2 thg 9, 2019

Sự kiêu hãnh quá đáng là dấu hiệu cho thấy nhiều điều không tốt đẹp


Bài viết dưới đây được viết ra bốn mươi tư năm trước. Nó là bước đầu để tôi đi tới một vài nhận xét bi quan ngán ngẩm có khi đến mức thiên lệch ...về văn học và các thế hệ làm văn học từ sau 1945 đến nay.

Đọc tiếp ...

11 thg 8, 2019

Những câu chuyện của Nguyễn Đình Nghi


Nguyễn Đình Nghi  là con trai cả của nhà thơ - nhà hoạt động sân khấu Thế Lữ
ông sinh năm 1928 mất ngày 9 tháng 2 năm 2001 tại Hà Nội
 Từng là đạo diễn các vở Hình và bóng của Thùy Linh, Hoàng YếnNguyễn Trãi ở Đông Quan  Rừng trúc của Nguyễn Đình Thi Hoa cúc xanh trên đầm lầy  Hồn Trương Ba da Hàng Thịt của Lưu Quang Vũ
Và các vở kịch nước ngoài Lôi Vũ Con cáo và chùm nho  (còn gọi là Êdốp) Hecnani ...


Đối với tôi, nhà đạo diễn này không chỉ là một con người của sân khấu mà còn là con người của tri thức nghệ thuật tổng hợp, người của văn hoá. Sau đây tôi xin trích đăng c một ít ghi chép từ những điều đã được ông chia sẻ trong những năm cuối đời.

Đọc tiếp ...

27 thg 7, 2019

Có thể rút ra từ "Chiếu dời đô" nhiều bài học thời sự



Nguyên là bài Đọc 'Chiếu dời đô' bằng con mắt hiện tại đưa trên blog này ngày 1-10-2010
https://vuongtrinhan.blogspot.com/2010/10/oc-chieu-doi-o-bang-oi-mat-hien-tai.html

     So với Bình Ngô đại cáo thì Chiếu dời đô thường chỉ được chúng ta quan tâm ở một mức khiêm tốn, sự phân tích văn bản cũng sơ sài. 
     Điều này có thể giải thích là do cảm hứng chính chi phối xã hội Việt Nam từ sau 1945 đến nay là cảm hứng chiến thắng mà Bình Ngô đại cáo diễn tả rất hoàn hảo.
    Thói quen tìm thấy mình trong lịch sử và hơn thế thích diễn tả mình bằng ngôn ngữ lịch sử đã xui con người hiện đại đồng lòng làm việc đó.

Đọc tiếp ...

23 thg 7, 2019

Phạm Xuân Yêm -- Vài kỷ niệm và cảm nhận chủ quan về quá trình xây dựng đại học và nghiên cứu khoa học ở Việt Nam.

Vào dịp Giáo sư Hoàng Tụy qua đời tôi muốn chúng ta cùng ôn lại một số tư tưởng cải cách giáo dục mà ông và các nhà trí thức cùng chí hướng  ở trong và ngoài nước đã có dịp trình bày . Sau đây là phần chủ yểu trong một bài tôi thấy gần gũi với tư tưởng của của giáo sư Hoàng Tụy nhất.
Trích từ bài
Ôn Cố Tri Tân qua những bước Thăng Trầm[*]
đưa trên trang mạng  Văn hóa Nghệ An   , 03 Tháng 10 2011
http://www.vanhoanghean.com.vn/van-hoa-va-doi-song27/cuoc-song-quanh-ta46/on-co-tri-tan-qua-nhung-buoc-thang-tram*

Về tác giả - Giáo sư Phạm Xuân Yêm xin mời các bạn tra cứu thêm trên mạng

Đọc tiếp ...

15 thg 7, 2019

Khả năng tiên tri của nhà trí thức



NHỮNG LỜI TIÊN TRI CỦA NGUYỄN VĂN TỐ
VỀ TÌNH HÌNH ĐẤT NƯỚC SAU 19/12/46
Trong một số trang Fb đầu tháng 7/2019  có nhắc đến mấy ý kiến của  Nguyễn Văn Tố về kháng chiến mà  Nguyễn Thiệu Lâu đã ghi lại khi gặp cụ khoảng tháng 4, tháng 5 1947 ở một làng công giáo tên gọi là làng Thụt, Tuyên Quang.

Đọc tiếp ...

8 thg 7, 2019

Lê Thị Huệ Qua Đèo Ngang Ớ Đang Nghèo


  Lấy ở địa chỉ
bài ký này nằm ở chương chót trong cuốn Văn hóa trì trệ nhìn từ Hà Nội đầu thế kỷ 21( 2001) 
 của nhà văn Lê Thị Huệ, gồm những ghi chép của tác giả trong một chuyến đi từ Hà Nội đến Huế năm 2000. Tôi xin mạn phép tác giả  giới thiệu lại đầy đủ bài ký (chỉ  không mang vào được hình ảnh ảnh minh họa) vì nó cho thấy những xúc cảm rất gần gũi với chúng tôi. 
Trong lúc chưa giới thiệu được cả cuốn sách Văn hóa trì trệ nhìn từ Hà Nội đầu thế kỷ 21 tôi thấy bài ký này cũng đã bộc lộ được phần nào những độc đáo trong ngòi bút của Tác giả 
Về nhà văn Lê Thị Huệ mời độc giả tra cứu thêm trên mạng nhất là vào trang Gió o mà tác giả chủ trương

Đọc tiếp ...

2 thg 7, 2019

Vũ Đức Liêm : ‘Nam Tiến’ và cái bẫy địa lý của người Việt


 Tôi thấy trên mạng một bài báo quá hay nên xin phép đưa lạ ở đây may ra có thể cần cho một vài bạn chưa biết
Ở đây tác giả bài viết - một  Nghiên cứu sinh, Đại học Hamburg (CHLB Đức) - thực đã đạt tới trình độ tư duy sử học hiện đại trên thế giới. 
Trong văn bản dưới đây các lưu ý in nghiêng gạch dưới ...đều là của người sưu tầm VTN
Bản gốc trên BBC hiện tôi không vào được nên đành ghi lại đây một địa chỉ khác để khi cần các bạn đối chiếu

***
"Nam tiến", quá trình các nhóm người Việt tiến về phía nam, mở mang lãnh thổ từ Quảng Bình đến Hà Tiên giữa các thế kỷ XIV-XIX được coi là một trang sử lớn và quan trọng trong tiến trình phát triển của dân tộc Việt Nam. Chính quá trình xác lập nhà nước, xây dựng xóm làng, cảng thị, dinh trấn, thúc đẩy tương tác văn hóa, pha trộn tộc người… đưa lãnh thổ của Việt Nam năm 1840 ít nhất gấp ba lần so với năm 1400.
Bài viết này không thách thức diễn ngôn trên, mà chỉ đưa ra một góc nhìn khác của "Nam Tiến" đối với lịch sử người Việt, và lập luận rằng:
việc di cư về phía nam quá nhanh, trong những khung cảnh tự nhiên biệt lập chính là một cái bẫy địa lý mà người Việt gặp phải.
Cái bẫy này là nguyên nhân giải thích cho tình trạng hỗn loạn của lịch sử Việt Nam ở các thế kỷ XVII-XIX.
Cụ thể là lãnh thổ lan ra quá nhanh, "nhà nước" chạy theo không kịp, vì thế gây ra tình trạng phân tán, hỗn loạn, vô chính phủ tại các vùng biên, nơi các nhóm địa phương xây dựng lực lượng, nổi dậy, và dùng chính sức mạnh của vùng biên để lật đổ quyền lực "già cỗi" và suy yếu của vùng trung tâm.
Tất cả nội chiến, xung đột vùng miền, cát cứ đều từ cái bẫy này mà ra.

Đọc tiếp ...

24 thg 6, 2019

Con người tự do mới là yếu tố thứ nhất


Tôi xin mạn phép tác giả Nguyễn Đức Tùng đưa lại bài MỘT NGƯỜI BẠN HONGKONG này lấy từ trang FB của Nam Dao N M Hung ngày 13-6-2019
Ở đoạn cuối tôi sẽ nói rõ tại sao tôi thích bài này

Đọc tiếp ...

19 thg 6, 2019

Nguyên Ngọc Tố Hữu và Hội nghị Đảng viên 6/1979 (2)

Đây cũng là bài Tố Hữu 1979 (phần tiếp)   
đưa trên blog này ngày 19-8-2014
           https://vuongtrinhan.blogspot.com/2014/08/to-huu-1976-phan-tiep.html
3-8.
 Vụ trưởng Xuân Trường họp các báo, gợi ý phê phán bản đề dẫn và bài Hoàng Ngọc Hiến. Việc này do Tố Hữu ra lệnh hay Xuân Trường muốn lập công?
8-8
Nghe là Đảng đoàn họp. Chế Lan Viên từ Sài Gòn ra. Xuân Trường – với vai trò phái viên cấp trên được mời--mặt hằm hằm bước lên cầu thang.
 Người ta kể rằng với nhiều người, Tố Hữu bề ngoài ngớ ra có gì đâu, giữa đề dẫn với ý kiến của tôi có gì khác nhau lắm đâu.
 Nhưng bên trong, nói với Thép Mới (Trần Đĩnh nói lại qua Nguyễn Thành Long) mình đã chỉ thị phải họp Hội nghị đảng viên lại.
Nguyên Ngọc cũng cứng lắm. Hôm nọ nói ở hội nghị đảng viên là sẽ nghiên cứu nghiêm túc bài nói Tố Hữu, hôm nay quay về, bảo:
- Giữa ý kiến tôi với ý kiến anh Tố Hữu phải có người sai người đúng. Chứ hoà cả làng, tôi không chịu.
Nguyên Ngọc cũng không phải không có thế. Giữa ông với cái ghế trung ương uỷ viên kỳ này, đâu có xa lắm.
Có một cái tội của Tố Hữu mọi người đều biết và đều hiểu là mức độ nó lớn đến đâu. Tội chửi xét lại khoảng 15 năm nay. Trong chính trị, Tố Hữu nổi tiếng là học trò, lại lươn lẹo.
 Chính Yên kể  báo Nhân Dân đăng bài tính dục, bị ông trên mắng cho một mẻ. Nhưng đó là do Tố Hữu gợi ý với Thép Mới.
 Hoặc có lần, trong một đêm pháo hoa. Tố Hữu bảo với Nguyễn Thọ đẹp quá. Như một bức tranh tĩnh vật. Phải có tĩnh vật chứ! Nhưng lần khác giữa một phòng triển lãm, Tố Hữu quát ầm lên, sao lắm tĩnh vật thế này.

 11/8
Vụ xuất bản Tuyên Giáo họp, có một số sách còn bị đánh dấu hỏi:Cha và con và …(Ng Khải), Bông mai mùa lạnh  (Lê Phương)
Ông Nguyễn Khải bảo chỗ mình trong Đảng Đoàn giờ chỉ ngồi một bên mông đít, chỉ chờ người ta bảo một câu là té.
Nhưng ông Khải đang có cái kịch Hành trình tới tự do quá tầm thường. Từ vở kịch đó, đến hiện trạng của Cămpuchia, xa nhau quá.

14/8
Không phải như dự đoán là có xô xát gì. Cuộc họp Đảng Đoàn khá thuận. Chế Lan Viên hôm trước còn nói với Nguyễn Thành Long. Tôi phải có ý kiến chứ. Bản đề dẫn kiêu ngạo... Các anh còn bênh nỗi gì?
Mọi người nghe cũng đã hoảng. Vì trong tình thế này, ông Thi là phe nghịch rồi, chỉ còn ông Chế Lan Viên ở giữa, ông ta ngả về phe nào là phe ấy thắng. Nay biết ra sao.
Không ngờ, ở hội nghị này, tình thế khác hẳn.
 Chế Lan Viên bảo tôi ủng hộ việc làm của anh Ngọc. Bản đề dẫn có những sai sót, nhưng tôi và anh Thi từng làm tổ chức đều biết, làm sao tránh được sai sót...
Tất cả những chuyện này đều do Nguyễn Khải kể. Khải bình luận thêm:
-- Mình mà mềm đi, các ông ấy thương ngay. Trong bụng các ông ấy cũng nghĩ như mình thôi. Nguyễn Đình Thi cũng bảo nhiệm vụ chính của văn học ta hiện nay là phải chống tư tưởng Mao Trạch Đông.
Ông Xuân Truờng cũng đến chủ yếu để thanh minh.

Trần Đĩnh hỏi Nguyễn Thành Long:
- Hỏng rồi phải không?
- Hỏng cái gì?
- Đảng Đoàn
- Ai nói thế?
- Quang Thái. Q Thái gặp Nguyễn Khải ở nhà Thợ Rèn. Hỏi thì Nguyễn Khải bảo Đảng Đoàn đầu hàng rồi. Thế tức là hỏng chứ gì?
 Ng Khải còn kể  với Trần Đĩnh là hôm nọ gặp nhau, Ng Khải đã bảo Q Thái với tư cách biên ủy báo Nhân Dân:
-- Thôi ông đừng cho đánh bài ông Hiến nhé. Có gì bảo chúng tôi một tiếng. Chứ Hiến người tốt lắm cơ!
  Nguyên Ngọc vẫn kiên trì lắm thì phải. Hoặc là ông ta đúng, hoặc là Tố Hữu đúng, giữa hai bên phải có phân định rõ rệt.
  Trần Đĩnh bảo càng ngày càng thấy cái tay Tố Hữu này quá lắm. Trần Đĩnh nhớ, có lần ông ta nói rất hay:
- Này, đã ai đọc Lucacs chưa. Nói sâu sắc lắm. Ví như, tay ấy bảo chân lý không phải thuộc về số đông đâu đấy nhớ.
Nhưng hôm sau, mồm ông ta lại dẻo quèo quẹo :
- Tuỳ tiện. Muốn sao muốn vậy, chỉ biết có riêng mình, không đếm xỉa gì tới tập thể cả....
Cái anh văn nghệ của mình là vậy. Mà cái anh chính trị ở mình cũng là như vậy cả-- Trần Đĩnh kết luận.

15/8
Ng Ngọc triệu tập các cơ quan hội để phổ biến.
- Không có vấn đề gì lớn sau hội nghị đảng viên. Những ý kiến nói xấu hội nghị là rất có hại.
- Tiếp tục chuẩn bị  họp Đại hội các hội vào khoảng 10/1979.
Liệu tình hình chính trị có cho phép như vậy??

20/8
Sắp có bài phê bình Hoàng Ngọc Hiến.Ông Mạnh bảo việc gì đúng thì mãi chẳng làm, việc gì sai thì cứ thấy làm ngay được.

9/9
...Nhưng mà nhập thế làm gì, thất vọng thôi.
Sau một hồi say sưa, ông Nguyên Ngọc hình như đang phục xuống, đầu hàng. Cái tài của Nguyễn Khải là tài lôi kéo cả Nguyên Ngọc vào lối suy nghĩ thoả hiệp của mình.  Các ông vừa nhượng bộ nhau vừa đánh phá nhau.

21/9
Không khí chung quanh như chết lặng đi. Nguyên Ngọc và Đảng đoàn mới mất hết nhuệ khí. Từ mấy tháng trước họ cho phép đăng bài Hoàng Ngọc Hiến. Nay lại cho Tô Hoài bác lại. Vì trên có chỉ thị phải bác.

30/9
 Không rõ chuyện Tố Hữu gọi Đảng Đoàn lên kiểm điểm có đúng không. Trước đó đã nghe nói là trong Đảng Đoàn đoàn kết lắm cơ mà, Nguyễn Khải bảo mình cứ nhận đi là xong. Còn các ông Nguyễn Đình Thi, Chế Lan Viên cũng nghệ sĩ lắm, họ sẽ đỡ cho ngay.
Nay thì không phải.
 Nhị Ca bảo: Nơi nào đánh nhau thì thằng Khải tìm đến đầu tiên, rồi cũng bỏ đi đầu tiên.
 Nguyễn Khải bỏ đi thật. Ông sẽ đi sáng tác 2 tháng (tháng 10,11)
Vậy chắc chả đại hội trong năm 1979.
Trung ương vừa có một chỉ thị về chống chiến tranh tâm lý của địch. Tất cả mâu thuẫn địch ta, nói theo cách nói của các ông ấy, có nguy cơ nuốt hết mâu thuẫn nội bộ. Báo chí lại ngả cờ hết cả, không thấy hé ra cái gì nữa. Ngô Thảo bảo Nguyễn Khải không muốn ra khỏi bộ đội nữa vì lão ấy biết ra Hội phải làm. Mà làm vẫn là chỗ yếu của lão.
Nguyễn Khải ngồi tính:
 - Đã làm được gì đâu. Được mỗi buổi họp, thì nói ra nói vào mãi. Thêm cả cái tội rủ rê trẻ chống già. Thế thì người đi họp người ta cũng chửi mình còn gì.
Chuyện giải thưởng. Ông Chu Văn bảo anh định vỗ nợ chúng tôi hay sao. Cả đời cuối cùng có cuốn Bão biển, anh định lờ đi chắc.

4/11
Báo Văn nghệ đăng bài của ông Tô Hoài phê phán ông Hiến. Xã hội ta mọi việc đều tốt. Mọi mối quan hệ đều hoà hợp. Không có những hiện tượng cái cao cả lấn át cái bình thường. Hoàng Ngọc Hiến như vậy, chỉ là thấy cái cá biệt.
Cái ông Tô Hoài này xưa nay viết cái gì cũng giả. Nay, do phân công mà làm, do bắt buộc phải làm, tức viết giả, thì cũng chẳng kém gì cái thật ông vẫn viết. Nghĩa là cũng rối như canh hẹ, chả ra lý luận gì, kể cũng buồn cười.
Nhưng có phải người ta chỉ đánh ông Hiến đâu? Người ta đánh cả Đảng Đoàn. Người ta muốn bảo không phải Đảng Đoàn làm cái gì cũng đúng.
Dường như xã hội này không có nhu cầu chân lý.
 Ng Khải ngày nào hy vọng như thế, giờ nản lòng rồi. Ai cũng bảo ông Khải giật dây những chuyện này.” Ông Ngọc thì trong sáng, nhưng...” .Nhưng  ở đây có nghĩa nhưng Nguyễn Khải thì rất đáng ngờ, Khải bảo. Tôi là khâu yếu nhất trong Đảng Đoàn. Nên tôi phải đi thôi. Thế là ông Khải cắp đít vào Sài Gòn, nói là đi thực tế, nhưng thực tế là mang vợ con vào, có thể định cư ở đấy lâu dài.
Một mặt thì những nguyên tắc vận hành của xã hội là sai lầm nhưng mặt khác, do đã lâu quá rồi, cái bộ máy hỏng, cho nên nó nghiền hết cả người.
Theo như tôi nhìn nhận, trước mắt chả có ai làm nổi công việc.
Ng ĐThi làm bao nhiêu năm, gần như không làm gì. Mà ông này ăn ở đến mức nào để cho kiện cáo linh tinh. Bà Lê Minh nhiều mưu đồ. Ông Nguyễn Thành Long, ông Đào Xuân Quý cũng tham gia rất hăng, người này vợ là cháu ông A người kia đánh trống qua ông B., cùng hè nhau đòi trên thay ông Thi. Đằng sau lưng hai người ấy là ông Chế Lan Viên và Tô Hoài, cả hai giấu mặt.
Bây giờ đến lượt mấy ông kế tiếp. Nguyên Ngọc cũng không thể làm gì được. Đã có lúc, ông hé ra cái ý nghĩ mình lại về sáng tác, hoặc làm gì đó ở bộ đội.
 Nhưng Nguyễn Minh Châu bảo ông Nguyên Ngọc mà không làm bí thư Đảng đoàn thì biết làm gì.

19/12
  Nửa năm đã qua. Không có Đại hội gì hết.
Mấy tháng trước, Nguyên Ngọc khăng bảo trong đề dẫn không có gì là sai lạc cả. Chỉ có những điểm nói chưa thoả đáng. Nay phải nhận trong đề dẫn có những sai lầm nghiêm trọng (Xuân Quỳnh kể là có ai đó còn nói quá lên: ông Tố Hữu cho là trong đó có những ý kêu gọi lật đổ.)
Học Nghị quyết 5.
  Nguyên Ngọc thì cho là anh em văn nghệ sĩ rất  tốt, chỉ chưa có sáng tác tốt.
 Chế Lan Viên: Tình hình báo động. Có nhiều việc rất nguy hiểm.
Dĩ nhiên, một thứ cảnh giác chiến đấu thế, bao giờ cũng được tuyên huấn hoan nghênh hơn.
Ông Thi sáng tác một cách hậm hụi, như là người có tài bị bỏ quên.
 Chế Lan Viên bảo tôi biết làm thế nào để ra tác phẩm lớn, nhưng tôi không có điều kiện làm.
Người ta cảm thấy trên bợp tai Đảng Đoàn qua việc phê phán bài Hoàng Ngọc Hiến.
Nhiều người phản đối, cho là ông Tô Hoài dại. Nguyễn Văn Hoàn ở Viện văn bảo: Trong văn học, ông Tô Hoài to, chứ trong lý luận đâu có to. Trong bài này, ông ta lại lấy cái  tôi của mình ra để bàn lý luận. Tôi = lý luận, như thế không ổn.
Chính Yên đến báo Văn Nghệ  làm ầm lên: Tán thành nghị quyết 6 mà các anh còn làm thế à?
Cấp trên ghét bài ông Hiến vì lý luận một phần.
 Nhưng phần khác, là chuyện nhân thế, qua lời Hoàng Ngọc Hiến tố cáo, người đọc thấy xã hội ta sống rất giả dối. Con người thường bị khuôn vào những cách xử thế có sẵn.
Một mặt, người ta tỏ ra nuông chiều văn nghệ. Nhưng trong thực tế, lại sợ lại thù ghét văn nghệ. Hiến làm ngược lại.  Một bài phê phán Hoàng Ngọc Hiến trên tạp chí Văn học, có cho rằng Hoàng Ngọc Hiến có một thái độ rất dịu dàng với các nhà văn, trong khi đó lại dám phê phán công chúng, sự thực là dám phê phán những người lãnh đạo!
...
 Chung quanh câu chuyện văn nghệ, nhiều người (nhất là cán bộ!) để ý theo dõi rất ghê. Nghe ngóng xem có gì sai – ai sai cũng thế -  là họ thú vị lắm.

3/2/1980
 Bùi Văn Hoà cắt nghĩa về đoạn kết của Đảng Đoàn. Những  ý sau đây do Hòa nghe từ ông Hoàng Trung Nho kể lại nên chắc là có thể tin...
Lúc đầu ông Ngọc rất găng, không chịu. Có lần ông bảo thẳng ông Thanh, trợ lý lâu năm trên Tuyên huấn, chuyên theo dõi văn nghệ:
-- Anh về báo cáo anh Lành. Chứ anh làm thế (trong hội nghị đảng viên) là sỉ nhục tôi.
Mấy ông Nguyễn Đình Thi, Tô Hoài, Chế Lan Viên vẫn chưa biết cách nào cho Nguyên Ngọc một trận, và càng chờ trên đánh xuống.
Rồi những ngẫu nhiên xuất hiện. Chế Lan Viên đến nhà Giang Nam chơi.
Giang Nam lúc này là một thành viên Đảng Đoàn.
Giang Nam tâm sự, không biết phải làm gì bây giờ.
Chế Lan Viên bảo thế thì anh phải lên anh Lành ngay.
Nếu rủ được thằng Ngọc thì càng tốt.
Vội vã, Chế Lan Viên đóng vai trò môi giới thông báo cho cấp trên biết. Rằng bọn Giang Nam Nguyên Ngọc sẽ lên.
Chế Lan Viên nói từ thứ bảy. Chờ qua ngày chủ nhật, không thấy, thứ hai không thấy.
Tối thứ hai, Giang Nam một minh mò lên chỗ ông Lành:
- Chúng tôi kẹt lắm.
- Phải nói thẳng vừa qua các anh đã sa đoạ về tâm hồn, các anh tưởng các anh làm loạn được à. Không có các anh, cách mạng vẫn cứ tiến lên.
 Nếu trong Đảng Đoàn, đồng chí bí thư có những biểu hiện sai trái, các anh phải đấu tranh chứ.
Vậy là cấp trên đã bật đèn xanh cho dưới trị nhau rồi.
Nguyên Ngọc hoảng quá, thân cô thế cô, nếu bây giờ không đầu hàng đi, người ta thay ngay. Tố Hữu đã có ý thay. Vả chăng, thay cũng được, nhưng về làm gì, sáng tác không hay, quay ra làm cán bộ chính trị, thì sẽ bị nghi ngờ, khinh bỉ. Ở ta là thế, tiến lên mà thất bại, quay về sẽ bị chèn ép. Vả chăng, còn phong trào nữa chứ.
Chỉ trong 2 ngày Nguyên Ngọc suy nghĩ rồi quyết định đầu hàng. Nói rằng mình sai lầm, mình sai lầm nghiêm trọng. Và nhận hết.
Buổi họp gần đây của Ban chấp hành có ra một nghị quyết, đánh dấu sự đầu hàng hoàn toàn của cánh nhà văn trước Tố Hữu.
Thông báo bảo rằng lấy bài nói chuyện của Tố Hữu làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động.
 Khải kể mình đã khôn, nhưng ông Tô Hoài còn khôn hơn.
Trong thông báo, ông kể đủ tên Xuân Diệu, Huy Cận, Tế Hanh vào danh sách những người phát biểu tốt cho phương hướng nghe theo ông Lành. Trong khi thực tế, họ chẳng phát biểu gì cả.


Ý Nhi bảo Tố Hữu là cái loại chính trị già đời, ông ta phải đánh cho cấp dưới mềm xương ra rồi mới dùng.


Vĩ thanh
 Mới đây lạ nghe kể trong một buổi chiêu đãi, hay buổi họp nào đấy, Nguyên Ngọc gặp lại Tố Hữu. Ông tâm sự ông đang hào hứng lắm. Sang làm Phó thủ tướng, bận rộn. Và ông nói với mình (tức Ng Ngọc) một câu có thể học được này.
-    Cái chính là mình phải có gan. Có gan làm thì mới được.
Nguyễn Khải thú nhận Đảng Đoàn mới chúng em có 6 tháng đã sợ quá rồi. Thế mới biết các anh cũ 15 năm chịu đòn giỏi thật.
Tưởng như không có chuyện gì của năm 1979.  Nguyễn Khải cũng ngồi đấy. Tôi bảo tôi muốn lẩy Kiều: Rõ ràng mặt ấy mặt này chứ ai.
- Mọi chuyện diễn ra y như trong một truyện ngắn...giỏi hư cấu

- Lại nhớ một lần, có một cậu bạn nhận xét chính đời sống cũng rất sáo. Cấp trên đánh cấp dưới.
Cấp dưới cãi một lúc, rồi đầu hàng. Thấy cấp trên đúng, chính mình đã sai. Trước gượng gạo sau tin thật. Tôi đã thấy bao nhiêu ca như vậy rồi. Cái ý này từng được Nguyễn Công Hoan dùng làm câu kết cho truyện ngắn Người vợ lẽ bạn tôi.

Viết thêm 7-2-2013
    Như đã nói ở trên, đây là một cuộc chuyển giao quyền lực sau chiến tranh nhưng đã không thành. Một sự thay người cần thiết nhưng được làm quá muộn. Mới loanh quanh mấy khúc dạo đầu thì sự thay đổi đó đã bị đẩy lùi nhanh chóng. Tại sao?
     Trước mắt chúng ta chỉ là một cuộc đấu tranh giữa những người giống nhau. Chẳng có cái mới nào xuất hiện.Vì trong chiến tranh cái mới nếu có manh nha đã bị triệt tiêu từ khi còn trứng nước.
     Cái mới có khác gì cái cũ! Và nhiều người gọi là mới song cũng rất cũ. Họ vốn chẳng có bài bản sách lược cho khoa học cho rõ ràng. Lực lượng lại thường chia rẽ.
     Về kinh nghiệm chính trị thì lớp ở chiến trường đâu có thể so với lớp cũ đã quen chỉ huy chỉ đạo hơn ba chục năm nay. Thế lực cũ ở đây trước tiên là Tố Hữu, người đã  bước lên bậc thang quyền lực bằng việc quản lý giới văn nghệ và ngay sau khi chuyển đi làm kinh tế thì cũng không bao giờ quên văn nghệ là một thứ sân sau của mình. Thế lực này còn có cả bộ chân rết vững chắc mà sự trung thành với chúa cũ đã trở thành bản năng. Sự chiến thắng của họ là không thể khác. 
    Sự kiện  6- 1979 chính là báo trước sự kiện 1986 -1990, một bước đổi mới tự phát rồi đến  giữa chừng đảo ngược, người trong cuộc vừa khao khát đổi mới vừa muốn giữ lại cái cũ và rất sợ mất quyền lợi nếu cái mới thắng thế.
    Xin lưu ý thêm là ngoài các vai kịch đã rõ như Tố Hữu và Nguyên Ngọc, thì  từ Hội nghị nhà văn Đảng viên 1979, một giai đoạn rất nhiều biến động ngầm trong cuộc đời Nguyễn Đình Thi đã hình thành:
--Giai đoạn ông đã bị hất ra song vẫn quyết liệt tìm cách tái lập quyền lực cho bằng được.
--Giai đoạn ông kiên trì bám trụ giữ lấy vai trò của một người đứng đầu giới văn nghệ tới cái mức cho người ta cảm tưởng không ai thay thế được, -- trong khi Tố Hữu ở một tầm cỡ khác, và cuộc đời Tố Hữu có cái kết cục buồn hơn nhiều.

Đọc tiếp ...

18 thg 6, 2019

Nguyên Ngọc Tố Hữu và Hội nghị Đảng viên 6/1979 (1)


Đây cũng là bài Tố Hữu 1979    
đưa trên blog này ngày 19-8-2014
 https://vuongtrinhan.blogspot.com/2014/08/to-huu-1976.html                                                                       
Lời dẫn
      Sự vận động của đời sống văn nghệ luôn luôn diễn biến theo cùng một nhịp với sự vận động xã hội .
     Sau chiến tranh, có việc thống nhất đất nước, việc sắp xếp người vào bộ máy mới. Trong văn nghệ cũng có việc sát nhập các tổ chức văn nghệ, việc kết nạp các hội viên hội văn nghệ giải phóng vào các hội TW…
      Tuy nhiên, có tác động chi phối lớn nhất và chiếm vai trò chủ đạo của việc tái cấu trúc lúc ấy -- tái cấu trúc theo nghĩa dùng đầu thế kỷ XXI -- là việc sắp xếp lại những cương vị chỉ huy. Theo lô-gich thông thường, người từ mặt trận quay trở về phải được đền đáp bằng cách nắm các cương vị quan trọng hơn, có tầm tác động lớn hơn. Điều đó cũng phù hợp với một thực tế là bộ máy TW trong chiến tranh đã già cỗi và trở nên quan liêu. Mọi người hy vọng lực lượng từ chiến trường về sẽ mang lại cho sinh hoạt văn nghệ một  nét mặt mới.

Đọc tiếp ...

16 thg 6, 2019

Nhật ký văn nghệ 1982

4/1
Doạ mãi, tạp chí Văn học nước ngoài của ông Đào Xuân Quý vẫn không chuyển thành in ti - pô được, trong khi những nơi khác (như Sân khấu nước ngoài) đã ra rồi. Nguyên Ngọc kể: một thứ trưởng Bộ Văn hoá (có lẽ là ông Xuân Trường) còn doạ mang ra triển lãm tất cả những tạp chí không có giấy phép (trong đó có Văn học nước ngoài). Thật là ác với nhau không thể tưởng.
 Ánh sáng và trang viết chào mừng đại hội Đảng, giá 16 đồng, không hiểu sẽ ai mua, hay chỉ để tặng? Trong khi ấy Tu viện thành Parme, Nếu phố Bin biết nói...in toàn bằng thứ giấy rất xấu, kiểu giấy nứa. Thực là một sự trớ trêu ghê gớm.

Đọc tiếp ...

13 thg 6, 2019

Về tính nhân bản và tính chuẩn mực trong giáo dục hai miền

Về sự khác biệt giữa giáo dục miền Nam và giáo dục miền Bắc chúng ta còn phải nói rất nhiều. Sau đây là sự bổ sung của tôi cho một số ý đã trình bày trước đây.

Đọc tiếp ...

9 thg 6, 2019

Con người trên hết, sự tử tế trên hết

1/
NHÂN CÂU CHUYỆN NƯỚC ĐAN MẠCH

ĐẦU HÀNG ĐỨC QUỐC XÃ ĐỂ CỨU LẤY DÂN

Khi tìm hiểu khi nào thì tiến hành chiến tranh là bắt buộc và liệu có thể đầu hàng mà vẫn giữ được danh dự và khí phách dân tộc hay không, người ta hay dẫn chứng trường hợp tháng 4 năm 1940 Đan Mạch đầu hàng Đức.
Đầu hàng mà lại có lợi cho dân tộc ư? - đối với VN mình thì đây là một chuyện thật lạ.
Nhưng thực tế ngày càng có nhiều người - trong đó cả những nhà lịch sử thông thái nhất - rất nhiều người hiện nay coi hành động đầu hàng ở đây là một việc rất cần thiết và hợp lý.
May mắn cho tôi là trong khi tìm hiểu vấn đề này từ năm năm trước đã tìm thấy đoạn một đoạn trên Facebook của bạn Bạch Huỳnh Duy Linh, tôi đã cất kỹ và nay xin giới thiệu để mọi người cùng biết.
Các bạn muốn đọc đầy đủ cả bài của Bạch Huỳnh Duy Linh chỉ cần vào gogle gõ hàng chữ
“Bảo vệ tổ quốc không chỉ có nghĩa là cầm súng và lao vào những trận đánh tự sát” .
-----
Trong lúc người láng giềng Nauy kéo dài cuộc chiến gần một tháng, thì hai tiếng sau khi Đức Quốc xã tuyên chiến, đức vua Đan Mạch đã tuyên bố mở cửa biên giới và chấp nhận sự chiếm đóng của Đức. Đổi lại, đức vua vẫn sẽ được tại vị và Đan Mạch được duy trì bộ máy chính quyền riêng với quyền lực hạn chế. Suốt năm năm bị chiếm đóng, Đan Mạch là một trong những quốc gia mà phong trào kháng chiến diễn ra yếu ớt nhất.

Kết quả là Đan Mạch bước ra khỏi cuộc chiến mà không hề có thành phố nào của mình bị phá hủy. Hàng ngàn người Do Thái được che chở dưới cái bóng của đức vua đã thoát khỏi họa diệt chủng.
Cái giá cho sự sống còn và nền hòa bình đó là năm năm cúi đầu của đức vua Đan Mạch. Giai đoạn đó sau này thủ tướng Đan Mạch gọi là “không thể biện minh về mặt đạo đức”.
Tuy vậy, chính sách này có đúng hay sai thì kết quả là một nền hòa bình, tuy có phần bấp bênh, đã được duy trì ở Đan Mạch suốt thế chiến.
Chiến tranh suy cho cùng cũng là để kiến tạo và bảo vệ nền hòa bình.
Nhưng thỏa hiệp đôi lúc cũng là cách để duy trì sự sống.
Cái khác nhau giữa một chế độ vì dân và một chế độ mị dân là ở chỗ, chế độ mị dân có thể kêu gọi một cuộc chiến tranh vệ quốc nhưng bản chất cũng chỉ là để bảo vệ cho chế độ và che dấu sự yếu kém trong chính sách ngoại giao của mình, trong khi một chế độ vì dân có thể kêu gọi người dân bỏ vũ khí nhưng mạnh mẽ trên bàn đàm phán các thỏa thuận đầu hàng.
Khi Đức Quốc xã đặt vấn đề bắt giam người Do Thái trên đất Đan Mạch, vua Đan Mạch đã tuyên bố: “nếu bắt dân của tôi thì hãy bắt luôn cả tôi”.
Sau đó, bằng sự kiêu hãnh của một vương gia, ngài tuần hành trên lưng ngựa qua các đường phố Kobenhavn mà không cần lính gác trong sự tán dương của mọi người, bất chấp các cảnh báo ám sát từ phía Quốc xã.
Đó là biểu tượng của một chế độ vì dân.
Ở chế độ mị dân, dân đen chết vì để bảo vệ ngôi vua.
Ở chế độ vì dân, hoàng đế nhận về mình áp lực để bảo vệ con dân.
Bảo vệ tổ quốc không chỉ có nghĩa là cầm súng và lao vào những trận đánh tự sát.
Bảo vệ tổ quốc chính là việc sử dụng khí phách của dân tộc để đánh lui ý chí xâm lăng của kẻ thù.
Khí phách dân tộc là gì? Đó là thể hiện ở thái độ thức thời và không màng đến lợi ích cá nhân của người cầm quyền.
Là một dân tộc biết đối xử văn minh với người dân của quốc gia thù địch.
Là thái độ tuy buông súng nhưng không đầu hàng.
Là một chế độ chịu lắng nghe những giải pháp có lý và có lợi cho dân tộc mà không bị đè nén bởi ý thức hệ.
Và là tiếng nói của những người không cầm súng vì hòa bình chứ không phải vì sợ hãi.
Quốc gia có thể bị chiếm đóng nhưng phần hồn dân tộc vẫn vẹn nguyên.
Saddam Hussein đã từng kêu gọi người dân chiến đấu vệ quốc chống lại một kẻ địch đông hơn, hiện đại hơn và thiện chiến hơn, đó có phải là một chế độ vì dân hay không?

 2/
LIÊN HỆ TỚI VIỆT NAM
 “Tổ quốc có thể mất nhưng nếu nhân dân còn thì sẽ có ngày lấy lại được. Còn nếu như nhân dân đã mất thì tổ quốc có còn ( hoặc có giành được) cũng không có mấy ý nghĩa” .
Trên đây là kết luận một người bạn tôi rút ra từ câu chuyện nước Đan Mạch đầu hàng Đức Quốc xã mà tôi nói ở trên và cho là nó cũng đúng với Việt Nam.
Tôi phản đối anh bạn bằng cách nói rằng ở Việt Nam sau cuộc chiến tranh 45 năm chúng ta được cả nhân dân dân và tổ quốc chứ, sao lại có thể vơ vào đây cái chuyện Đan Mạch 1940 .

Bạn tôi trả lời hơi dài dòng như sau.
Khi đầu hàng bằng phát xít theo kiểu của mình tức là những người chèo lái đất nước Đan Mạch hiểu nhân dân rất dễ bị tổn thương trong chiến tranh, chọn con đường tạm thời hi sinh danh dự trước mắt tổ quốc để bảo toàn nhân dân là con đường khôn ngoan nhất.
Còn nhân dân thì sẽ có ngày lấy lại được tổ quốc.
Tổ quốc có được nhân dân với ý nghĩa tốt đẹp của mình mới là tổ quốc đáng mong mỏi.
Còn ở ta “cấp trên” nghĩ rằng không có chuyện đó, không cần đặt ra chuyện đó. Nhân dân mãi mãi tồn tại với thực chất tốt đẹp của mình trước mọi biến động lịch sử,
Thực tế là
Bề ngoài thì sau cuộc chiến 1945- 1975 ta được cả hai.
Nhưng tình hình “phát triển” hôm nay cho thấy ở ta sau cuộc chiến này yếu tố thứ hai - yếu tố nhân dân - không còn như cũ nữa.
Do đã tham gia quá sâu vào chiến tranh - người ta đã xác định chiến tranh ở ta là chiến tranh nhân dân - sang thời hậu chiến dân ta không còn là một nhân dân mà chúng ta được giáo huấn và vẫn tin theo
Ra khỏi chiến tranh , nhân dân đã bị biến dạng và mang biết bao nhiêu thói xấu tới mức phải nói là đã hư hỏng nên họ không còn khả năng xây dựng lại cuộc sống theo những quy luật bình thường nữa.
Dân ta chỉ còn nhân dân ở cái tên gọi .
Như vậy thì với cuộc chiến tranh 30 năm, những nhà lãnh đạo ở ta chẳng phải là đã mất nhân dân là gì và khi đó khả năng tổ quốc tiếp tục bị đe dọa như chúng ta đang thấy là có thể hiểu được.
Ngoại xâm bây giờ không chỉ có nghĩa là người nước ngoài mang quân sang xâm lược rồi áp đặt bộ máy cai trị với người của họ.
Mà họ xâm lược bằng cách điều khiển bộ máy người Việt “phát triển” đất nước ta theo cách có lợi cho họ
Đó là hình thức xâm lược mà chỉ thời nay mới có
Bề ngoài tổ quốc vẫn còn nhưng thực chất là thế nào thì chúng ta đều biết.

Tôi hơi giật mình nhưng chưa biết cãi lại thế nào đành ghi lại ở đây để các bạn cùng nghĩ.

Xin nói thêm - tôi không giấu cái chuyện có nhiều cảm tình với suy nghĩ của người bạn vừa dẫn ở trên, khởi đầu bằng cái luận điểm trươc mọi biến động lịch sử nhân dân mới là yếu tố thứ nhất.
Có thể là cái nhìn của chúng tôi có phần quá đáng nhưng phải nói sau cuộc chiến tranh khủng khiếp, dân ta đang hư hỏng trông thấy
- nhân dân vô nghề vô nghiệp
- nhân dân “đói ăn vụng túng làm càn “
- nhân dân suy đồi đạo đức
- nhân dân chỉ ham hưởng thụ,
- nhân dân dối trá,
- nhân dân mê tín dị đoan
 - ...
Còn về phần mình mỗi chúng ta cũng đã và đang hư hỏng , đã và đang bị hoàn cảnh tha hóa theo cái nhịp biến chuyền chung của xã hội.
Trên đây là những điều nhiều người chúng ta cảm thấy hàng ngày hàng giờ và thường bàn nhau mà chưa thể lý giải hết ..

3/
TỪNG CÓ MỘT NƠI
HOÀN CẢNH KHÔNG THỂ LÀM HỎNG CON NGƯỜI
Mặc dù chê trách tôi về mặt lập luận, nhưng khi nghe tôi trình bày, không ít bạn đã đồng tình với tôi về việc con người Việt Nam hôm nay đang bị làm hỏng một cách toàn diện.
Chúng ta chẳng bao giờ nên bi quan một cách tuyệt đối, song sự làm lại con người hiện nay thì quả thật  khó, lý do là vì như chúng ta đều biết, mặc dù chưa từng được tổng kết nhưng hoàn cảnh lúc ấy nhất là cuộc chiến tranh 1945 – 1975 thật quá đặc biệt nó khốc liệt vượt qua sức tưởng tượng và khả năng chịu đựng của con người.
Chỉ cần nói thêm là tôi đã nói điều này chủ yếu dựa trên kinh nghiệm quan sát những con người miền bắc từng được sống được giáo dục như tôi và trải qua chiến tranh theo kiểu chúng tôi, trong khi đó thì nếu nhìn cả thực tế nước Việt Nam sẽ thấy còn có những con người được giáo dục theo kiểu khác có những niềm tin khác bị những quy luật khác chi phối và nay nhiều người vẫn đứng vững trước mọi biến động để làm ăn sinh sống rất tử tế. Xét trên đại thể, trong tình thế ngổn ngang của cả nước hôm nay những người còn được cái căn bản của con người ấy mới chính là cái tương lai là niềm hi vọng của cả xã hội.
Có một sự việc xảy ra mấy ngày hôm nay cuối tháng 5-2919, nó làm tôi thấy thêm cụ thể về cái kết luận trên.
Ngày 22/5 và mấy ngày sau trên mạng dày đặc những bài viết về cái chết của nhà thơ Tô Thùy Yên (1938 – 2019). Con người đã từng tham gia nhóm Sáng tạo bên cạnh Thanh Tâm Tuyền Mai Thảo, con người từng có mặt trong các trại tù cải tạo tổng cộng 13 năm và đã từ biệt cõi đời trên đất Mỹ xa xôi, con người đó có dịp hiện ra trước cả những người còn biết rất ít về ông như bản thân tôi một chân dung với niềm tin sâu sắc, bộc lộ ở những nét tình cảm như ủ kín mà vẫn tuôn trào, trong những dòng thơ miên man, đôi khi khúc mắc nhưng thật ra là từng dòng đều chắt lọc, nói lên cái khắc khoải cuối cùng của cuộc đời ông, đó là bài thơ “Ta về” mà rất nhiều người thú nhận rằng đã đọc lên là không thể bỏ xuống được.
Trước tiên cái đáng ghi nhận nhất của bài thơ Ta về là nó cho ta thấy cái cao thượng của những con người bị rơi vào hoàn cảnh bên thua cuộc và sau đó là tù đày cực khổ mà vẫn giữ được lòng mình trầm tĩnh, nhìn ngẫm về cuộc đời trong đó có đủ cả sự trân trọng những gì tưởng như đơn sơ nhưng gần gũi nhất của ngày hôm qua, lẫn sự tha thiết sống tiếp cuộc sống hôm nay và muốn lây truyền đạt những điều tốt đẹp ấy cho các thế hệ sau. Ở đây con người trong cảnh khốn cùng tuyệt đối không thấy bộc lộ ra một chút nào gọi là oán thù căm giận trách móc. Thay vào đó là sự tin yêu trầm lắng mà lại dai dẳng đầy sức ám ảnh.
Cái sức mạnh tinh thần của con người ở đây tưởng như muốn ghìm xuống ẩn giấu mà vẫn ngời ngời, khiến cho cái hoàn cảnh tưởng rất bi đát lại vẫn hiện lên với đủ vẻ tươi tắn và đầy hy vọng.
Con người tưởng như đã đi hết mọi nỗi cực khổ và đau đớn của đời sống hóa ra vẫn còn lại với tâm thế bình tĩnh nghĩ lại về cuộc đời đã qua và muốn truyền lại những thể nghiệm sống của mình cho những người khác.
Trong những năm chiến tranh, nhiều người ở miền bắc chúng tôi thường tự nhủ rằng mình đã đi đến tận cùng của sự đau khổ và tự hào là những hoàn cảnh khó khăn không làm gì được mình trước sau mình vẫn nguyên vẹn.
Hóa ra chúng tôi nhầm.
Một cái gì đó rất tốt đẹp đã chết đi trong chúng tôi, bởi sang thời hậu chiến nhiều người tự cho là mình có quyền làm tất cả những điều không được phép làm và coi đó là sự đền đáp đúng hơn là sự vớt vát lại chút hạnh phúc trần thế mà chúng tôi đã bị tước mất.
Cái sự bị làm hỏng mà tôi nói trong bài trước gần như được mọi người miền bắc coi là tự nhiên.
Đọc bài thơ của Tô Thùy Yên tôi nhớ lại nhiều cuộc gặp gỡ tiếp xúc với con người ở miền nam sau ngày 30/4/1975, tôi nhớ lại những trang văn bài thơ mà tôi đã đọc, những công trình nghiên cứu khoa học xã hội được làm trước 1975 và tôi nhận ra rằng cũng trong sự bao vây của chiến tranh, nhưng con người nơi đó không bị hoàn cảnh làm cho tê cứng về mặt tâm hồn, liều lĩnh về cách sống, bất cẩn về mọi hậu quả gây ra cho mọi người.
Tôi hiểu rằng ở xã hội đó, văn hóa vẫn còn, vẫn chi phối người ta trong mọi mặt đời sống.
 Cái sức mạnh tinh thần của Tô Thùy Yên hôm nay cũng như của bao nhiêu người khác là kết quả của một nền giáo dục nhân bản và giữ vững chuẩn mực.
Người ta không những biết sống để thích nghi với hoàn cảnh mà còn biết giữ được cả những gì tốt đẹp nhất được bồi đắp từ nhiều thế hệ và chuẩn bị cho người ta ra tiếp xúc với thế giới.
Qua nhiều tài liệu về các trại tù cải tạo được thiết lập sau 75, tôi biết có một nguyên tắc chi phối các trại tù này là làm cho những người bị giam trong đó mất hết cảm giác và suy nghĩ của một con người bình thường, không còn đớn đau mà cũng không còn hy vọng, tóm lại là chỉ biết sống qua ngày như một thứ súc vật bị làm nhục.
Trường hợp con người trong Tô Thùy Yên sau khi ra tù bộc lộ qua bài thơ "Ta về" chứng tỏ mọi ý đồ loại đó đã phá sản đây không phải trường hợp cá biệt ở một hai người mà phổ biến ở rất nhiều người. Sau khi bị tù đầy trở về họ vẫn giữ được lòng khao khát yêu đời và có đủ khả năng gia nhập vào cuộc sống hiện đại khi ra sống ở hải ngoại.
Chính họ là niềm hy vọng của dân tộc chúng ta.
Mà điều đó không phải là ngẫu nhiên vì nó đã được chuẩn bị từ trong cuộc sống hai mươi năm.


Đọc tiếp ...

8 thg 6, 2019

Thơ Huy Cận và những vẻ đẹp của quá khứ



      Từ hồi  tuổi mới 20 – 25, Huy Cận đã biết tạo cho thơ mình một vẻ đẹp già dặn.
      Cái tên Lửa thiêng, có lẽ không hẳn đã hợp với các bài thơ trong tập, đơn giản là vì chất thiêng mà Huy Cận gợi nhớ ở đây còn thấp thoáng một vẻ phôi pha trần thế và khó lòng nói là đã  có được sắc thái riêng.
     Mà  phù hợp hơn, khi muốn tìm ra cái phần tinh hoa trong thơ Huy Cận tiền chiến, tôi muốn dùng chữ đẹp xưa, như tên một bài thơ khác của ông.

Đọc tiếp ...

6 thg 6, 2019

Nhật ký văn nghệ 1981

Ngày nay tôi không còn nghĩ như những điều tôi ghi từ gần bốn chục năm trước. 
 Và tôi đoán là  với các nhân vật mà tôi nhắc tới trong các trang ghi chép dưới đây
các vị cũng đã nghĩ khác những điều đã nói và nghĩ trong quá khứ
 Cũng như mọi người trong hoàn cảnh tương tự tôi đành bất lực không kiểm chứng được
 những sự kiện mà tôi đã đề cập tới. 
Nhưng  đến bây giờ tôi vẫn nhớ rằng khi ghi những dòng dưới đây, 
lòng tôi trong sáng  và chỉ viết ra để làm tài liệu cho mình 
chứ không hề nghĩ là có lúc sẽ được đưa ra mọi người cùng đọc.
  Mong được các đồng nghiệp  và bạn đọc thân mến 
coi đây như những tài liệu tham khảo


11/1
Báo Văn nghệ số 2 bắt đầu đăng bài Chế Lan Viên phê phán Hoàng Ngọc Hiến và Nguyên Ngọc - nhưng gọi tắt là ông X.

Đọc tiếp ...

30 thg 5, 2019

Nhật ký văn nghệ 1980

HIỆN TƯỢNG HOÀNG NGỌC HIẾN
TRONG VỤ ĐẤU ĐÁ ĐẢNG ĐOÀN  1979 - 1980

Tháng 11 năm 1978,  Nguyễn Minh Châu cho đăng trên tờ Văn Nghệ Quân Đội một bài viết nhan đề là "Viết về chiến tranh".
Trong bài này, Nguyễn Minh Châu nhận định rằng nền văn học Miền Bắc trước năm 1975 và cả Việt Nam sau đó đều chưa hề có tiểu thuyết thực sự về chiến tranh, vì còn bề bộn sự kiện, nhân vật toàn là dạng người lý tưởng, chưa mô tả được các vấn đề đời thường của con người và xã hội trong chiến tranh.
Bài viết gợi ra ở Hoàng Ngọc Hiến  những suy nghĩ khá bất ngờ về văn học xã hội chủ nghĩa.
Quan điểm của ông được phản ảnh trong bài viết tựa là "Về một đặc điểm của văn học nghệ thuật ở ta trong giai đoạn vừa qua", đăng trên tuần báo Văn Nghệ, số 23 ra ngày 9 tháng 6 năm 1979.
Sau khi tóm lược ý kiến của Nguyễn Minh Châu, Hoàng Ngọc Hiến viết như sau: "Hình như, Nguyễn Minh Châu viết, trong ý niệm sâu xa nhất của người Việt Nam chúng ta, hiện thực của văn học có khi không phải là cái hiện thực đang tồn tại, mà là cái hiện thực mọi người đang hy vọng, đang mơ ước. Đứng ở bình diện cái phải tồn tại, người nghệ sĩ dễ bị cuốn hút theo xu hướng miêu tả cuộc sống cho phải đạo, còn đứng ở bình diện cái đang tồn tại, thì mối quan tâm hàng đầu là mô tả sao cho chân thật.
Đọc một số tác phẩm, chúng tôi thấy tác giả dường như quan tâm đến sự phải đạo nhiều hơn tính chân thật. Có thể gọi loại tác phẩm này là chủ nghĩa hiện thực phải đạo". 
Hoàng Ngọc Hiến còn đi tới những khái quát sâu hơn
Thực ra ngay trong đời sống thực tại, do quy luật của sự thích nghi sinh tồn, dần dần được hình thành những kiểu người “phải đạo” với những cung cách suy nghĩ nói năng ứng xử được xem là “phải đạo”. Khái quát những hiện tượng hết sức thực tại này vẫn nảy sinh chủ nghĩa hiện thực phải đạo”.
Tôi đã ghi  lại toàn cảnh cuộc đấu tranh tư tưởng 1979 trong những trang nhật ký văn nghệ viết cùng năm và phần quan trọng nhất là bài trên blog

https://vuongtrinhan.blogspot.com/2014/08/to-huu-1976-phan-tiep.html  
Sau đây là những diễn biến tình hình 1980 cũng liên quan tới nội dung trên .

Đọc tiếp ...

17 thg 5, 2019

Nhật ký chiến tranh - Binh trạm 12 Tây Quảng Bình 1969 (4)


 8/6
Đi nhờ xe từ Khe Ve về Tân Đức. 
Ở với 757, 1 C đặc khu 4. Các anh khu 4 ta ra vẫn thuần hơn khu 3, giáo viên Huệ trông đặc một anh xã đội, lúc nào cũng bàn những chuyện nuôi gà, trồng rau (khác hẳn với Hải nhẹ nhõm, tài hoa) - các cô Tý, cô Tân có đưa áo cho nhau mặc, cười đùa, thì vẫn có vẻ cứng, làm đỏm một lát cho vui chứ không như mấy cô Hoa, cô Lan bên kia,  kín đáo mà vẫn lộ vẻ điệu không chê vào đâu được.
Mấy anh khu 4 cứ cần cù, cứ bàn chuyện cách mạng như thế mà phải. Ra vẻ tài hoa, chơi đàn... thì các anh lại ra vẻ quỷnh ngay.
Cũng như cái giọng Quảng Bình mà mình biết. Con trai nói ra vẻ yếu quá, con gái nói lại ra vẻ thô (dọng của Chắt chính trị viên phó đấy, một người đàn ông thỉnh thoảng ra vẻ đàn bà một tí).

Đọc tiếp ...

14 thg 5, 2019

Nhật ký chiến tranh - Binh trạm 12 Tây Quảng Bình 1969 (3)

 3/6.
Sang C2 đội 89. Một người thanh niên học xong lớp 10, bạn của Lê Trọng Việt: Hải. Con đường của những người thanh niên con em gia đình có vấn đề với cách mạng. Bây giờ họ nghĩ suy gì, cứ tự mình cũng đoán ra được!
Nhưng thú nhất vẫn là chuyện các cô TNXP.

Đọc tiếp ...

10 thg 5, 2019

Qua việc giảng dạy toán học có thể thấy mọi thứ đang đi xuống

 Trên  ANTG  giữa & cuối tháng ra ngày 25-4-19 có bài 
Giáo sư, Tiến sĩ khoa học, nguyên Viện trưởng Viện Toán học Ngô Việt Trung: Mở sách toán phổ thông ra, tôi thấy những điều trăn trở!

Đọc tiếp ...

9 thg 5, 2019

Mấy cảm nhận về sự khác biệt giữa giáo dục miền Nam và giáo dục miền Bắc

Đã in  tạp chí NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN

 số 7-8 (114-115).2014, 
số chuyên đề GIÁO DỤC MIỀN NAM VIỆT NAM (1954- 1975)

Đưa lần đầu trên blog này ngày 10-12-2014

Tôi vốn là người làm nghề nghiên cứu văn học.Trong cái nghề thuộc loại công tác tư tưởng này, những năm trước 1975, tôi chỉ được phép đọc các sách báo miền Bắc, còn sách vở miền Nam bị coi như thứ quốc cấm. 
Có điều, không phải chỉ là sự tò mò, mà chính lương tâm nghề nghiệp buộc tôi không thể bằng lòng với cách làm như vậy. 
Tôi cho rằng, muốn hiểu cặn kẽ văn học hiện đại, phải hiểu văn học cổ điển; muốn hiểu văn họcVN phải hiểu văn học thế giới. Thế thì để hiểu văn học miền Bắc làm sao lại lảng tránh việc nghiên cứu văn học miền Nam được.

Đọc tiếp ...