17 thg 10, 2018

Làm và nghĩ. Bế tắc và lẩn trốn trong tuyệt vọng

TẤN KỊCH KÉO DÀI

CỦA TÌNH TRẠNG LÀM LIỀU MÀ KHÔNG HIỂU BIẾT

Sau ngày 30-4-75, nhiều cán bộ miền bắc được phân công vào miền nam làm việc, bên cạnh một số nhỏ thạo việc, thì một số hiện ra như những người quê mùa, thiển cận, không hiểu biết và do đó không thích ứng được với một Sài Gòn năng động.

Số người này ngày càng đông, họ nghĩ ra mọi lý lẽ tự biện hộ để tiếp tục làm liều rồi nhanh chóng sa đà trong cảnh ăn chơi hưởng thụ và trượt dài trong cuộc tham nhũng.

Có nhiều cách giải thích về chuyện này nhưng tôi nhớ hơn cả cái ý của nhà khoa học Trần Đại Nghĩa trong một buổi nói chuyện ở Thư viện quốc gia ở Hà Nội 1976:

-- Có gì lạ đâu. Hãy hình dung xã hội miền nam như một cỗ máy, nhiều anh em vào đấy mà không được chỉ dẫn trước rằng cỗ máy đó hoạt động ra sao, thành ra nhiều khi họ cho cả tay vào, vừa hỏng máy vừa hỏng người, nhưng khách quan mà xét không trách họ được. Tại chúng ta chỉ kéo họ làm mà không giúp cho họ suy nghĩ thậm chí cấm họ suy nghĩ.

Không chỉ đối với việc quản lý miền nam sau 75 mà hầu như trong mọi việc chúng ta làm từ sau 45 chúng ta đều rơi vào tình cảnh phải làm những công việc mà bản thân chẳng hiểu gì cả.

Làm liều làm ẩu nghe qua loa rồi bắt tay làm, tự mình gán cho công việc của mình những ý nghĩa sang trọng.

Rồi lại mang nhau mà khen thưởng và phong tặng cho nhau đủ loại danh hiệu và lấy làm bài học truyền lại cho thế hệ sau.

Một kết quả rõ rệt của lối làm ăn chỉ biết có nhiệt tình và nhắm mắt làm theo lệnh trên này là nó làm hỏng con người. Chống lại thì lại nẩy sinh những bi kịch mơí.

BẾ TẮC

Tôi không biết có một dân tộc nào mà lại khuyến khích người dân của mình uống bia uống rượu. Thời trước hễ có ai đến rủ những người đàn ông đi chè chén chơi bời, thì những người đàn bà trong gia đình có thể đến tận nhà người rủ chồng mình làm bậy kia mà chửi rủa và tất cả làng xóm đều đứng về phía người đàn bà đã sáng suốt bảo vệ chồng con mình, gia đình mình.

Còn ngày nay không còn những người đàn bà như vậy, và nếu có thì chị ta lại bị coi là không thức thời, không biết hưởng thụ cuộc đời. Nay là lúc con người hoàn toàn bất lực trước cái xấu. Các gia đình vốn có cấu trúc chặt chẽ trong xã hội cũ nay trở nên lỏng lẻo, không đủ sức giữ con người xa lánh cái xấu và khi đã xấu thì khó có dịp hối cải trở lại với sự lương thiện.

Tôi vốn cơ địa không cho phép mình uống rượu và bẩm sinh có chút khổ hạnh, nên có thể những lời bàn ở đây hơi cổ lỗ không thức thời.

Nhưng tôi vẫn thấy cần phải nói vì tôi đoán có nhiều người cũng nghĩ như tôi mà chưa tiện nói.

Tình cảnh quá nhiều người sa vào rươu chè quên đời như hiện nay là một tai vạ cho dân tộc.Bởi lẽ từ chỗ chơi bời trụy lạc sẽ sinh nhiều thói xấu khác.

Tuy nhiên cứ thấy thật ra ở đây phải có thái độ nước đôi, có cả phê phán nhưng cũng có thể nói là cần thông cảm.

Tôi tin nhiều người trong họ đã có lúc muốn sống tử tế, nhưng gặp nhiều chuyện bất lực nên tìm cách giải buồn rồi cứ thế không còn làm chủ được mình. Với những tình cảnh trụy lạc hư hỏng khác cũng vậy, cần thấy có nguyên nhân khách quan tác động. Khách quan không khuyên giải, khách quan còn đẩy người ta  xuống vực.

 Một xã hội đẩy rất nhiều người từ tốt sang xấu - dưới mọi hình thức - như ta đang thấy hiện nay phải gọi đích danh là một xã hội phi nhân bản.








Đọc tiếp ...

14 thg 10, 2018

Tổ chức và quản lý xã hội ở nước ta thời trung đại ( phần 2 )



Bài đã đưa trên blog này 26-2-12

Việc quan hỗn hào lẫn lộn
   Các cụ ngày xưa quá tin vào sự nhiệm màu của đạo Khổng. Họ tưởng rằng lầu thuộc Tứ thư, Ngũ kinh, học hết mấy pho sử, làm được câu thơ bài phú là có đủ đức hạnh để dạy dỗ dân, đủ tài kinh luân để đưa dân đến cõi hạnh phúc. Họ tưởng rằng đã là sĩ phu, thì là một người hoàn toàn, một đấng thánh hiền, nên họ mới phó thác cho trách nhiệm quá nặng.

Đọc tiếp ...

13 thg 10, 2018

Tổ chức và quản lý xã hội ở nước ta thời trung đại ( phần 1)


Bài đã đưa trên blog này 26-2-12
    
 Nếu dùng văn hóa theo nghĩa rộng thì việc tổ chức và quản lý xã hội là thuộc về văn hóa quyền lực.
   Nhưng đây là khâu các nhà cầm quyền chưa bao giờ đặt ra một cách bài bản. Trong việc tiếp nhận văn hóa Trung Hoa, cái chúng ta chỉ thích học theo là thơ văn hoặc thi cử, còn chính việc quản lý xã hội thì không để ý hoặc chỉ làm theo lối học tắt học lỏm.
     Các bộ sử ít ỏi viết thời sau cũng chưa bao giờ  được viết với tư cách những cuốn lịch sử xã hội.

Đọc tiếp ...

12 thg 10, 2018

Thời đi học


Trong các tài liệu liên quan đến tiểu sử, tôi khai quê ở Đông Hồ, Thuận Thành, Bắc Ninh, nhưng lại khai nơi sinh ở Hà Nội. Đầu đuôi là thế này.

Đọc tiếp ...

9 thg 10, 2018

Những chỗ yếu của dân ta khi tiếp xúc với văn hóa nước ngoài (phần2)




 Ý kiến của một số trí thức Việt Nam đầu thế kỷ XX

Bắt chước không phải lối
     Tính bắt chước vốn là tính tự nhiên của loài người, dẫu ở nước nào cũng thế cả. Nhưng giá ta có sẵn cái tinh thần tốt rồi chỉ bắt chước lấy những điều có bổ ích thêm cho tinh thần ấy thì thật là hay lắm. Chỉ hiềm vì mình để cái tinh thần của mình hư hỏng đi, mà lại mong bắt chước sự hành động của người ta thì sự bắt chước ấy lại làm cho mình dở hơn nữa.
    Vì đã gọi bắt chước là chỉ bắt chước được cái hình hài bề ngoài mà thôi còn cái tinh thần ở trong, phi(1) lâu ngày nhiễm (2) lấy được mà hoá (3) đi thì khó lòng mà bắt chước được. Thành thử bao nhiêu những sự bắt chước của mình chỉ là làm loạn cả tính tình tư tưởng và phong tục của mình.
     Có lắm người vọng tưởng (4) rằng mình cố bắt chước được người ngoài là mình làm điều có ích cho sự tiến hoá của nòi giống. Không ngờ rằng sự bắt chước vội vàng quá lại thành cái độc gây ra các thứ bệnh cho xã hội. Mà sự lầm lỗi ấy chỉ mỗi ngày một thêm ra chứ không bớt đi được.

 (1) không phải
 (2) thâm nhập
 (3) thay đổi. Từ điển Hán Việt của Thiều Chửu ghi: phàm vật này mất đi mà vật kia sinh ra gọi là hoá
 (4) nghĩ lầm

 Trần Trọng Kim
 Nho giáo, 1930

Đọc tiếp ...

8 thg 10, 2018

Những chỗ yếu của dân ta khi tiếp xúc với văn hóa nước ngoài ( phần 1)


 Ý kiến của một số trí thức Việt Nam đầu thế kỷ XX

      Đằng sau câu chuyện về tính ưa dùng hàng ngoại, thật ra có ẩn dấu những vấn đề lớn lao của mối quan hệ giữa cộng đồng người Việt mình với các cộng đồng mà chúng ta có tiếp xúc trong suốt trường kỳ lịch sử.

Đọc tiếp ...

5 thg 10, 2018

Trở lại với một cuốn sách của GS Vĩnh Sính

Nguyên là bài  Có một căn bệnh gọi là “ Dạ lang tự đại “ 
đã đưa trên blog này 28-2-2009

Nhiều người Việt sống ở nước ngoài đã chia sẻ với chúng ta cảm giác thương mến nhớ nhung khi xa Tổ quốc. Nhưng bên cạnh đó, những ngày gần đây, chúng ta còn nhận được những lời tâm sự kín đáo và những suy nghĩ thâm trầm hơn.
Như trường hợp Vĩnh Sính (1944 - 2014) giáo sư đại học Alberta, Canada. 
Tập sách Việt Nam và Nhật Bản giao lưu văn hoá (1) của ông có nội dung khá phong phú.
Có bài khái quát Vị trí lịch sử của Trung quốc đối với Việt Nam và Nhật Bản hoặc đề cập tới Trục giao lưu văn hoá Nhật Bản Trung quốc Việt Nam vào đầu thế kỷ XX.
Có bài giới thiệu về các nhân vật của lịch sử Nhật như Fukuzawa Yukichi và Asaba Sakitarô .
Có bài so sánh những bản điều trần của Nguyễn Trường Tộ với những đề án có tính cách khải mông của những học giả trong hội trí thức Meirokusha.
Điều đáng nói là ở đó người ta bắt gặp mấy đoạn ghi nhận về một khía cạnh còn đang ít được nói tới trong tâm lý dân mình, nhưng lại rất thiết yếu với công cuộc hội nhập đang được khởi động.
Lời nhắn nhủ của Vĩnh Sính bộc lộ trong ba trường hợp :
1/ Thiên kỷ III đang mỉm cười là mấy trang sổ tay, ở đó Vĩnh Sính chỉ kể lại ít điều ông ghi nhận được từ một hội nghị văn hoá châu Á tổ chức ở Hàn quốc vào tháng 11-1998. Khi bàn về giáo dục, trước hết ông nhắc lại ý kiến của học giả Trung quốc Hà Phương Xuyên là để vươn lên tầm thời đại, các dân tộc châu Á cần chuẩn bị hành trang cho cuộc giao lưu văn hoá. Rồi ngay sau đó ông dừng lại khá kỹ ở một thứ chủ nghĩa quốc gia văn hoá, hay gọi đích danh ra là một thứ “chủ nghĩa sô-vanh văn hoá ” cần phê phán.
Nguyên đây là một ý trong bài phát biểu của giáo sư Hàn quốc Park Seong Rae bàn về Hội chứng độc lập (independence syndrome) hay nói nôm na là “ bệnh độc lập ” của đồng bào mình.
 Theo Park Seong Rae “ nếu người Hàn quốc càng nhấn mạnh độc lập văn hoá của nước họ đối với các nước láng giềng ( Nhật Bản và Trung quốc ) -- chẳng hạn như cảm xúc nghệ thuật độc đáo của người Hàn quốc -- thì chính bản thân họ lại càng phải chịu thiệt thòi nhiều hơn ” (tr 336).
Liên hệ tới Việt Nam, Vĩnh Sính viết “ Hội chứng độc lập trong con người Việt Nam cũng khiến đa số chúng ta thiếu tinh thần tiếp thu những điều hay cái lạ của các nền văn hoá khác, đồng thời chỉ thích nói về những gì hay ho ưu việt trong văn hoá Việt Nam hơn là nói ra những khuyết điểm của mình để sửa chữa.
Hội chứng độc lập cũng khiến ta thiếu tinh thần khách quan khi buôn bán làm ăn hay giao lưu với nước ngoài, chỉ biết mình nhưng không biết người ” ( tr. 337).

2/ Bài viết về Shiba Ryôtarô ( 1923-1996 ) giới thiệu một trong những tác giả đại diện cho nước Nhật và một trong những người viết sử có ảnh hưởng nhất ở Nhật. Ông này có viết riêng một cuốn sách phân tích quá trình lịch sử Việt Nam. Theo ông ở Việt Nam, “ làng xã vẫn là một đơn vị xã hội có tầm quan trọng hơn nhà nước “(tr 280), và đó là một nhân tố gốc, nó quy định trình độ phát triển của xã hội Việt.
Trên đường đi vào tâm lý dân tộc, nhà nghiên cứu Nhật cho là người Việt có một số căn bệnh chưa biết bao giờ mới chữa nổi, như cái tình trạng thiếu tinh thần hợp tác với nhau để làm việc chung ; đặc biệt, theo Shiba Ryôtarô, một khuynh hướng của người Việt là “ xem dân tộc mình ưu việt so với người dân tộc khác ” ( các tr 288 –289), do đó là một sự cản trở đối với việc học hỏi và chung sống với thế giới.

3/ Một dịp khác, Vĩnh Sính dừng lại ở câu chuyện về một nhân vật của thế kỷ XVII. 
Đó là Chu Thuấn Thuỷ (1600-1682) một trí thức Trung quốc sống ở thời nhà Minh bị Mãn Thanh xâm chiếm.Trong quá trình vận động phản Thanh phục Minh, có mấy lần Chu đã lưu lạc sang Việt Nam. Chính quyền đương thời tức các chúa Nguyễn ở Đàng Trong đã có lúc tính chuyện dung nạp ông, nhưng việc không thành, về sau Chu sang ở hẳn Nhật, trở thành một trí thức có công giúp đỡ cho việc đưa nước này vào một giai đoạn hưng thịnh.
 Những ngày làm việc với người Việt được Chu ghi lại qua tập sách mỏng An Nam cung dịch kỷ sự (Ký sự về việc phục dịch ở An Nam, 1657).

Dưới con mắt Chu, xã hội Việt Nam hiện ra với những nhược điểm cố hữu của một cơ chế khép kín ít tiếp xúc với bên ngoài. 
Ngay với thế giới Trung Hoa tưởng là quá quen thì hiểu biết của người Việt cũng rất hạn chế. 
Vừa gặp Chu, các nha lại địa phương đã giở trò hống hách, bắt người ta lạy, hỏi người ta bằng cấp gì, và nếu không có bằng cấp thì lập tức rẻ rúng. Đúng là cái bệnh quá quê mùa và hay chấp nhặt mà ngày nay chúng ta còn bảo lưu khá đầy đủ !
Đến như những câu chuyện mà các bậc gọi là thức giả bấy giờ quây vào hỏi Chu Thuấn Thuỷ thì phần lớn cũng là chuyện tầm thường. Sự yếu kém trong đời sống tinh thần của xã hội bộc lộ ở nhiều mức độ. 
Thứ nhất là lối học chỉ hớt lấy những cái lạ mà thiếu cơ sở học thuật, một sự ngây thơ trong tư duy khiến đương sự phải cười thầm “ Người quý quốc đọc những truyện như Tam quốc diễn nghĩa hoặc Phong thần mà cả tin là thật, cứ đến đây hỏi tôi hết chuyện này sang chuyện khác mãi không thôi. [Trong khi ấy thì lại bỏ qua không nghiên cứu những sách kinh điển như Ngũ Kinh, Tam sử ]. Tựa như bỏ vàng ngọc mà chọn gạch đá, nhổ lúa xanh mà trồng cỏ tranh, không hiểu cái gì phải lấy, cái gì phải bỏ ” (tr.393). 
Thứ hai là mê muội vì những trò mà nói theo thuật ngữ hiện đại là văn hoá tâm linh. “ Nhưng tại sao chư quân tử từ trên xuống dưới lại cứ đến đòi xem tướng số. Hỏi thật không nhằm chỗ, đến cuối cùng không biết là đã làm nhục Du (Tức CTT). Người coi tướng, người xem sao đông biết bao nhiêu mà đếm cho hết. Trong tứ dân (tức sĩ nông công thương -- Vĩnh Sính chú) và chín học phái (tức cửu lưu : Nho gia, đạo gia, âm dương gia vv… Vĩnh Sính chú ), họ là hạng người thấp hèn nhất. So họ với nhà nho có đức nghĩa, khác xa một trời một vực, như đen với trắng, như nước với lửa, hoàn toàn tương phản ” (tr 392).


 Sau hết, Chu cho rằng xứ này “ tuy là nước nhỏ, nhưng khí kiêu ngạo, học vấn nông cạn, kiến thức có giới hạn, tuy có thể tuyển chọn được người tài năng trong nước Dạ Lang của mình, nhưng không tránh được vẻ ếch ngồi đáy giếng ” (tr.401).
Theo ghi chú của Vĩnh Sính, “ nước Dạ Lang ” nói ở đây là một ẩn dụ, bắt đầu từ câu chuyện có thật về một nước nhỏ thời Hán, trong giao thiệp với thiên hạ mắc bệnh hoang tưởng, từng tranh luận với các sứ giả quanh chủ đề “ nước Dạ Lang so với Trung Quốc bên nào lớn bên nào nhỏ ”. Dạ Lang tự đại đã thành một thành ngữ có ghi cả trong các từ điển phổ thông như Tân Hoa, Tứ giác, chuyên để chỉ những cộng đồng quen sống biệt lập nên không có ý thức đúng đắn về vị trí của mình trên thế giới.


Trên đây là một trong những điều tâm đắc nhất tôi cảm nhận được khi đọc Vĩnh Sính. Cảm hứng sâu sắc về đời sống tinh thần xã hội Việt Nam hôm nay đã giúp cho tác giả có cách khai thác lịch sử hợp lý, và lời đề nghị ông muốn gửi gắm sau các trang viết cũng đã rõ, vấn đề chỉ còn là ở chỗ chúng ta có chia sẻ và chấp nhận , để rồi cùng bắt tay vào việc đi tìm những di lụy của nó trong những công việc trước mắt và tìm cách “gỡ rối “… hay không thôi .
 (1) Nhà xuất bản Văn nghệ TP HCM và Trung tâm Nghiên cứu quốc học xuất bản, 2001 . Những số trang ghi trong bài đều dựa theo bản in trên.

Đọc tiếp ...

30 thg 9, 2018

Chung quanh câu chuyện đổi mới nhận thức lịch sử

Được viết đã 27 năm trước,
 bài viết sau không tránh khi nhiu chi tiết lc hu.
Nhiều thiếu xót nêu trong bài nêu ra đã được sửa chữa.
Nhưng tôi tin rng
quan niệm lâu nay về chủ nghĩa yêu nước và
chủ nghĩa nhân đạo --trong văn hc s nói riêng và s nói chung --
 vn đang cần bàn lại; việc cố thủ trong những quan niệm cũ đó chính là một trong những nguyên nhân làm cho sử ta không thích ng vi sự phát triển.


Bài đã in trên blog này ngày 28-11-2015

 Tạp chí Văn học số 6 - 1990 đăng bài Đổi mới nhận thức lịch sử trong nghiên cứu khoa học xã hội nói chung, nghiên cứu văn học nói riêng của Nguyễn Huệ Chi.  Trên nét lớn chúng tôi tán thành các ý kiến của tác giả bài báo và muốn nhân đây, bàn thêm về một vài căn bệnh mà một số tài liệu liên quan tới lịch sử văn học thường mắc phải, nó là lý do khiến cho các công trình nghiên cứu đó ít sức thuyết phục và cả ngành lịch sử văn học trì trệ, chậm phát triển.

Đọc tiếp ...

24 thg 9, 2018

Trong sự suy đồi của nghề thầy, cả xã hội cùng có lỗi

     Bài đã đưa trên blog này ngày 19 - 11- 2015       

Trên báo Tuổi trẻ số ra 4-11-15  có bài viết của một giáo viên mang tên Còn đâu "thương cho roi cho vọt"?
Lâu nay ta thường nghe những lời xã hội ca thán các giáo viên. Rằng thời nay không còn những người thầy như xưa. Đờì sống càng đi lên phẩm chất những người đứng trên bục giảng càng sa sút.
Trước các lời bình luận ấy, không thấy các thầy kháng cự trở lại gì cả - đây tôi nói theo chỗ tôi đọc được. Có vẻ như các thầy trong bụng cũng chấp nhận.

Đọc tiếp ...

22 thg 9, 2018

Ba đoạn ghi ngắn về giới trí thức

HÃY CHUYỂN BIẾN SỚM HƠN 

 Khi ông Phan Đình Diệu qua đời, ngoài các công trình khoa học,  người ta nhắc đến những phát biểu của ông, về các vấn đề chính trị xã hội rất trực tiếp. Những phát biểu đã hai mươi năm trước này đã gây cho ông bao phiền phức khi đang sống nhưng lại là cái điều người ta trân trọng nhất trong cái nhìn của một trí thức.
          Còn khi ông Phan Huy Lê qua đời,  bè bạn và những người yêu mến ông thích nhắc tới những phát biểu mới nhất của ông về sử Việt Nam, như vấn đề triều Nguyễn, vấn đề nhà nước của người Chàm ở miền Nam Trung Bộ, và nói chung là sự có mặt của các dân tộc ngoài người Kinh trên lãnh thổ Việt Nam...

Đọc tiếp ...

20 thg 9, 2018

Ba năm hai trường đại học sư phạm ( hồi ký)

     
    Năm 1961,  học xong lớp 10 trường Chu  Văn An, nơi tôi mơ ước là khoa Văn Đại học  tổng hợp. Nhưng tôi thi trượt, và nói nôm na là bị “tống khứ “ vào Đại học Sư phạm Vinh, chỉ giữ nguyên được cái nguyện vọng  học văn.

Đọc tiếp ...

17 thg 9, 2018

Trường Chu Văn An và niên học 1955-56 (hồi ký)


Trước 10-1954, gia đình tôi ở một ngõ nhỏ trong phố Thụy Khuê – quãng giữa Sở xe điện và Nhà máy giặt. Những năm còn học ở trường tiểu học Thụy Khuê, tôi đã được nghe nói nhiều về Trường Bưởi. Với lòng ngưỡng mộ của tuổi học trò, nhiều phen ngồi tàu điện xuôi ngược Chợ Bưởi — Đồng Xuân, tôi không khỏi liếc mắt về dãy nhà nằm bên Hồ Tây của Chu Văn An cũ.

Đọc tiếp ...

16 thg 9, 2018

Nguy cơ trở thành bãi thải của thế giới hiện đại


Từ gần hai chục năm trước sau khi viết xong bài viết dưới đây tôi sớm cảm thấy  là một thất bại nên hạn chế trong việc chia sẻ với bạn đọc.
Nhưng trong những ngày này tôi cảm thấy có thể cách giải quyết mà tôi đề nghị chưa ổn , nhưng vấn đề tôi đặt ra là có thật, bởi vậy vẫn muốn đưa lại với tính cách một phiếm luận.
Tôi sẽ có thêm mấy dòng tâm sự ở phần cuối.
Nhưng trước hết mời các bạn cùng đọc.

VĂN MINH TÚI NY LÔNG
Chúng tôi đã được biết thứ túi đa năng này ngay trong những năm chiến tranh. Dạo ấy, ny-lông còn là của hiếm. Bằng cách nào đó, nhỡ ra có lần có được một cái túi, thì bất cứ to nhỏ thế nào, cũng phải giữ lại để giặt đi phơi khô rồi dùng tiếp, và nói chung là dùng nhiều lần đến khi nó rách hẳn.
Nay thì túi ny lông các cỡ to nhỏ rất sẵn và được dùng trong nhiều việc.

Đọc tiếp ...

14 thg 9, 2018

Trong thế giới hiện đại cách hiểu về lòng yêu nước đã thay đổi



Nguyên là bài Cách nghĩ hiện đại 
đã đưa trên blog này ngày 10-5-2017

1/Nghịch lý "một viên tướng phải nghĩ tới cách đi theo đối phương"?!
"Từ điển danh ngôn thế giới" do Lưu Văn Hy biên soạn bản của nhà Tổng Hợp TP HCM 2006 có một ưu điểm, so với một số cuốn khác tôi đã đọc.
Ở đây, tác giả chọn được ra nhiều câu nói thú vị có liên quan đến đời sống chính trị hiện đại.
 So với tư tưởng cổ điển, nó mang nhiều chất nghịch lý, không xuôi chiều, nhưng lại có vẻ đúng với tình hình đương thời.
 Chẳng hạn, sách có dẫn lời nhà văn Mỹ Henry Brooks Adams (1838 – 1918) từng chỉ ra một khía cạnh của nghề chính trị: “Làm chính trị, trên thực tế, bất luận trong lĩnh vực nào, luôn luôn là việc tổ chức một cách có hệ thống lòng căm thù.”(tr 12)

Đọc tiếp ...

11 thg 9, 2018

Người trí thức khác với người làm khoa học thuần túy ở chỗ nào?


Trong một bài viết về lòng yêu nước trên trang  FB cá nhân 8-9-2018, tôi có nhắc tới một ý

Nếu bề ngoài, xã hội Việt Nam là do người Việt Nam làm chủ mọi phương diện, nhưng trong kinh tế, là yếu tố căn bản của một xã hội lại do người nước ngoài định đoạt, thì sự độc lập kia cũng chỉ là giả tạo.

Ý này không phải do tôi nghĩ ra mà do nghe được trong một buổi nói chuyện rông rãi của Trần Đại Nghĩa ( 1913-1997).

Đọc tiếp ...

9 thg 9, 2018

Cát nhìn của những người lính già về hậu phương - Nhật ký Quảng Trị 7 - 9 / 1973 kỳ 9


Đến những năm này lính thiếu quá phải vơ vét ở cả lứa tuổi trên dưới 30, nhiều lính già đã là những  cán sự ở các cơ quan miền bắc. Đó là đặc điểm riêng của QTrị .Tôi có kinh nghiệm loại lính này nói rất hay về hậu phương.
 Một nhân vật bóng hình của tôi: Nghĩa.
Hòa bình rồi câu chuyện chúng tôi có thể khá dềnh dàng.

Đọc tiếp ...

6 thg 9, 2018

Nguyễn Minh Châu:Không đến được với chủ nghĩa nhân đạo, anh không viết được về chiến tranh đâu.


Tuy chưa thể hiện hết những ý tưởng của mình,
nhưng những quan niệm dưới đây của tác giả Dấu chân người lính
đã có nhiều chỗ trùng hợp với quan niệm của các nhà văn các nước khác mà
 vì đóng cửa lâu dài , không được đọc nên chúng ta không được biết.
Tôi đã ghi lại những ý này sau những buổi trò chuyện với tác giả trước 1975
Xem các bài trong blog này cuối 2015 .
 https://vuongtrinhan.blogspot.com/2015/12/nguyen-minh-chau_11.html

Đọc tiếp ...

Xã hội học chiến tranh


Ghi chép từ công trình nghiên cứu xã hội học Nga       
    


             
 Xã hội học chiến tranh

      Bản tiếng Nga của  V.V. Serebryannikov
Tác giả sách là giáo sư tiến sĩ khoa học triết học .Sách nằm trong chương trình nghiên cứu của  Viện nghiên cứu xã hội chính trị  Viện hàn lâm khoa học nga  và Trung tâm xã hội học các vấn đề anh ninh quốc gia
Nhà xuất bản Thế giới khoa học , Moskva, 1977

                                        
Lời dẫn
               Nếu đọc bài viết Bối cảnh lịch sử Việt nam giai đoạn 1558-1802 tập san Nghiên cứu Huế tập VII, NXB Thuận Hóa 2010, ở tr 93-95, người ta sẽ  thấy nhà sử học Nguyễn Hữu Châu Phan cho biết :
             “Họ Nguyễn trong lãnh thổ Đàng Trong từng dùng chính sách táo bạo” biến hết dân làm binh”.
“Một tu viện trưởng là Choisy, đến Đàng Trong vào năm 1656 nhận xét “Người Đàng trong chỉ sống với chiến tranh.”
“Thích Đại Sán, một nhà sư Trung quốc cũng có mặt thời ấy thì ghi nhận là trong nước[ Đàng Trong] , hay bàn việc võ bị, chẳng chuộng văn đức’

Đọc tiếp ...

5 thg 9, 2018

Nhật ký Quảng Trị 7 - 9 / 1973 kỳ 8



 Ông Nhĩ kể : Tôi vào một gia đình, ông chủ nhà 50 (ở đây  chỉ còn đàn ông  trên 50) ông làm một hầm thật oách. Tôi bảo ông nên phân chia gia đình ra. Ông bảo tôi không sợ. Tôi trông tướng ông rất thọ. Mà ông ở nhà tôi thế này, lo gì nữa. Quả thật, lâu nay nhiều nhà trong xóm bị vướng bom lu bù, nhưng nhà ông này không việc gì. Đến một hôm đang ngồi, thì có tiếng bom. Tôi chỉ kịp chui xuống  một cái hầm ở ngoài sân. Lúc lên, thì thấy cả cái nhà cũ đã bật đi. Không còn dấu vết gì. Không biết là loại pháo gì. Tôi không còn biết nói thế nào nữa.

Đọc tiếp ...

3 thg 9, 2018

Lưu Quang Vũ - một kiểu nghệ sĩ chuyên nghiệp riêng của thời đại chúng ta


Những ý nghĩ khác nhau

về cuộc đời và sáng tác của Lưu Quang Vũ



Trong dịp kỷ niệm 40 năm ngày mất của Lưu Quang Vũ tôi không viết được gì mới chỉ trích trong sổ tay những ghi chép về anh hồi mấy năm 67 – 75 chỉnh lý lại một chút rồi đưa lên mạng. Cạnh đó thì được in lại một bài  cũ của tôi về thơ Vũ tôi viết từ 1993. Thật tình là tôi cũng rất ưng ý bài viết đó: Tôi có cảm tưởng đã nói được cái phần đóng góp chủ yếu của Lưu Quang Vũ về văn học và tôi tin là không phải là kịch mà chính là các bài thơ có tính chất “viển vông, cay đắng, u buồn” của Vũ viết trong những năm chiến tranh mới là cái phần ở lại với lịch sử.

Đọc tiếp ...