17 thg 5, 2019

Nhật ký chiến tranh - Binh trạm 12 Tây Quảng Bình 1969 (4)


 8/6
Đi nhờ xe từ Khe Ve về Tân Đức. 
Ở với 757, 1 C đặc khu 4. Các anh khu 4 ta ra vẫn thuần hơn khu 3, giáo viên Huệ trông đặc một anh xã đội, lúc nào cũng bàn những chuyện nuôi gà, trồng rau (khác hẳn với Hải nhẹ nhõm, tài hoa) - các cô Tý, cô Tân có đưa áo cho nhau mặc, cười đùa, thì vẫn có vẻ cứng, làm đỏm một lát cho vui chứ không như mấy cô Hoa, cô Lan bên kia,  kín đáo mà vẫn lộ vẻ điệu không chê vào đâu được.
Mấy anh khu 4 cứ cần cù, cứ bàn chuyện cách mạng như thế mà phải. Ra vẻ tài hoa, chơi đàn... thì các anh lại ra vẻ quỷnh ngay.
Cũng như cái giọng Quảng Bình mà mình biết. Con trai nói ra vẻ yếu quá, con gái nói lại ra vẻ thô (dọng của Chắt chính trị viên phó đấy, một người đàn ông thỉnh thoảng ra vẻ đàn bà một tí).

Đọc tiếp ...

14 thg 5, 2019

Nhật ký chiến tranh - Binh trạm 12 Tây Quảng Bình 1969 (3)

 3/6.
Sang C2 đội 89. Một người thanh niên học xong lớp 10, bạn của Lê Trọng Việt: Hải. Con đường của những người thanh niên con em gia đình có vấn đề với cách mạng. Bây giờ họ nghĩ suy gì, cứ tự mình cũng đoán ra được!
Nhưng thú nhất vẫn là chuyện các cô TNXP.

Đọc tiếp ...

10 thg 5, 2019

Qua việc giảng dạy toán học có thể thấy mọi thứ đang đi xuống

 Trên  ANTG  giữa & cuối tháng ra ngày 25-4-19 có bài 
Giáo sư, Tiến sĩ khoa học, nguyên Viện trưởng Viện Toán học Ngô Việt Trung: Mở sách toán phổ thông ra, tôi thấy những điều trăn trở!

Đọc tiếp ...

9 thg 5, 2019

Mấy cảm nhận về sự khác biệt giữa giáo dục miền Nam và giáo dục miền Bắc

Đã in  tạp chí NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN

 số 7-8 (114-115).2014, 
số chuyên đề GIÁO DỤC MIỀN NAM VIỆT NAM (1954- 1975)

Đưa lần đầu trên blog này ngày 10-12-2014

Tôi vốn là người làm nghề nghiên cứu văn học.Trong cái nghề thuộc loại công tác tư tưởng này, những năm trước 1975, tôi chỉ được phép đọc các sách báo miền Bắc, còn sách vở miền Nam bị coi như thứ quốc cấm. 
Có điều, không phải chỉ là sự tò mò, mà chính lương tâm nghề nghiệp buộc tôi không thể bằng lòng với cách làm như vậy. 
Tôi cho rằng, muốn hiểu cặn kẽ văn học hiện đại, phải hiểu văn học cổ điển; muốn hiểu văn họcVN phải hiểu văn học thế giới. Thế thì để hiểu văn học miền Bắc làm sao lại lảng tránh việc nghiên cứu văn học miền Nam được.

Đọc tiếp ...

8 thg 5, 2019

Nhật ký chiến tranh - Binh trạm 12 Tây Quảng Bình 1969 (2)

23/5
Tối đến D2053 công binh. Đơn vị vừa bị đánh , nó đánh trúng đường ống dẫn xăng rồi cứ thế nó tống bom bi nổ chậm vào. Một cậu ba lô cháy, áo cứ quăn như giấy, những mép bị bạc hết, và các túi thì rã ra, chực rơi xuống. Lính, một cậu bị mảnh bom trúng đầu nói lảm nhảm một mình lại toàn là những câu ghê người. Nó bảo nó làm một cú đòn, báo cáo lên đoàn 500, nói rằng đây bệnh tư tưởng hết, cả tham mưu trưởng, cả các trợ lý, chỉ có mình nó, với lại chính trị viên trưởng yên tâm mà thôi.Thấy một tay cán bộ, nó bảo ông này chỉ vớ vẩn, vệ sinh mà làm qua loa thế kia, thì anh em nó làm thế nào? 

Đọc tiếp ...

7 thg 5, 2019

Nhật ký chiến tranh - Binh trạm 12 Tây Quảng Bình 1969 (1)

 17/5.
Sao thời chiến mà cuộc sống của những khu Hàm Rồng, Nam Ngạn tĩnh mịch quá, đến nỗi ta hơi ngạc nhiên, hơi xấu hổ, vì quá quan trọng hóa tình hình trong khi với một vẻ bình thản như thế nó đang phớt lờ tất cả.
Vinh thì không bao giờ  để cho người ta quên quá khứ của mình. Đến bây giờ nhiều người thỉnh thoảng vẫn nhắc lại năm ngoái năm kia…

Đọc tiếp ...

3 thg 5, 2019

Những cuộc phỏng vấn trong giả định - kỳ 2 - Tản Đà Nam Cao Xuân Diệu

TỰ NHIÊN, THÀNH THỰC 
CÙNG MỘT CHÚT SAY SƯA…
Với Tản Đà , bên chiếu rượu

Về tài làm văn làm thơ của mình, trong bài Hầu trời --, gợi cho chúng ta hình ảnh của một Táo quân-- Tản Đà đã kể là ông từng đọc nhiều sáng tác cho cả thiên đình nghe và được tưởng thưởng hết mức:
Đọc hết văn vần, sang văn xuôi
Hết văn thuyết lý, lại văn chơi
Đương cơn đắc ý đọc đã thích
Chè trời nhấp giọng càng tốt hơi

Văn dài hơi tốt ran cung mây
Trời nghe Trời cũng lấy làm hay
Tâm như nở dạ, Cơ lè lưỡi
Hằng Nga Chức Nữ chau đôi mày
Song Thành Tiểu Ngọc lắng tai đứng
Đọc xong mỗi bài, cùng vỗ tay.

Đọc tiếp ...

1 thg 5, 2019

Những cuộc phỏng vấn trong giả định - kỳ 1 - Hồ Xuân Hương Tú Xương


Thật ra cách tìm xuống âm phủ để hỏi chuyện “các bậc tài hoa” đã chết như thế này từng được nhà văn Phạm Thị Hoài đầu têu với việc phỏng vấn Hồ Xuân Hương in ở Lao động chủ nhật số 2 ra ngày 10-12-1989; người viết bài này chỉ học đòi mà phỏng theo.
Nhưng tôi – xin mạn phép tự nhận—là có cách làm riêng.
Phạm Thị Hoài mượn hình thức hỏi chuyện để trình ra một số ý nghĩ của mình về cuộc cách mạng tình dục; bài phỏng vấn đó thực chất là một tiểu luận.
Còn các bài viết của chúng tôi là bài phỏng vấn … thứ thiệt, với nghĩa đúng là những cuộc đối thoại. Sau các câu hỏi, là những câu trả lời.
Chúng do người phỏng vấn bịa ra.
Nhưng tôi tin rằng trong hoàn cảnh ấy, trước các câu hỏi ấy, người đối thoại với tôi --- trung thành với tính cách vốn có của mình -- có thể đưa ra câu trả lời như vậy.
Họ sẽ ký duyệt cho bài phỏng vấn của tôi.
Cố nhiên đấy là mong muốn chủ quan. Xin bạn đọc xa gần, nhất là các đồng nghiệp thử xác minh hộ xem những người đối thoại với tôi có đúng là những Hồ Xuân Hương Tú Xương Tản Đà Nam Cao Xuân Diệu thật không, hay là những hồn ma nào khác..
Cả năm bài dưới đây đều in lần đầu trên tờ Thể thao & văn hóa đầu những năm chín mươi, sau đó đưa vào Những kiếp hoa dại - 1993 và in lại vào Cánh bướm và đóa hướng dương - 1999.

Đọc tiếp ...

30 thg 4, 2019

Cảm giác đùa chơi trong công việc



CHŨ CHƠI KIA CŨNG CÓ BA BẢY ĐƯỜNG
Trong tiếng Việt, chữ chơi thường mang một ý nghĩa không được hay lắm.
 Người ta lấy chơi để đối lập với sự chăm chỉ (làm chơi ăn thật), sự đứng đắn (nói chơi) và cho rằng hoạt động của con người ở đây chẳng có nguyên tắc, thậm chí cũng chẳng cần đến sự cố gắng nào cả (dễ như chơi).
Hình như chỉ có một lần, người xưa nói rằng chơi là cả một nỗ lực có định hướng - nghề chơi cũng lắm công phu - Nguyễn Du.

Đọc tiếp ...

28 thg 4, 2019

Nhân ngày 30-4 nghĩ lại về chiến tranh và hoà bình

Trên đường tìm hiểu về chiến tranh và hòa bình, tôi đã gặp nhiều tài liệu của các tác giả khác viết khá thuyết phục, dưới đây là hai ví dụ

I/


TƯ DUY PHÁT TRIỂN
PHẢI KHÁC VỚI TƯ DUY CHIẾN TRANH
Ngay trong những năm trước 1975,  quan niệm về chiến tranh của xã hội ta đã chẳng giống một ai.
Quan niệm  kiểu đó vẫn  tiếp tục chi phối xã hội hậu chiến cho đến hôm nay.
Chúng ta đang làm kinh tế theo kiểu đã làm chiến tranh.
Trên tờ Sài Gòn Tiếp Thị số ra 2-9-2013, một học giả VN tại Pháp là ông Cao Huy Thuần khi trả lời phỏng vấn đã nhận ra điều này.
Ông viết.
"Mỗi ngày anh du kích giết được 3 thằng Tây, vậy 10 ngày anh giết được bao nhiêu thằng?", ấy là bài toán đố lớp tiểu học hồi 1950. Bây giờ không ai ra toán kiểu đó nữa. Tuy vậy, chiến tranh vẫn chưa ra khỏi cái đầu và thực tế chính trị. Như một quán tính, chiến tranh vẫn đè nặng trên tư duy.
....
Đừng áp dụng quy luật của thời chiến vào giai đoạn của thời bình.
Một bên là nước mặn, một bên là nước ngọt.
Chiến tranh là chỉ huy, hòa bình là nghe ý kiến.
Chiến tranh là mệnh lệnh, hòa bình là biện luận.
Chiến tranh là đại bác, hòa bình là cây bút.
Chiến tranh là sắt thép, hòa bình là tơ lụa.
Chiến tranh là thù địch, hòa bình là đối thủ.
Chiến tranh là cưỡng bức, hòa bình là thuyết phục.
Chiến tranh là lý lịch, hòa bình là vua Trần xí xóa.
Chiến tranh là bạo lực, hòa bình là pháp luật.
Chiến tranh là sa trường, hòa bình là nghị trường.
Chiến tranh là lạnh lùng của bộ máy, hòa bình là nồng ấm của hơi thở con người.
Chiến tranh là nhất cực, hòa bình là đối trọng.
Chiến tranh là con ó quắp mũi tên nơi móng, hòa bình là con bồ câu lông trắng, chân son, và mắt ôi là bồ câu.
(Ở đoạn dưới, khi được hỏi thách thức lớn nhất đối với việc phát triển đất nước hiện nay là gì, ông Thuần còn bảo là chưa có tư duy hòa bình, tức tư duy phát triển.)
***
Tôi không thích cách diễn tả hoa mỹ đôi khi đến tối nghĩa, lối ví von với chúng tôi là khó hiểu, và khi hiểu ra thì không chắc đã hoàn toàn tán thành các nhận xét trên,
nhưng cho các ý trên đây của GS Cao Huy Thuần là một cách đặt vấn đề cần thiết về hoàn cảnh hậu chiến
nên ghi lại đây để các bạn cùng tham khảo.

II/

HẬU QUẢ CHIẾN TRANH
Lao Động Cuối tuần số 27 Ngày 06/07/2008 




(LĐCT) - Chiến tranh đã chấm dứt trên đất nước chúng ta hơn (hay gần) ba mươi năm. Những dấu ấn của chiến tranh trên mặt đất không còn mấy, hơn 60% dân số dưới 30 tuổi và số người dưới 35-36 tuổi, những người hầu như không có ký ức gì về chiến tranh, có lẽ không dưới 75% tổng dân số.
Tuy nhiên hậu quả của chiến tranh vẫn còn hiển hiện, không chỉ ở những người nhiễm chất độc màu da cam, không chỉ ở bom mìn còn sót lại và gây ra những hậu quả đau lòng, không chỉ ở những vết thương trong từng gia đình hay sự ly tán, không chỉ trong các tác phẩm văn học nghệ thuật về chiến tranh..., mà còn ở cả trong nếp tư duy, trong tiềm thức của rất nhiều người kể cả những người còn rất trẻ. Dưới đây chúng tôi chỉ điểm sơ qua loại hậu quả sau cùng này.

Hãy bàn đến cách dùng từ, dùng khái niệm. Trên các phương tiện truyền thông đầy rẫy những từ, những khái niệm gắn với chiến tranh như "hành quân", "ra quân", "chiến dịch", "mặt trận", "tổng tư lệnh", "tư lệnh", "động viên", "xung kích" v.v... được dùng cho những việc, những tình huống thời bình, chẳng dính líu gì đến chiến tranh cả.

Nhiều người sính dùng từ "ra quân", nào là "ra quân tiếp sức mùa thi", và những ngày này người ta nói nhiều về "ra quân xử lý nghiêm xe tự chế", đến "ra quân dẹp hàng rong" v.v.  Hết "ra quân" lại đến các "chiến dịch" chống than lậu, chống tham nhũng, chống hàng giả, chống dịch bệnh, chống ăn cắp bản quyền, chống ăn xin,... Và hầu hết những người "ra quân", tham gia "chiến dịch" này đều là những người dưới 30 tuổi.

Nhiều nhà chính trị được gắn cho (và có khi họ cũng thích được gắn cho) chức "tư lệnh" thậm chí "tổng tư lệnh" cứ như cả bộ máy nhà nước là quân đội. Cách dùng từ, dùng ẩn dụ, dùng hình tượng gắn với chiến tranh là một cách diễn đạt bình thường, có mặt hay của nó, có thể giúp cho người ta dễ hiểu, dễ lĩnh hội. Song có thể khẳng định việc sử dụng này ở nước ta hơi nhiều, hơi lố và khi bàn đến hậu quả chúng ta chỉ bàn sơ đến những mặt tiêu cực của nó.

Thứ nhất, trong thời bình khi lạm dụng các khái niệm gắn với chiến tranh có thể tạo ra những hiểu lầm không đáng có. Việc lập lại trật tự giao thông, trật tự hè phố là việc rất tốt, rất cần, song "ra quân xử lý nghiêm xe tự chế", "ra quân dẹp hàng rong" được nêu ra trong những ngày qua và nhất là từ 1.7.2008 là thế nào? Những người dùng xe tự chế, bà con bán hàng rong đâu phải "kẻ thù" mà phải "ra quân" xử và dẹp họ. Cách dùng từ ở đây rất không ổn, nếu không nói to tát là ngược với chủ trương "của dân, do dân và vì dân".

Thứ hai, với khoảng 75% dân số không hề có ký ức gì về chiến tranh mà các phương tiện truyền thông từ cái đài phường, báo chí đến truyền hình lại dùng quá nhiều từ ngữ gắn với chiến tranh, thì có thể thấy hiệu quả truyền thông chưa chắc đã cao mà lại có thể còn gây cho họ lẫn lộn về khái niệm. Chiến tranh là một trạng thái bất thường mà nhân dân không mong muốn. Trong tình hình yên bình, bình thường mà cứ phải quen với từ ngữ của trạng thái bất thường là hiện tượng không bình thường.

Tai hại hơn, khi việc lạm dụng này làm hằn sâu nếp tư duy thời chiến trong suy nghĩ của chúng ta. Trong chiến tranh, chúng ta phải tập trung mọi nguồn lực để chiến thắng kẻ thù. Trong chiến tranh cần kỷ luật sắt, cần cách tổ chức "nhà binh". Trong hòa bình và xây dựng, nhất là trong thời kỳ hội nhập quốc tế và toàn cầu hoá duy trì tư duy "nhà binh" có thể gây tác hại khôn lường.

Nhà nước không phải là quân đội. Hiện nay nhà nước cũng chẳng còn là nhà nước "bao trùm", gia trưởng, làm mọi thứ, lo mọi thứ nơi việc dùng ẩn dụ quân sự có thể hợp, như ngày xưa. Nhà nước chỉ là một bộ phận của xã hội.

Tư duy theo kiểu quân sự, theo kiểu "chiến tranh" có thể khiến cho nhiều quan chức nhà nước trở nên độc đoán, cứ nghĩ mình là "tư lệnh" thực và "trên bảo" thì "dưới phải nghe" song ngay cả bên trong bộ máy nhà nước có khi dưới cũng không nghe, nên gây bức xúc không cần thiết cho chính họ.

Tư duy theo kiểu chiến tranh có thể khiến người dân quen với mệnh lệnh, quen với sự phục tùng và điều này có thể làm thui chột những sáng kiến, sự mạnh dạn, sự đổi mới rất cần cho sự phát triển đất nước.

Và cuối cùng, tư duy theo kiểu chiến tranh có thể khiến cho chúng ta nhìn đâu cũng thấy toàn "kẻ thù", làm cho tư duy "cùng thắng", nếp nghĩ rất cần trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập, khó đi vào cuộc sống. Nó làm cho ứng xử của các nhà hoạch định chính sách dễ bị méo mó, nó ảnh hưởng đến hành vi của các lãnh đạo doanh nghiệp và của cả những người dân bình thường, nó cản trở sự phát triển.

Bàn sơ về một khía cạnh của hậu quả chiến tranh cho thấy vấn đề không đơn giản. Các phương tiện thông tin đại chúng, nhất là những người có cương vị cao rất nên cân nhắc đến những hậu quả "chiến tranh" theo nghĩa này. Và cũng cần khắc phục những hậu quả chiến tranh như vậy nữa.

TS Mai Quang Hoà



Đọc tiếp ...

23 thg 4, 2019

Sự cần thiết của văn học


Xin giới thiệu lại một bài viết cũ tôi viết từ 1988, khi tôi đang ở Moskva và chỉ hướng về đời  sống trong nước qua những trang báo Văn nghệ . Bài được dẫn lại theo trang 
http://www.viet- studies.net/NhaVanDoiMoi/VuongTriNhan_SuCanThietVanHoc.htm
Xin cám ơn anh Trần Hữu Dũng!

          Trong hoàn cảnh kinh tế khó khăn như hiện nay, đôi lúc người ta hơi ngần ngại khi nói tới việc sáng tác. 
"No đắt bói, đói đắt quà", dân gian đã có câu như vậy. Việc cầm bút vào những lúc như lúc này là một cái gì trớ trêu, đâu có cần cho ai, đâu có được việc gì. 
Mà nói thế cũng rất xứng đáng để "phẩy tay, gạt phắt đi" nếu đó là thứ văn học hời hợt, công thức mà mỗi chúng ta không trừ một ai, bấy lâu không khỏi dính dấp ít nhiều. 
Nhưng ta tin văn chương không đáng để bị đối xử như vậy. Người ta vẫn cần nó, không phải thứ văn học dởm, chiều khách mà là thứ văn học muốn đối diện với người đọc, thứ văn học sau khi kể rằng chúng ta đang sống trong day dứt, bức bối, lại muốn thân tình bàn bạc với người ta xem nên sống thế nào thì phải, sống thế nào để khỏi xót xa, ân hận.
 Tôi nghĩ rằng các sáng tác gần đây trên báo chí, được viết do tiếng dội của đời sống hôm nay, phần lớn đang hướng theo cách viết đó, cả những truyện khá, lẫn những truyện bình thường, chất lượng dừng lại ở mức một truyện đăng báo, ít nhiều đều đã là những bằng chứng giúp chúng ta "nhận diện đời sống". 

Đọc tiếp ...

22 thg 4, 2019

Mấy nét ghi vội ở Sài Gòn đầu tháng năm 1975

Những ghi chép dưới đây của tôi  được thực hiện ngay khi sự kiện đang xảy ra; bởi vậy  xin các  bạn tha thứ cho những  non nớt và cái nhìn phiến diện của người viết trước những biến động to lớn của thời cuộc. Nhưng cái cảm hứng chính đã đến với tôi hồi ba mươi tuổi thì đến nay tôi vẫn giữ.
3/5
 Sân bay Gia Lâm, cỏ dại, những phi công thũng thĩnh, phảng phất cảm giác hoang vắng. Nhưng Tân Sơn Nhất thì đang bẩn như một bãi chợ. Rộng quá, gấp bao nhiêu lần Gia Lâm, không tính được.
Lính phá như hồi Quảng Trị - chỗ nào cũng có dấu tích của bàn tay người lính đã sờ tới, nhưng chỗ nào cũng là sự bất cần bừa bãi ăn không được thì đạp đổ.
Cái sức sống ở đây đang thật là hạ cấp. Người ta không có khái niệm về sống chung mà chỉ có khái niệm về những thứ lặt vặt chất cho đầy dạ dày, cho đầy một cái ba lô.

Đọc tiếp ...

19 thg 4, 2019

Nên nhớ về chiến tranh như thế nào?

***
Bài học từ trận lụt phố cổ Passau là tên một bài viết in trên TTCT số ra 03/06/2014, tác giả là Võ Văn Dũng (nghiên cứu sinh ngành Đông Nam Á - Trường đại học Tổng hợp Passau, CHLB Đức).
Bài báo kể:
Passau (bang Bayern, Cộng hòa liên bang Đức) thành phố hơn 2.700 năm tuổi. Tháng 6-13, thành phố bị một trận lụt. Gần bốn tháng sau, nhà nhiếp ảnh Christoph Brandl từ Berlin đến Passau để phối hợp tổ chức một cuộc triển lãm kéo dài sáu ngày về trận lụt với phong cách “mở” hoàn toàn: mọi người dân có thể tham gia triển lãm tranh ảnh, vật dụng... liên quan đến trận lụt và thoải mái sáng tạo cách sắp đặt theo ý tưởng của mình.
Triển lãm diễn ra trên các tuyến đường đi bộ của phố cổ, gồm nhiều bức ảnh, những đôi ủng dính đầy bùn đất, la liệt cuốc, xẻng, áo mưa... Cuộc triển lãm tự do ấy đã thật sự gợi nhớ những ký ức vừa đáng buồn bởi những mất mát do thiên tai, vừa ấm áp bởi sự xích lại gần nhau hơn của cả cộng đồng.
Những hình ảnh về trận lụt tiếp tục được tờ Tin Tức Passau (Passauer Neue Presse) kêu gọi công chúng gửi về, kết hợp với những hình ảnh ngập lụt của thành phố láng giềng Deggendorf để thực hiện cuốn sách ảnh 2013 Hochwasser In Passau und Deggendorf(2013 Ngập lụt ở Passau và Deggendorf).
Sách bán chạy như tôm tươi, nhanh chóng được tái bản, một phần lợi nhuận được góp vào quỹ sửa chữa phố cổ. Điều thú vị là nhiều du khách đã mua cuốn sách này để chứng kiến hình ảnh một Passau chìm sâu trong biển nước và xác xơ sau lụt, bên cạnh một Passau cổ kính, bình yên trong những tập sách ảnh thông thường.

Đọc tiếp ...

15 thg 4, 2019

Không lý tưởng hóa quá khứ

Nguyên là bài   Con người và tư tưởng thời bao cấp đưa trên blog này ngày 15-7-2011


NHÂN CUỘC TRƯNG BÀY VỀ
Cuộc sống Hà Nội 1975-86
         
 Một cách làm sử
       Mặt nghệt ra như mất sổ gạo. Một yêu anh có may ô -- Hai yêu anh có cá khô để dành -- Ba yêu rửa mặt bằng khăn--- Bốn yêu anh có cái quần đùi hoa. Những câu ca dao tục ngữ ấy được dịch hẳn ra tiếng Anh rồi được kẻ nắn nót cẩn thận trên những bức tường lớn, dưới đó là mấy gian trưng bày các hiện vật theo một cách thức mà trong điều kiện ở Hà Nội này phải gọi là “hoành tráng”.Đó là một căn hộ thu nhỏ với những vật dụng phổ biến một thời, kể cả cái hố xí được ngăn lại để nuôi lợn. Đó là một cửa hàng gạo có kèm theo thông báo tháng này bán gạo thế nào. Rồi một cửa hàng bách hóa với biển hiệu rỉ nát và những bao thuốc cũ mèm, tưởng như sắp mốc đến nơi.      
     Bộ sưu tập Cuộc sống Hà Nội thời bao cấp đã trình diện như thế tại bảo tàng có uy tín số một hiện nay, Bảo tàng dân tộc học.

Đọc tiếp ...

13 thg 4, 2019

Hà Nội tháng 4 tháng 5 1974


Tiếp theo bài  Nhật ký chiến tranh Hà Nội đầu 1974 đưa ngày 15-3-2019
https://vuongtrinhan.blogspot.com/2019/03/nhat-ky-chien-tranh-ha-noi-au-1974.html

     12/4

   Ngày hè đầu tiên, là ngày hôm kia, mưa rào.
   Và ngày hôm nay, nắng rực rỡ, như suốt mùa hè qua, suốt những mùa đông qua...đã nắng. Hoa gạo bung ra đã được một tháng. Cây đại trước cửa phòng tôi đã lên những mầm thật mạnh. Suốt mấy ngày hôm nay, tôi có nhiều việc, lúc thật vui, thật buồn. Mùa rét qua, có những khi tôi làm việc được liên tục. Mùa xuân này, thì cái chính là tôi không còn an tâm để làm việc bình thường, tôi không thể chịu được tình trạng nhạt nhẽo, lối đi bước một.
   Tôi luôn luôn cảm thấy rằng mình thừa sức, nhưng lại không tìm ra việc đáng làm. Và rút cục, kết quả công việc gần như số không.

Đọc tiếp ...

11 thg 4, 2019

Trở lại với các văn bản viết bằng chữ Hán chữ Pháp của trí thức Việt


Có một đoạn văn của Nguyễn Tuân viết từ thời tiền chiến như sau:

 “Sớm nay, tâm trạng tôi lúc nằm nhàn tưởng ở giường với  cuốn sách mở trên ngực là tâm trạng  một người đang vui sống, vui đến nỗi  cảm thấy cái vô dụng của mọi cuộc Cách mệnh  xã hội trên thế giới. Và tính cách vô bổ của mọi thứ Tôn giáo  lúc này lại càng rõ rệt quá. Tôi huýt sáo gió. Tôi hát Tây. Tôi ngâm thơ Tầu cổ".

Đọc tiếp ...

8 thg 4, 2019

Đên với Đông Nam Á thêm hiểu Việt Nam

Ngoài chuyện tiền bạc, về tâm lý thôi mà nói, tôi thường đã rất ngại, không dám tính đi du lịch các nước giàu có bên trời Tây.
 Lý do là vì đi về chỉ thấy buồn, sao ở đó người ta sướng thế tử tế thế mà nước mình con người hư hỏng và xã hội trì trệ đến thế.
Nhớ có lần đọc một câu của B. Russel, do Hà Văn Tấn dẫn lại, bàn về sự hấp dẫn của sử, đại ý nói là đọc sử để hiểu những ngu ngốc của thời xưa do đó dễ dàng chịu đựng hơn những ngu ngốc của thời nay.

Đọc tiếp ...

5 thg 4, 2019

Tôi đã mò mẫm đi vào con đường nghiên cứu văn hóa như thế nào?


Tạp chí Văn hóa Nghệ An số ra 1-5-2015 đã in bài Nghiên cứu văn hóa từ góc nhìn của Vương Trí Nhàn
Dựa trên cơ sở bài đó, tôi viết lại thành bài “tự phỏng vấn” sau đây, xin được coi như một thứ “tự thú” nghề nghiệp. 
Cảm ơn bạn Phan Thắng về một số câu hỏi gợi ý.

Đòi hỏi tự nhiên của nghề nghiệp

-- Yếu tố nào đã kích thích ông nghiên cứu văn hóa , dù chỉ là nghiệp dư như ông hay nói?
 Từ hè1982, bên Thông tấn xã Việt Nam cho ra tờ báo tuần khổ nhỏ Thể thao và văn hóa, với hai anh Hữu Vinh và Hà Vinh làm nòng cốt. 
Các anh ở đấy rất thạo về văn hóa phương Tây và được phép mang những kinh nghiệm học được ở phương Tây để đổi mới cách làm báo. 
 Báo chí Hà Nội hồi đó, kể cả tờ Văn Nghệ của Hội nhà văn, mang nặng tính chất công báo và tình trạng đông cứng này đã tồn tại suốt những năm chiến tranh. 
Nguyễn Quân, một người bạn tôi học ở Đức về, có tư duy khá hiện đại, cũng từng công nhận là TT&VH góp phần mở ra cả một giai đoạn của báo chí văn nghệ Hà Nội.  
Đang loay hoay tìm đường chúng tôi tìm thấy ở tờ báo này một môi trường để học hỏi. Tôi rất sung sướng được báo mời làm một thứ cộng tác viên ruột. Ở đó tôi được viết theo cách của mình, bằng thứ ngôn ngữ báo chí hiện đại mà tôi học được qua các bài dịch hoặc viết lại từ báo chí nước ngoài.
 Mấy năm đầu, làm với TT&VH tôi chỉ giữ trang văn học. 
Chợt xảy ra một công việc. 
Từ năm 1991, bên Viện khoa học xã hội “chạy” được một đề tài cấp nhà nước là chương trình nghiên cứu về văn hóa do Nguyễn  Hồng Phong làm chủ nhiệm, trong đó có đề tài Đề cương văn hóa Việt nam trong giai đoạn mới (KX 04-17). Nhà văn Tô Hoài được phân công quản đề tài này. Ông chọn Hoàng Ngọc Hiến, Ngọc Trai và tôi làm chân rết. 
Trong thời gian làm thư ký cho đề tài, tôi có dịp đọc tàm tạm một số sách từ lý luận văn hóa nói chung tới các công  trình nghiên cứu về văn hóa VN trước đây. 
Bản thân tôi đã viết được một tiểu luận hơn trăm trang đánh máy mang tên Sơ bộ tìm hiểu di sản văn hóa Việt Nam (đã đưa lên trang blog của tôi).

Đọc tiếp ...

31 thg 3, 2019

Đến Đài Loan thấy hiểu thêm Hà Nội



(Ghi chép khi đi du lịch bụi tháng 5-2010)

 Chủ tâm của tôi đi lần này  là muốn tìm hiểu thêm nền văn hoá Trung Hoa ngoài lục địa. Tôi đã làm điều này một phần trong những chuyến đi Singapore, Malaysia. Lần này, đối tượng khảo sát sẽ điển hình hơn -- xin phép dùng chữ “khảo sát” cho oai. Đi nhặt nhạnh thêm ít tư liệu, thế thôi!

Đọc tiếp ...

30 thg 3, 2019

Ba bức thư gửi Bùi Ngọc Tấn khi biên tập cuốn "Một thời để nhớ"



Khoảng đầu năm 1992, Nhà xuất bản Tác Phẩm Mới chúng tôi có kế hoạch làm một tập sách gồm các bài viết về nhà văn Nguyên Hồng. Tôi được giao việc biên tập cuốn sách này.
 Khi chuẩn bị bản thảo mà trong đó một số lớn là do Hội văn nghệ Hải Phòng cung cấp, tôi thú vị khi được đọc một bài viết của nhà văn Bùi Ngọc Tấn. Trước đó tôi chưa quen anh và không hề biết rằng anh đã có một thời gian đi tù và bây giờ chỉ đang tập viết trở lại.
Đối với tôi, công việc của một người biên tập viên không phải chỉ bao gồm soát xét những gì được viết trong sách mà có thể cần phải tham gia vào việc tổ chức biên soạn nội dung, làm lại các bài vở và sắp xếp lại một cách hợp lý. 
Đọc bài viết của Bùi Ngọc Tấn về Nguyên Hồng, tôi thấy ngay rằng nó có thể mở rộng ra đào sâu thêm, bổ sung nhiều chi tiết khác để trở thành một cuốn sách. 

Đọc tiếp ...