếp ...

26-03-2015

Vũ Hùng và những trang sách không chỉ dành cho bạn đọc nhỏ tuổi


Lời giới thiệu viết cho bộ sách 
các tác phẩm viết cho thiếu nhi của Vũ Hùng 
 nxb Kim Đồng,  2014


Thiên nhiên dữ dội , thiên nhiên hùng tráng 
 Cũng như các bạn trẻ bây giờ, các cuốn tiếng Việt  mà tôi học ở tiểu học cũng có nhiều bài nói về thiên nhiên cây cỏ. Nhưng thiên nhiên trong những bài đó thường chỉ thu vào những cảnh tượng đơn sơ nhỏ hẹp. Những cánh đồng phì nhiêu, cây đa đầu làng, dòng sông bến nước --,cảnh vật  gợi ra một cảm giác êm đềm thơ mộng nhưng đơn sơ quanh quẩn.

Đọc tiếp ...

21-03-2015

Tinh thần Diên Hồng nên được hiểu ra sao?

Phòng họp chính của Quốc hội  ngày nay gọi là Phòng Diên Hồng.
 Chuyện này báo chí đã đưa từ cuối năm ngoái,(ví dụ http://vov.vn/blog/tan-trao-va-dien-hong-vao-nha-quoc-hoi-moi-360419.vov ) nhưng mãi tới hôm qua 20-3-2015, xem TV tôi mới biết .
Tiếp tục đọc lại các báo cũ, thấy chung quanh chuyện này, mọi người rất hỉ hả. Ta đang trở lại với truyền thống. Ta rất dân chủ.
 Tôi nghĩ đơn giản là HAY ĐẤY. NHƯNG KHÔNG ĐỦ NỮA.

Đọc tiếp ...

19-03-2015

Phạm Quỳnh và quá trình tiếp nhận văn hoá phương Tây ở Việt Nam đầu thế kỷ XX

Bài này lần đầu in trên tạp chí Nghiên cứu văn học, Hà Nội, số ra tháng 7-2005, dưới nhan đề Vai trò của trí thức trong quá trình tiếp nhận văn hoá phương Tây ở Việt Nam đầu thế kỷ XX.

Đọc tiếp ...

17-03-2015

Lễ hội thế nào thì xã hội thế ấy !

Bài báo này được viết dựa trên những dữ kiện của đời sống dăm bảy năm trước. Song tôi vẫn muốn trình ra với bạn đọc của năm 2015. Bởi  những biến động mà chúng ta quan sát thấy ở các lễ hội năm nay chẳng qua chỉ là đẩy nhanh hơn quá trình đã diễn ra từ nhiều năm trước.
Vấn đề không chỉ ở tính bạo lực đã bộc lộ quá rõ rệt.
Chúng ta đang có những lễ hội xấu xí. 
Mà lễ hội chỉ là mô hình thu nhỏ của đời sống.  

Ở  số báo Người đưa tin Unesco số ra tháng hai 1989, với tiêu đề Lễ hội nơi nơi, tôi đọc được một nhận xét tổng quát : Từ đông sang Tây, gần như ở tất cả các xã hội đã và vẫn đang còn hội hè đình đám. Tại sao? Bởi thế giới này hỗn độn đến cùng nên nhất thiết cần trật tự, -- một lễ hội được coi như có lý do tồn tại khi để lại trong con người tham gia cái dư vị có sức ám ảnh đó.
     Thế còn ở ta, ở người Việt ta hôm nay, thì sao?
   Báo Tuổi trẻ 18-2-2011 chạy trên trang nhất cái tít: Thảm hại lễ hội. Những chữ được dùng trong các phản hồi: vô văn hóa, cuồng tín, lố bịch, nhảm nhí, mê muội.

Đọc tiếp ...

12-03-2015

Văn học Việt Nam tìm kiếm bạn đọc trong nước không xong, lại tính chuyện chinh phục thế giới

Trong khi tụt xuống mức thấp nhất của chất lượng thì chúng ta lại mơ tưởng hão huyền tới những đỉnh cao vinh quang nhất  - đấy là ý nghĩ của tôi, khi nhận ra một hướng vận động của văn học hiện thời.

Đọc tiếp ...

07-03-2015

"Dân tộc Việt là cả một khối tự phát khổng lồ !"



Trong quá trình suy nghĩ của tôi về các vấn đề văn hóa xã hội, bài trả lời phỏng vấn với một phóng viên trẻ VietNam Net khoảng đầu 2008 "Dân tộc Việt ..." này là một bước ngoặt. 
Nó mở ra cho tôi một hướng làm việc.

Đọc tiếp ...

02-03-2015

Chứng rối loạn nhân cách

Những năm trước sau 1970, tôi mới học tiếng Nga và chưa tiếp xúc nhiều với văn học xô viết.
 Trong khi đó thì anh Phan Hồng Giang đã học Lomonosov từ đại học và biết rất nhiều chuyện dân nghiên cứu văn học ở Liên xô bàn tán, nó là những chuyện người ta nói với nhau  để xả hơi,  khi trong quá trình sống có những điều quan sát thấy mà không bao giờ được viết trên mặt giấy.
 Hồi đó trong giới nghiên cứu văn học Nga cũng như VN đang bị thống trị bởi quan niệm cho rằng văn học phải có nhiệm vụ xây dựng những nhân vật tích cực.

Đọc tiếp ...

25-02-2015

Di sản giữa đời thường !

 

Nghề làm tranh dân gian của làng tôi là một thứ đặc sản của văn hóa Việt Nam mà mức độ độc đáo có thể so với rối nước, các điệu chầu văn, các làn quan họ. Đấy là điều không chỉ người trong cả nước biết, mà khách du lịch nước ngoài cũng biết và dân làng tôi lại càng biết.

Đọc tiếp ...

20-02-2015

Làm sao để tác phẩm viết về chiến tranh còn được đọc lâu dài ?

Nhân đọc Xuân vọng một bài thơ Đỗ Phủ (712-770) viết trong
những năm chiến tranh - loạn An Sử đời Đường

春望
國破山河在,
城春草木深。
感時花濺淚,
恨別鳥驚心。
烽火連三月,
家書抵萬金。
白頭搔更短,
渾欲不勝簪。

Xuân vọng
Quốc phá sơn hà tại,
Thành xuân thảo mộc thâm.
Cảm thì hoa tiễn lệ,
Hận biệt điểu kinh tâm.
Phong hoả liên tam nguyệt,
Gia thư để vạn câm (kim).
Bạch đầu tao cánh đoản,
Hồn dục bất thăng trâm.

Đọc tiếp ...

18-02-2015

Truyện ngắn CHỢ TẾT của Nguyễn Minh Châu

Ngưng đọng bế tắc trì trệ -- đó là cảm tưởng bao trùm tâm trí  nhà văn Nguyễn Minh Châu khi ông nghĩ về xã hội Việt Nam sau chiến tranh và điều đó được khắc họa đậm nét qua thiên truyện viết từ 2- 1988 mà  dưới đây là văn bản tôi muốn các bạn cùng đọc lại.
Sau bài Tiếng kêu thảng thốt cuối cùng của Nguyễn Minh Châu, khi làm công việc xoát sét lại bản đánh máy Chợ tết , tôi nhận ra tác phẩm có một sức khái quát khá lớn.
 Không chỉ cái hồn cốt bao trùm khung cảnh sự vật mà như từng nhân vật trong truyện cũng quy tụ về chủ đề  chính.

Đọc tiếp ...

15-02-2015

Một cách "hiểu ngầm" về tết và xuân chỉ riêng con người thời nay mới biết


Bài đã đưa trên FB của tôi 14-2-2015

Có lần tôi đã định soạn một cuốn TỪ ĐIỂN VĂN HÓA RỞM, nhưng rồi lại không đủ sức đi tiếp. Sau đây là mấy đoạn viết nháp có liên quan đến ngày Tết

TẾT
Những ngày vui đầu năm khiến nhiều người nghĩ tới vừa mừng vừa sợ. Một dịp để người ta tự cho phép có thể sống buông thả, do đó cũng là lý do để khôi phục nhiều hủ tục như chè chén lu bù, rượu chè cờ bạc dông dài. Ca dao cổ : Tháng giêng là tháng ăn chơi -- Tháng hai cờ bạc tháng ba hội hè ...
Một bằng chứng về tình trạng trung cổ của xã hội mà chưa biết bao giờ ta mới vượt qua được
(chữ trung cổ là do tôi mượn của Xuân Diệu.
Xin xem bài viết Đúc tết lại trên blog của tôi

Đọc tiếp ...

Tiếng kêu thảng thốt cuối cùng của Nguyễn Minh Châu

Không có mặt trong cả Bến quê lẫn Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, truyện ngắn Chợ tết lẻ loi đi giữa một số báo đến mức nhiều người không biết có nó.
Ai ngờ thiên truyện ngắn ngủi lại chứa đựng nỗi niềm tâm sự sâu sắc nhất Nguyễn Minh Châu muốn gửi tới bạn đọc.
Qua một phiên chợ Tết vùng quê xứ Nghệ, nhà văn đã phác họa ra cả tình trạng của xã hội Việt Nam sau chiến tranh: ngưng đọng và luẩn quẩn, cổ lỗ và bất lực, chán chường ngán ngẩm khi nghĩ về quá khứ song lại mơ hồ không biết rồi tương lai mình sẽ đi tới đâu.
Ấn tượng cuối cùng để lại trong đầu óc người đọc chính là câu hỏi thảng thốt khi ông hướng về lớp trẻ:
--“Kim, Kim, Kim, đời cháu mai ngày sẽ ra sao, nếu gắn chặt với những làng xóm quê nhà yêu dấu?”.
Tác phẩm in ra từ đầu xuân 1988.
Từ đó tới nay, tưởng là có nhiều thay đổi song xã hội Việt nam thật ra vẫn chưa tìm ra lối thoát.
 Tôi nghĩ rằng nhiều người đọc cũng như tôi sau khi đọc lại thiên truyện sẽ thấy mình có chung số phận với cô gái tên Kim ấy.
 Nghĩa là hôm nay đây câu hỏi nêu ra cho Kim cũng vẫn là  đang đặt ra với chính chúng ta.

Đọc tiếp ...

13-02-2015

Thạch Lam & những cái tết thanh đạm

 Một bài viết của Thạch Lam
 trên Ngày Nay số xuân 1940        
                                       

Nghệ thuật ăn Tết
Hưởng, đấy là khôn ngoan;khiến hưởng, đấy là đức hạnh
(Cách ngôn Ảrập)
Ngày Tết, đối với nhiều người, chỉ có thú vị khi nào nghĩ lại - Người ta thường hay cùng nhau nhắc tới những Tết năm ngoái, năm xưa với một vẻ mến tiếc âu yếm, lẫn với đôi chút ngậm ngùi. Nhất những Tết ngày còn nhỏ… Lúc ấy, cùng với những nỗi vui ngày Tết đã qua, còn vướng niềm thương tiếc tuổi niên hoa, cái tuổi mà người ta nhận là vô tư lự”, ngây thơ và sung sướng.
Nhưng nỗi nhớ tiếc ấy chẳng ích lợi gì, mà lại ngăn chúng ta không toàn hưởng được thời khắc hiện giờ. Đậm đà, mạnh mẽ hơn bao nhiêu là sự hưởng thụ ngay hiện tại, thêm vào cái thú hưởng những giờ vui, cái thú vô song của sự mình biết mình đương hưởng.

Đọc tiếp ...

05-02-2015

Cái vội của người mình

 Năm 1982, Larry Dossey, một bác sĩ người Mỹ đã đặt ra thuật ngữ “căn bệnh thời gian” để mô tả một tín điều đang ám ảnh nhiều người. Những người này thường tự nhủ: “Thời gian đang trôi đi, không còn đủ thời gian, và bạn phải nhanh hơn, nhanh hơn nữa mới bắt kịp nó”.

Đọc tiếp ...

04-02-2015

Thế giới hôm qua

Khi thử áp dụng cái nhìn xã hội học vào việc nghiên cứu thơ Nguyễn Bính, người ta sẽ bắt gặp một huyền thoại và về nông thôn Việt Nam và cả những lý do dẫn đến sự ra đời của huyền thoại ấy
       
Vào thời điểm Nguyễn Bính lớn lên và bắt đầu làm thơ - tức là những năm 30 của thế kỷ  XX – quá trình Âu hóa của xã hội Việt Nam đã qua được một chặng đường khá dài.

Đọc tiếp ...

Hai cuốn tiểu thuyết Nguyễn Bính viết thời tiền chiến

 Nhiều nhà thơ nổi tiếng  thời kỳ 1940-1945 đồng thời có viết văn xuôi. Thâm Tâm đã viết Thuốc mê. Trần Huyền Trân đứng tên sau các tiểu thuyết Sau ánh sáng, Bóng người trên gác kinh. Anh Thơ có Răng đen.
Về phần mình, Nguyễn Bính từng cho in nhiều kỳ trên báo rồi in thành sách hai cuốn là Ngậm miệngHai người điên giữa kinh thành. Ngoài ra theo một số bạn bè tác giả kể lại ông còn có cuốn Không nhan sắc; nhưng tôi chưa biết, nên ở đây chỉ nói tới hai cuốn trên.

Đọc tiếp ...

03-02-2015

Từ những xúc động trước vẻ đẹp hồn nhiên đến nỗi buồn bẽ bàng chua chát --xuân và tết trong thơ Nguyễn Bính



Mỗi lần tết đến, những người yêu thơ dễ nhớ tới Nguyễn Bính ( 1918–1966). Con người từng viết nên nhiều bài thơ về xuân và tết ấy qua đời vào một dịp người xưa rất kỵ – những ngày tất niên theo âm lịch.
Mang tâm tình của một con người từ nông thôn lên thành phố, cả đời thơ thời tiền chiến của ông, mặc dù thường được miêu tả là một cuộc lỡ bước sang ngang, buồn nhiều hơn vui, vui giả mà buồn thật… song nhìn kỹ lại là phần còn lại rõ rệt nhất. Chứ nếu tính riêng quãng đời sau 1945 thì người ta lại thấy thật ra ông là một điển hình về sự không hợp thời. Và lần này thì ông gần như mất là chính, mất cả thơ và mất cả cuộc sống. Nên các dẫn chứng thơ ông tôi cũng chỉ lấy từ sáng tác thời tiền chiến.

Đọc tiếp ...