xxx

20 thg 11, 2020

Nguyễn Mạnh Tường bàn về hội nhập văn hóa 1932: "Bắt chước khôn khéo và trước hết phải giữ được tính tình của mình"

 Sau đây là một bài của nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân đưa trên FB cá nhân của ông (ngày nào thì tôi trót quên không ghi). Nhận thấy bài sưu tầm là một tài liệu quý, tôi xin đưa lại nguyên văn để bạn đọc tham khảo

NGUYỄN MẠNH TƯỜNG LUẬN QUỐC VĂN

Năm 1932 Nguyễn Mạnh Tường 23 tuổi từ Pháp trở về Hanoi với 2 bằng Docteurs Luật khoa và Văn khoa. Báo chí dành khá nhiều giấy mực cho người trẻ đỗ cao này.

Riêng báo Phong Hóa, Nguyễn Tường Tam nói chuyện cả buổi với Ng. M. Tường, tự viết bài tường thuật. Sau đó ký giả Văn Lực viết bài nêu cả loạt câu hỏi về "Quốc văn ta sẽ đi về đâu?" với chàng tấn sĩ. Rồi đó là 2 kỳ bài trả lời của Văn khoa Tiến sĩ Nguyễn Mạnh Tường.

Thời điểm này, 1932, văn học mới tiếng Việt đang tự làm ra mình. Các ý kiến của học giả có lẽ còn hệ trọng hơn ý kiến văn sĩ.

Tôi đánh máy cả bài, vì xưa nay chưa từng thấy sách báo văn nghệ ta ("ta" tức không-thời gian văn nghệ VNDCCH) có dòng chữ nào về quan điểm văn nghệ Nguyễn Mạnh Tường.

***

BÀN VỀ QUỐC VĂN

Nguyễn Mạnh Tường

(trả lời các câu hỏi của Văn Lực, mục Văn học, “Phong hóa” s. 17, 13.10.1932)

 1/ Quốc văn có nên dùng các văn chương ngoại quốc nhất là văn Pháp và Trung Hoa làm mẫu chăng?

NMT -- Tôi trả lời không ngần ngừ: Nên lắm.

Văn minh của loài người có bắt trước mới có tiến. Các nhà bác học đời nay đã nghiên cứu ra rằng đến nước Hy Lạp, mà xưa nay ta cho là không nhờ một nước nào, chính đã chịu ảnh hưởng của các nền văn minh Đông phương. Một nhà thi sĩ La-mã có nói: không có cái gì là sáng kiến ra mà không nhờ đến cái khác. Dân tộc nào cũng vậy, nền văn minh nào cũng vậy, chỉ tiến theo như cái trình độ của dân tộc ấy, của nền văn minh ấy đã nhờ ở các sự kinh nghiệm của dân tộc khác, của các nền văn minh khác, rồi thì, nếu không vượt qua hẳn được các sự thí nghiệm ấy, thì cũng cố làm cho tốt đẹp hơn lên, hay là đưa những sự thí nghiệm ấy về một con đường khác. Bắt chước thực là một sự cần thiết của nhân loại, dù bàn về sự tiến bộ của [mất 7 – 8 từ] của văn chương cũng vậy.

Sự khó khăn là ở chỗ biết bắt chước.

 

Tôi xin hiến những quy tắc sau này:

a/ Bắc chước cần phải có vẻ tân kỳ, đặc biệt. Nói thế nghĩa là không nên bắt chước như hệt, thành ra chỉ là một thứ văn chương sao tập, khô khan.

Bắt chước có thể là một sự sáng kiến.

Những nhà văn học cổ điển nước Pháp là những tang chứng hiển nhiên cho sự đó. Bắt chước một cách có tri thức là chỉ ngắm các kiểu mẫu rồi làm khác đi, bắt chước theo mục đích văn chương là phỏng theo các lối văn, các cách viết văn thích hợp với sự cần thiết của một nước, với năng lực một dân tộc, những sự nhu yếu của một tâm trạng.

Chính nhờ ở sự thích hợp ấy mà được tân kỳ, mà có vẻ sáng kiến, vì vậy cho nên, đã bắt chước, phải bắt chước một cách khôn khéo.

Thí dụ những nhà văn sĩ cổ điển Pháp về thế kỷ thứ 17 bắt chước văn chương cổ La – Hy, nhưng đều bắt văn chương cổ theo nề nếp phong tục của dân tộc Pháp.

Lại cái thí dụ nữa: Musset bắt chước Shakespeare, nhưng chỉ theo Shakespeare về những sự có thể làm vui mắt vui tai thính giả Pháp, nghĩa là có thể chiều được cái tính sở thích của bọn tri thức Pháp mà thôi.

Vậy tôi ao ước rằng các nhà văn sĩ Annam sau này nên theo ý tưởng của các nhà văn sĩ nước Pháp, nước Trung Hoa mà cả các nước ngoại quốc nữa, nhưng xin các ông ấy đừng viết chữ Pháp, chữ Tầu, mà chỉ viết chữ Annam.

Xin các ông ấy cố hiểu thấu cái tâm trạng quốc gia và khiếu văn chương ngoại quốc mà mình theo được thích hợp với những sự cần thiết của cái tâm trạng ấy.

Các ông ấy cứ bắt chước nhưng các ông ấy phải yên trí rằng các ông ấy viết quốc văn. Đó là cái phương pháp phổ thông mà tôi thiết tưởng các ông ấy nên dùng.

 

 

b/ Bắc chước phải khôn khéo.

Tôi muốn nói rằng muốn bắt chước được tân kỳ thì phải có một nền giáo hóa uyên bác. Vậy nhà văn sĩ Annam nào muốn văn mình được có vẻ tân kỳ thì cứ bắt chước, nhưng trước khi bắt chước phải biết những sự cần thiết về tri thức Annam, và phải hiểu thấu những nền văn chương mà mình muốn theo. Nếu muốn bắt chước văn Pháp thì tất phải có một giáo hóa chắc chắn về nền Pháp văn. Muốn bắt chước văn Trung Hoa hay một nền văn chương ngoại quốc nào cũng vậy. Phải nhớ rằng Ronsard và bạn đồng chí cùng bọn môn đồ đã tận công cùng lực học các áng văn chương đời cổ rồi mới phỏng theo đấy mà trước tác ra Pháp văn.

 

c/ Bắt chước những lối gì?

Tôi xin trả lời ngay rằng cái đó là tùy ở tính chất từng người. Cứ kể một cách đại cương thì lối gì cũng hay, nhưng có lối hợp phong thổ tính tình, vì thích hợp với những sự cần thiết của tri thức quốc gia. Những lối ấy là những lối gì? Cái đó [mất 1 dòng, 7 – 8 từ] tìm kiếm ra. Nhưng tài văn [mất 2 từ] một điều là bắt chước Pháp văn phải khôn khéo lắm mới được. Là vì Pháp văn là một vật độc nhất vô song ở đời, là một địa sản có mỹ vị, và tôi có thể nói một cái hoa giồng trong vườn che kính không thể hợp thủy thổ khí hậu một nước khác được.

(còn nữa)

[không thấy mục số 2? -- LNA]

 

3/ Bao giờ ta mới thực có một nền quốc văn đích đáng?

NMT – Cái đó, tôi không biết. Có lẽ phải đợi hai thế kỷ nữa. Ta cứ ngẫm Pháp văn thì đủ hiểu, văn sĩ Pháp bắt đầu bắt chước ngay từ thời mới có cuộc chinh phục La-mã. Người Pháp chất phác, đời bấy giờ viết văn La-mã. Cứ như thế trong suốt thời đại trung cổ nên văn chương La-mã vẫn còn, tôi muốn nói văn La-mã mà các nhà văn sĩ viết ra.

Đến thời đại Văn nghệ phục hưng, những công cuộc phấn phát của bọn Thất Hiền cũng bị vài phần thất bại. Một phần lớn công trình trước tác của Ronsard không ai đọc mà hiểu nổi, bởi vì tác giả bắt chước không được khôn khéo. Phải đến tận thế kỷ thứ 17 mới thực có một nền văn chương Pháp.

4/ Trong thời kỳ hoài dựng nền quốc văn, thì sự quan hệ của văn phẩm bình ra sao?

NMT – Văn chương bình phẩm rất có quan hệ: là vì có thể kiến chính được những cái sở thích của công chúng và dẫn đạo cho sự bắt chước của các văn nhân. Tỏ cho các nhà viết văn biết bắt chước thế nào thì văn mình được hoan nghênh, nghĩa là được có vẻ tân kỳ đặc biệt, tránh nỗi khó hiểu, thích hợp với tri thức Annam. Tỏ cho họ biết rằng có khi bắt chước chỉ là cách chép đê hèn, không có giá trị, và kém hẳn bề nhã thú. Nhưng tôi không cần nói rằng tuy văn phẩm bình có giá trị nhưng trở nên một nhà phẩm bình cũng không phải dễ dàng, cũng như không phải dễ dàng mà trở nên một nhà văn sĩ! Hai cái nghề ấy cũng bắt buộc phải biết nhiều và học rộng.

Có một số người Annam trẻ tuổi tưởng lầm rằng chỉ cần muốn là có thể trở nên một nhà viết văn hay viết báo được! Đáng thương! Có học mới biết hay ít ra cái gì cũng phải học mới biết!

5/ Một điều khuyên các nhà văn tương lai?

NMT – Đừng quên rằng dịch văn là một cách tập viết văn rất có công hiệu, và muốn hiểu một áng văn, cách diệu nhất là đem dịch áng văn ấy sang quốc văn. Dịch là cố hiểu, hiểu tư tưởng tác giả mà lại là có sáng kiến, sáng kiến theo lối văn của dịch giả. Đừng tưởng dịch văn là một lối văn không đáng kể. Không, văn chương lề lối của nước Pháp phần lớn là nhờ ở công trình các nhà văn học cổ điển thế kỷ 16. Các nhà viết văn ấy đã đem dịch những cái hay trong cổ văn ra Pháp văn cho mọi người hiểu. Vả Amyol vẫn lưu danh trong văn đàn nước Pháp, dẫu chỉ là một nhà dịch giả mà thôi. Về phần tôi, tôi dám chắc rằng ông Nguyễn Văn Vĩnh sau này sẽ là một nhà dịch văn đáng ghi tên trong sử ký văn chương nước Nam.

Một điều khuyên nữa: nói bắt chước là bắt chước cái thể văn. Chứ ý tưởng thì vẫn phải giữ tính cách siêu xuất. Tôi muốn nói rằng chỉ nên bắt chước cái lối viết văn, còn ý tứ tư tưởng trong bài thì phải là của mình: khi một nhà viết văn đã tìm ra được một lối văn ngoại quốc mình thích, mình vẫn ao ước xưa nay, thì phải cố phô bầy những tính tình của mình, những ý tưởng nó vẫn nằm ở trong tâm não mình. Về vấn đề ấy, ta cũng nên trông gương người Pháp: tôi đã nói một phần lớn văn chương Ronsard không lưu truyền lại hậu thế là vì không những Ronsard đã bắt chước văn thể mà lại theo như hệt các tư tưởng của cổ nhân. Ngày nay ta còn đọc văn Ronsard là chỉ nhờ những tập thơ về ái tình, những bài luận thuyết về văn chương, v.v., nghĩa là những áng văn chương mà thi sĩ đã đạt những ý tưởng, những tính tình riêng của mình, và đã đạt ra ngoài tròng kiềm tỏa của cổ văn. Nói thế có phải tôi muốn tưởng lệ lối viết văn có tính cách cá nhân và lãng mạn chăng? Không thực hẳn thế. Tôi xin tuyên cáo những chức quyền của một nền văn chương có tính cách “nhân loại”. Nhiều nhà trí thức chưa rộng tưởng rằng có một nền văn chương cổ điển và một nền văn chương lãng mạn. Lầm. Các nhà phê bình đời nay đương công kích cái thuyết phân đẳng loại ấy. Chỉ có một nền văn chương ở tay người viết ra, viết cho người đọc, nói cho người nghe.

Dù cổ điển hay lãng mạn thì cũng được người ca tụng nếu có đủ đức tính của loài người. Những chữ cổ điển và lãng mạn chỉ phô một ý trái ngược nhau (trái ngược, hình thức) trái ngược về văn thể mà thôi. Nhà cổ điển ngắm kẻ khác để tả người, còn nhà lãng mạn thì sự ngắm mình để tả người. Đó, khác nhau chỉ ở chỗ đó.

 

Tổng luận -- Tôi chỉ có một khẩu hiệu cùng các nhà viết văn Annam sau này, cái khẩu hiệu là câu trót của bài này: Bắt chước khôn khéo, và trước hết phải giữ được tính tình của mình. Phải lưu ý đến quốc gia và nhân loại.

 

Nguồn:

Phong hóa, H., s. 18 (20 Octobre 1932), tr. 5; s. 19 (27 Octobre 1932), tr. 3

 

15 thg 11, 2020

Tôi đã học hỏi được gì từ các bộ sách giáo khoa môn văn trung học dùng ở miền Nam 54-75?

 1/

Hấp dẫn nhất đối với tôi thời gian đầu là các cuốn sách cuối cấp trung học, ví dụ như cuốn Quốc văn lớp 12 ABCD của một nhóm giáo sư Quốc văn do nhà Trường Thi xuất bản mà tôi đã giới thiệu trên blog cá nhân ngày 5-11-2019. Lý do trước tiên tôi thích loại này là vì mở đầu có phần lý thuyết trong đó gồm hai phần chính là lịch sử tư tưởng Việt Nam và lịch sử ba bộ môn là lịch sử thi ca, lịch sử báo chí và lịch sử tiểu thuyết.

Phần lịch sử tư tưởng được chia ra rạch ròi: các tư tưởng bản địa (thể hiện qua ca dao tục ngữ và truyện cổ tích), các tư tưởng ảnh hưởng từ phương Đông chủ yếu là Trung Hoa (Nho Phật Đạo), và các tư tưởng ảnh hưởng từ phương Tây (tư tưởng lãng mạn, tư tưởng tự do dân chủ và tư tưởng Thiên chúa giáo).

Theo chỗ tôi biết trước 1970 (?), đến năm cuối cùng của bậc trung học, học sinh đã học triết học. Sau này, khi có nhiều thời gian hơn, sự ra đời của các bài giảng về tư tưởng như trên vừa nói rõ ràng là tổng kết được các phần học của các lớp dưới, mà lại giúp  thêm việc học triết.

Nên chú ý là khi nói về các tư tưởng nói trên, bài giảng đều có kèm theo các tác phẩm minh họa ví dụ khi nói về nho giáo thì dẫn lại các tác giả Nguyễn Du (Đoạn trường tân thanh) Nguyễn Đình Chiểu (Lục Vân Tiên) và Nguyễn Công Trứ (thơ và các bài hát nói).

Hoặc sau này khi nói về tư tưởng tự do dân chủ, dẫn lại các tác phẩm của Phan Châu Trinh (Quân trị và dân trị chủ nghĩa) Nguyễn An Ninh (Cao vọng của thanh niên) Nhất Linh (Đoạn tuyệt).

Như vậy dầu không được nói rõ nhưng người học sinh có thể hiểu là phần tư tưởng bản địa xuất phát từ xã hội Việt Nam khá yếu, phần chủ yếu trong các hoạt động tư tưởng và từ đó dẫn tới việc hình thành những tác phẩm quan trọng là những tư tưởng ngoại nhập, đó là điều mà chẳng những người học sinh trung học mà đến cả các sinh viên và các trí thức ở Hà Nội sau này cũng không bao giờ được giảng giải cho rõ ràng.

  Ông cha ta xưa coi việc tiếp nhận những cái hay cái đẹp của nước ngoài để bổ sung cho những phần thiếu sót vốn có là tự nhiên, từ đó làm nên phần gia tài tinh thần của mình nghĩa là biết sống chung với các nền văn hóa khác, còn lớp người làm văn học trưởng thành từ cuộc cách mạng sau 45 ở Hà Nội, lại tìm cách lờ đi hoặc không công nhận, không nhấn mạnh đúng mức nguồn gốc các tư tưởng đó là ở đâu, làm sao có thể thuyết phục các thế hệ về sau cho được.

2/

Từ trước đến nay, các sách giáo khoa về văn của Hà Nội ở bậc trung học chưa bao giờ có phần lịch sử các thể loại. 

Học sinh chúng tôi chỉ được học từng tác phẩm riêng rẽ và nếu có tìm cách xâu chuỗi các tác phẩm đó lại, thì chủ yếu là xâu chuỗi về mặt tư tưởng và tác động xã hội, chứ không hề nhấn mạnh tầm quan trọng của thể loại văn học càng không chú ý đến sự phát triển lịch sử của nó. 

Nên biết thêm là ở một tác giả lý luận văn học người Nga hiện đại có tầm cỡ thế giới như M.M.Bakhtin, thì vấn đề thể loại cũng được đề cao ở cái mức là ông cho rằng thể loại phải là nhân vật chính trong đối tượng của nghiên cứu văn học.

3/

Có một cảm tưởng chung khi tìm hiểu về các phần lý thuyết trong sách giáo khoa môn văn lớp 12 in ở miền Nam là người học sinh luôn luôn được lưu ý rằng sự phát triển của văn học Việt Nam không cô lập mà trong mọi thời kì đều có sự gắn bó với nền văn học của các nước chung quanh (và các nước có quan hệ sâu sắc với Việt Nam) hoặc nói theo lý thuyết tức là phát triển dựa trên văn mạch của thời đại.

Ngay từ một cuốn sách giáo khoa in trước năm 70, được viết khác hẳn so với những năm 70, tôi còn đọc thấy một phần viết riêng về những ảnh hưởng của văn học nước ngoài đối với văn học Việt Nam.

Lạ một điều là trong khi các cuốn sách ấy không có phần riêng viết về văn học nước ngoài, thì tinh thần hội nhập văn hóa chân chính vẫn chan hòa trong toàn bộ các trang sách.

Kết hợp với việc giảng dạy ngoại ngữ rất tốt trong các chương trình từ tiểu học trở lên, có thể nói là việc giảng dạy văn học thông qua các bộ sách giáo khoa ở  miền Nam đã thấm nhuần tư tưởng khai phóng, tư tưởng cầu học cầu tiến bộ rất cần thiết cho con người hiện đại. Ở các cuốn sách giáo khoa văn học miền Bắc, điều đó không được nhấn mạnh đúng mức mà lúc nào cũng chỉ thấy ám ảnh về sự phát triển tự phát và nhiều phần biệt lập của dân tộc, một điều theo tôi là không đúng với thực tế.

(Trong một cuốn sách triết lớp 12, tôi còn đọc được cả bản Tuyên ngôn nhân quyền nổi tiếng trên thế giới được dịch rất khúc triết mà lại dễ hiểu. Tài liệu này ngay cả các sinh viên và các cán bộ nhà nước ở các viện khoa học xã hội cũng không bao giờ được giới thiệu)

4/

Từ chương trình lớp 12, tôi đọc ngược lại của các bậc học trung học ở miền Nam và nhận thức thêm được vài điều :

-  Phần giảng văn trong các cuốn sách này hết sức phong phú. Tôi có cảm tưởng là sách giáo khoa miền Bắc lo nhét vào đầu học sinh những nhận định về văn học hơn là để học sinh tiếp xúc với tác phẩm, còn các cuốn sách miền Nam thì cứ đưa ra tác phẩm ở mức tối đa có thể, kèm theo một ít lời giải thích cần thiết để học sinh hiểu tác phẩm, còn việc khái quát thì chỉ nêu lên những điều thiết yếu chủ yếu là để cho học sinh suy nghĩ và tìm đọc thêm ở sách ngoài xã hội.

- Trong khi số lượng các bài giảng văn nhiều hơn hẳn, thì nội dung các bài giảng văn ấy cũng mang lại cho tôi một bức tranh đa dạng nhiều vẻ về đời sống văn học mà trong  các sách giáo khoa miền Bắc chúng bị rút gọn và định hướng theo một tư tưởng nhất định. Ví dụ như về phần Nguyễn Công Trứ, đọc vào các bộ sách này tôi thấy ông thật là một nhà văn độc đáo có một cuộc đời phong phú và một nền học vấn chắc chắn biểu hiện ra thành những tác phẩm có khí phách, có chủ kiến trong cuộc sống.

- Trong khi các tài liệu văn học trung cổ ở miền Bắc nhấn mạnh quá nhiều đến Hồ Xuân Hương với chất dân dã nhiều khi ngả sang thô tục thì theo tôi nhớ là các bộ sách ở Sài Gòn gần như không giảng gì về bà mà lại lưu ý đến vài nhà thơ nữ khác giàu chất quý tộc như Bà Huyện Thanh Quan. Theo tôi tinh thần quý tộc trong văn học trung cổ Việt Nam cần được nhấn mạnh nhiều hơn nữa vì đó cũng là điều còn xuyên suốt đến tận văn học tiền chiến trước 45, từ Nhượng Tống đến Nguyễn Tuân…

Đến một tác giả mà các sách giáo khoa miền Bắc coi là trọng điểm như Phan Bội Châu, đối chiếu với các sách giáo khoa miền Nam, tôi thấy Hà Nội đã làm nghèo Phan Bội Châu đi rất nhiều. Người soạn sách chỉ chú ý đến phần yêu nước trong tư tưởng của Phan Bội Châu mà không chú ý đến các trước tác của ông từ thời bị bắt và giam lỏng ở Huế (1925-1940) trong đó ông hoạt động như một nhà trí thức và một nhà tư tưởng, chuyển tất cả nhiệt tình yêu nước vào việc lo nâng cao đời sống tinh thần của người dân và như vậy là ông đã tiếp thu được các tư tưởng của phương Tây về xã hội dân sự không kém gì nhiều tri thức đương thời. Ở đây ông lại có lợi thế của một người viết ra những điều trên sau một thời gian theo đuổi tư tưởng bạo động nên những điều trình bày của ông về tư tưởng cải lương cải cách càng có ý nghĩa thiết thực.

5/

Sau khi đọc xong các bài giảng văn trích giảng trong các cuốn sách giáo khoa văn học ở miền Nam, tôi có cảm tưởng là trước đây mình được học quá sơ sài, được hướng dẫn quá độc đoán. Trong khi không có dịp đọc lại toàn bộ văn học của người xưa, việc đọc lại các bài giảng văn này cũng bổ sung cho tôi rất nhiều cả về mặt chất lượng lẫn số lượng. Tôi ước ao có ai đó đứng ra làm công việc sưu tập tất cả các bài giảng văn này lại xếp theo trình tự thời gian tồn tại của chúng, rồi soạn thành sách và đưa lên mạng thì người đọc (bao gồm cả thầy giáo và học sinh) sẽ có thêm một bức tranh đầy đủ về văn học Việt Nam và rồi từ đó chúng ta sẽ suy nghĩ tiếp.

6/

Sau các bài giảng văn, các bộ sách giáo khoa thường có phần chú thích kỹ lưỡng để người học sinh có thể hiểu được căn bản tư tưởng của người viết của người sáng tác. Còn phần khái quát về từng tác giả thì được viết một cách hết sức ngắn gọn và theo tinh thần cởi mở, chứ không khuôn tác giả vào một xu hướng, một bộ mặt cụ thể nào đó. Người soạn sách giáo khoa không đặt vấn đề những kết luận của mình là những nhận định bắt buộc học sinh phải thuộc lòng, từ đó định hướng toàn bộ suy nghĩ của học sinh, mà chủ yếu chỉ xem những điều mình viết ra như những gợi ý để học sinh suy nghĩ tiếp. Cũng không có danh sách những cuốn tham khảo bắt buộc vì người soạn sách nghĩ rằng việc tham khảo rộng rãi đã là một thói quen của cả xã hội.

(Còn nữa)

 

11 thg 11, 2020

Vladimir Malyavin : Một ngày ở Hà Nội (Phạm Minh Ngọc dịch)

 

Theo tôi nh đây là mt bài viết gây xôn xao trong dư lun Hà Ni 15 năm trước  Mc dù không tán thành mi lun đim ca bài viết nhưng cho đến hôm nay tôi vn thy đây là nhng suy nghĩ đy thách thc. nghĩa là gi ý cho chúng ta suy nghĩ tiếp. Sau khi mạn phép lược bỏ vài ý không cần thiết,xin đăng li đ các bn tham kho


======

 

 Lời cảnh báo của người dịch: Những ai đã quen sống trong “tiện nghi tức thời” (Instant Comfort - từ của Hà Nhân Văn LLH), hay những ai vốn chỉ quen nghe những lời êm ái đầy chất sirô có ga kiểu như “Sự nghiệp xây dựng một nền văn hoá Việt Nam đậm đà bản sắc dân tộc đã đạt được nhưng thành tựu nhất định”, “Văn hoá Việt Nam thiết tha với cuộc sống con người”… xin hãy bảo trọng; để đảm bảo sức khoẻ xin đừng đọc bài này!

******

Tôi chưa từng đến Việt Nam, lần này tôi quyết định thay đổi đường bay quen thuộc và trên đường trở về Moskva đã ghé thăm Hà Nội. Tôi chỉ có một ngày, lại không biết tiếng Việt, nhưng hướng dẫn viên du lịch và chiếc ô tô sẽ giúp tôi giải quyết một “siêu nhiệm vụ”: tìm hiểu nét đặc thù của Việt Nam trên cái “phông” của những nước Đông Á mà tôi đã biết. Dĩ nhiên là không tránh khỏi cảm giác của một người nghiệp dư, nhưng là người nghiệp dư đã được trang bị: tôi đem theo một cái ấm trà Tầu vào quán Việt Nam.

Cái ấm hoá ra rất đúng chỗ và không phải là không có ích. Mọi thứ ở Hà Nội đều làm người ta nhớ đến Trung Quốc. Người Việt Nam, có thể từ lâu, không tự nhận ra rằng họ đã tiếp thu những điều sơ đẳng nhất của văn hoá Trung Hoa, từ cách tính lịch, cách đặt tên đến tôn giáo và cả phong cách nghệ thuật nữa. Tôi thật sự ngạc nhiên khi nhận ra rằng nhiều từ được phát âm không khác gì tiếng Hán, nghĩa là nếu muốn ta có thể gọi tiếng Việt là một phương ngữ của tiếng Hán. Như vẫn thường thấy ở ngoại vi, hơi hướng của quá khứ ở đây còn đậm hơn cả ở ngay chính nước Trung Hoa. Mặc dù vậy, Việt Nam đã từng có hai ngàn năm đấu tranh với chính nước Trung Hoa đó để bảo vệ nền độc lập. Các mối quan hệ đối tác, bình thường hiện nay không xoá được mối nghi ngờ giữa hai bên cũng như những tranh chấp về lãnh thổ vẫn còn âm ỉ. Đấy là tình trạng “cãi nhau trong nhà” giữa các dân tộc láng giềng mà chúng ta đã quen!



Mỗi lần tiếp xúc với quá khứ của Việt Nam là một lần tôi lại chạm trán với vấn nạn về đặc thù của nó. Đây là Chùa Một Cột, nhỏ như một túp lều trên cái chân gà (tác giả cố ý gợi hình ảnh ngôi nhà của mụ phù thuỷ, dựng trên cái chân gà, rất thịnh hành trong truyện cổ tích Nga - ND): một ông vua ở đây đã xây dựng ngôi chùa này để tri ân Đức Phật vì đã giúp hoàng hậu thụ thai. Truyền thuyết được mang từ ngoài vào, truyền thuyết này nổi tiếng khắp các nước Đông Á và có biểu tượng kép: nó vừa vinh danh hoàng gia vừa hạ thấp - nếu không nói, hạ nhục - nhà vua với tư cách là một người đàn ông. Còn đây là Văn Miếu, thờ Khổng giáo: những bức tượng Khổng Tử và các học trò của ông được đắp trong thời gian gần đây, dành cho du khách và những phiến đá khắc đầy những chữ tượng hình, đứng nghiêm như một đội quân. Những chữ tượng hình trên cổng ngách ghi: “Người đỗ đầu được vinh danh trên toàn Vương Quốc”. Trong những tấm bưu thiếp dành cho du khách bán trong các quầy báo là hình các toà miếu theo kiểu Trung Hoa với những ông thánh Trung Hoa.

Tôi đã hỏi rất lâu người hướng dẫn rằng như vậy thì bản sắc nằm ở chỗ nào? Theo tôi thì anh ta không hiểu tôi muốn gì, nhưng cuối cùng đã chỉ cho tôi mẫu tự La Tinh như là một đặc trưng không thể chối cãi được của Việt Nam. Không có gì phải tranh luận, các dân tộc láng giềng với Trung Quốc đã tạo ra mẫu tự riêng của họ và đấy là những trở ngại chính cho quá trình Hán hoá hoàn toàn. Nhưng Việt Nam lại không phải là tiêu biểu trong trường hợp này: trước đây người Việt sử dụng chữ tượng hình, mẫu tự La Tinh chỉ được sử dụng từ thế kỉ XX.



Tôi buộc phải tự đi tìm lời đáp cho những câu hỏi của mình. Và đấy chính là cảm nhận đầu tiên về Việt Nam. Trên đường vào Hà Nội chúng tôi đã lọt vào những khu dinh cơ mới, một số còn đang được xây dựng: những ngôi nhà hẹp, cao, bốn năm tầng, có ban-công, tầng áp mái với hàng lan can, có tháp và mái như những nhà thờ Thiên Chúa giáo (người hướng dẫn nói rằng có cả mái tròn như củ hành theo kiểu nhà thờ Chính Thống giáo nữa), trang trí bằng đủ loại đèn màu, trông giống như các khu vui chơi. Đấy là dinh cơ của những nhà giàu mới, rất khiêm tốn so với tiêu chuẩn phương Tây, thậm chí so với Đài Loan, nhưng là hình ảnh của giấc mơ tự do, một thứ tự do với nghĩa suồng sã. Tôi chỉ mới gặp những cảnh tượng như truyện cổ tích thế này ở các khu “hậu hiện đại” ở Mĩ, cũng dành cho những kẻ mới nổi như thế. Ở Trung Quốc, hay ở Nhật Bản không bao giờ có cảnh đó, các kiểu kiến trúc ngông cuồng như thế ở đó chỉ dành cho các khu vực có phẩm chất đáng ngờ (ý nói các khu nhà thổ -ND). Còn đối với tôi, một người sống ở Moskva, thì cảnh tượng này làm tôi nhớ tới kiến trúc các khu nhà nghỉ ngoại ô Moskva - kiến trúc không phải của đời sống mà là của mơ mộng, không phải của trật tự mà của sự tinh nghịch và đỏng đảnh, không phải của đời sống trần tục mà là của sự bay bổng trên chín tầng trời. Nhà nghỉ là cái bóng của đời, còn cuộc đời của cái bóng thì hư ảo, không thể nắm bắt, thoáng qua, nhưng ai có thể nói rằng nó không đáng kể? Có thể loại bỏ một vật, nhưng cái bóng thì không. Đấy là một vật vô tích sự nhưng lại vững hơn bàn thạch.
Liệu có phải do những qui luật khắc nghiệt của nền địa chính trị mà trong suốt lịch sử của mình Việt Nam đã sống trong “khu nhà nghỉ” của các nền văn minh vĩ đại -- nhiều thế kỉ trong “nhà nghỉ” Trung Hoa, sau đó dưới bóng của nước Pháp và sau này là nước Nga-Liên Xô, còn hiện nay là Mĩ ?  

Đối với tôi, họ trông giống như những người đã chiếm được một chỗ tiện nghi dưới bóng của kẻ khác, hay dưới cái bóng của niềm vinh quang có tính khu vực của chính mình.

Việc sống một cách quá lâu dưới bóng kẻ khác mà không hay đã tạo cho người Việt Nam khả năng tuyệt vời để tuyên bố về sự không giống ai của mình mà không cần suy nghĩ về thực chất sự không giống ai đó.

 

Người Hà Nội làm tôi ngạc nhiên bởi khả năng hoà nhập với phương Tây của họ, thật là một ca hiếm trong số các dân tộc lâu đời ở Á Đông. Ở trong các cửa hàng nhỏ trong khu phố cổ tôi đã từng chạm trán với nhiều thanh niên có thể giảng giải, đúng là giảng giải chứ không phải nói ra những từ học thuộc lòng, bằng tiếng Anh, tiếng Pháp và không hiếm trường hợp, bằng tiếng Hoa nữa.

Diện mạo kiến trúc của Hà Nội cho đến nay vẫn do phong cách thuộc địa Pháp quyết định. Đấy là những toà nhà chính phủ, thấp, hai tầng, màu vàng treo các biểu ngữ và khẩu hiệu màu đỏ, những toà nhà kiến trúc theo lối nhà nghỉ, giống như dinh thự ngoại ô của các quan toàn quyền ngoại quốc vậy. Cái khách sạn đắt tiền (theo tiêu chuẩn địa phương) mà tôi có dịp ghé qua trước đây vốn là dinh cơ của một người Pháp, bên dưới chụp đèn Âu Châu là những bức tranh phong cảnh Trung Hoa, trên nền nhà là những chiếc đôn sứ Trung Quốc to đùng. Cả đồ Âu lẫn đồ Tầu đều nhạt và chẳng ai hiểu được ý nghĩa. Không phải Pháp cũng chẳng phải Trung Hoa mà chính là sự hoá thạch trơ lì và vô nghĩa của cả hai. Đồ cổ Việt Nam trông cũng có vẻ hoá đá tương tự: những tấm khăn trải bàn nhàu nát, những chiếc ghế bành sờn rách, mấy chàng bồi bàn ăn mặc hao hao thanh niên nhà quê.

Khu vực buôn bán cũ của Hà Nội vẫn còn nguyên vẹn và hiện đã biến thành khu bán hàng cho du khách. Đấy là một mạng lưới chằng chịt các đường phố, chia thành những khu tam giác như ở Paris, còn việc buôn bán thì vẫn theo truyền thống ngành nghề cũ: có phố chỉ bán thức ăn, có phố chỉ bán quần áo, vật dụng v.v. Ở đây cái bóng quá khứ của người và của chính mình thể hiện sức mạnh vô địch đối với nhà độc tài mệnh danh là hiện đại hoá. Trên toàn cõi Á Đông, đây lần đầu tiên tôi nhìn thấy sự mục nát trên những toà nhà cũ kĩ: mấy cái khung cửa sổ sơn son thếp vàng, những hàng lan can xiêu vẹo, mấy cái ban-công sẵn sàng đổ sập xuống đầu bất cứ lúc nào. Hoàn toàn khác với Nhật, nơi quá khứ được bảo quản cẩn thận, cũng khác với Trung Quốc, nơi quá khứ lặng lẽ có mặt trong đời sống thường ngày. Sự đổ nát chứa trong mình nó biểu tượng hai mặt: sự phù phiếm và vĩnh hằng của cuộc đời. Những khung cửa sổ trống rỗng, những thanh sắt chìa ra từ một hàng rào đổ, những viên đá lát đường cũ như cùng gào với theo khách bộ hành: “Chúng tôi còn có thể! Chúng tôi còn...”. Trên một bức tường mốc thếch, lở lói có hàng chữ tượng hình màu đỏ như viết bằng máu:

KHÁCH SẠN ĐẠI LA

Bên cạnh lấp lánh hàng chữ Tây (ghi theo nguyên văn):

BUY HERE FOR MANY YEAR

ICI ON PARLE FRANCAIS


Khả năng hấp thụ “đồ” Tây của người Việt phải nói là vượt mọi biên giới của trí tưởng tượng. Trong một quán bar, dưới nền nhạc rock-and-roll người ta chiếu những đoạn phim tài liệu của Đức Quốc Xã và cảnh tập luyện của lực lượng không quân Hoa Kì. Chui, dĩ nhiên.

Buổi tối tôi ghé vào rạp rối nước, lại một hiện vật văn hoá nữa sống còn được dưới cái bóng của những nền văn minh vĩ đại. Hàng ngàn năm trước nhà hát kiểu này đã từng có ở Trung Quốc nhưng nay không còn nữa vì không cạnh tranh nổi với những loại hình nghệ thuật tinh tế hơn, hoặc ngược lại, đơn giản hơn về mặt kĩ thuật.

 Phải nói thêm rằng múa rối hiện vẫn còn thịnh hành ở miền Nam Trung Quốc, đặc biệt là ở Đài Loan, tại đây các màn múa rối là một phần quan trọng của các buổi lễ hội và tục trừ tà. Rối luôn đứng cạnh tượng các ông thánh: các nghệ nhân chế tác cả hai loại, theo cùng một phong cách. Các buổi múa rối còn được người ta gán cho nhiều tính chất thần bí hơn các màn trình diễn của các nghệ sĩ chính cống nữa.

Các vở kịch rối của Hà Nội hiện đã bị “xử lí” về mặt nghệ thuật và tư tưởng: nội dung tôn giáo đã bị loại bỏ, nhạc nền được hiện đại hoá. May là những cải biến này đã không động đến phần thực chất của buổi diễn, đấy là một trò chơi kết hợp giữa điển tích và nghi lễ. Người xem được thấy một loạt hoạt cảnh, chẳng có kịch tính, thậm chí nội dung cũng không nốt. Tất cả chỉ là biểu hiện của cuộc sống, rất nhiều cảm giác trong tiếng nhạc mở hết cỡ và màu sắc loè loẹt. 


11.2.2005

Vladimir Malyavin là một nhà Đông Phương học nổi tiếng của Nga. Ông đã xuất bản nhiều tác phẩm về nền văn minh và các nhà hiến triết Trung Hoa cổ đại, có thể kể: Khổng Tử; Trang Tử; Đạo Đức kinh; Nền văn minh Trung Hoa; Hoàng hôn của Đạo. Văn hoá Trung Hoa trên ngưỡng cửa của Thời đại mới; Nghệ thuật Trung Hoa; Trung Quốc. Bách khoa thư về tình yêu; Chiến lược quân sự Trung Quốc và nhiều tác phẩm nổi tiếng khác, trong đó tác phẩm Khổng Tử được coi là một best-seller với số bản in là 150 ngàn cuốn.

© 2005 talawas

http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=3975&rb=0305

 

25 thg 10, 2020

Thêm một tài liệu giới thiệu chương trình và sách giáo khoa môn Văn ở miền Nam

Trong một bài viết hồi tháng 11 năm 2019, tôi đã giới thiệu Mục lục một cuốn sách Quốc văn lớp 12 ở miền Nam trước 1975

 https://www.blogger.com/u/0/blog/post/edit/434398051354695655/7863766083387618782

Nay tôi xin tiếp tục giới thiệu một bài viết bao quát đầy đủ  về chương trình và sách giáo khoa môn Văn bậc trung học ở miền Nam thời điểm này. Trong khi đưa văn bản dưới đây trên blog của mình, tôi có mạn phép biên tập lại ít chút về mặt kỹ thuật, như tách những đoạn viết dày đặc tên gọi của các bài giảng thành từng dòng riêng rẽ để bạn đọc dễ theo dõi. Tấm hình kèm theo đây là ảnh bìa một cuốn sách mà tôi đang có trong tay có liên quan đến chủ đề của bài.

23 thg 10, 2020

Tô Hoài người tận tụy đến cùng với những tư tưởng của mình

 

Bài đã đưa lên blog này ngày 05-10-2014

 Tadeusz Rozewicz là nhà thơ Ba Lan sinh 1921 qua đời 2014. Có một bài thơ của ông tìm cách cắt nghĩa về người viết văn gợi cho tôi nhiều liên tưởng.

Nhà thơ là ai
Nhà thơ là người làm thơ
và là kẻ chẳng làm thơ bao giờ

nhà thơ là người chẳng ưa ràng buộc
và là kẻ tự buộc dây vào mình

nhà thơ là người cả tin
và là kẻ chẳng chịu tin bao giờ

nhà thơ là người lừa dối
và là kẻ bị dối lừa

nhà thơ là người gục ngã
và là kẻ tự mình đứng dậy

nhà thơ là kẻ ra đi
và là kẻ một li chẳng rời.

Lê Bá Thự dịch

     Ở cuối bài thơ có chua rõ thời điểm sáng tác 18-8-2011. Nghĩa là nó được viết vào dịp tác giả Tadeusz Rozewicz chín mươi tuổi.
Tôi đọc và nghĩ đến trường hợp Tô Hoài.

22 thg 10, 2020

Đặng Thị Thanh Hà : Tô Hoài – người “giải ảo” lịch sử qua văn học

Nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh Tô Hoài, xin giới thiệu một bài viết xuất sắc đọc trong một cuộc hội thảo về nhà văn  này năm 2015 của Đặng Thị Thanh Hà (1) mà đến nay  tôi không thể tìm lại trên mạng đành đưa theo bản đã lưu trong máy. Những đoạn dùng chữ to nhấn mạnh là của tôi VTN .

          Đã tròn một năm kể từ ngày nhà văn Tô Hoài trở về với “cát bụi chân ai”. Năm ngoái, bạn đọc thương tiếc tiễn đưa cha đẻ của chú Dế mèn về với cát bụi. Năm nay, dĩ nhiên vẫn vậy. Người ta vẫn tiếc thương cha đẻ của chú Dế mèn đã làm bạn với bao thế hệ tuổi thơ.

29 thg 9, 2020

Ba kẻ đứng bên lề trong giới nhà văn Hà Nội 1965 1986 - bài ba : Nghiêm Đa Văn

 Nghiêm Đa Văn và rất nhiều dang dở  

Hồi chúng tôi cùng học Đại học Sư phạm, sinh viên gần như là bắt buộc trăm phần trăm phải ở nội trú, nhưng không hiểu sao Nghiêm Đa Văn vẫn xin được đặc cách ở ngoài cùng gia đình, hàng ngày dong xe vào trường. Hà Nội những năm ấy, một chiếc xe đạp còn là rất quý, cả cuộc đời cán bộ nhà nước nhiều khi rút lại chỉ thấy treo trước mắt cái ước mơ là được mua cung cấp với giá rẻ một chiếc xe Thống Nhất. Vậy mà Văn đã sớm xoay đâu được một chiếc xe riêng, tôi không nhớ của Tiệp hay của Trung Quốc nhưng chỉ biết chắc là loại xe trâu rất thô. Nhìn Văn ngồi xe thật buồn cười: Không chút mặc cảm rằng mình đang ngự trên một chiếc xe cà tèng thảm hại, mặt anh thường vẫn cứ ánh lên một thứ vênh vênh không hề đáng ghét mà là đáng yêu lạ. Và Văn cười, nét cười còn hơi trẻ con, dường như muốn nói với cả bọn: “Chúng mày trông tao có oách không?”.

22 thg 9, 2020

Ba kẻ đứng bên lề trong giới nhà văn Hà Nội 1965 1986 - bài hai : Nhị Ca

Nhị Ca và một triết lý sống hợp lý  

Khi tâm sự về những vui buồn trong việc làm tập Thi nhân Việt Nam 1932-1941, Hoài Thanh không quên thú nhận là mình đến với nghề một cách bất đắc dĩ và thường rất ngại khi nghe ai đó nói mình là nhà phê bình văn học.

Theo tôi hiểu, trường hợp vào nghề như Hoài Thanh không phải là ít. Bởi nói chung nghề này quá mới lại quá khó khăn, đứng ở ngoài cũng đủ ngại nên không ít người thường lảng tránh và cho đến phút cuối cùng không bỏ được mới phải sống với nó. Sau lứa Hoài Thanh, đến cả lứa sau, tình trạng trên vẫn còn là phổ biến, trong số này, có một người từng là thầy dạy nghề của tôi, người đã ảnh hưởng nhiều đến tôi về nghề nghiệp.

Người đó là nhà phê bình Nhị Ca.

17 thg 9, 2020

Ba kẻ đứng bên lề trong giới nhà văn Hà Nội 1965 1986 - bài một :Thanh Tịnh

 Bài một :Thanh Tịnh /Bài hai : Nhị Ca /Bài ba Nghiêm Đa Văn

 Thanh Tịnh  cuộc đời ngậm ngải tìm trầm

Năm sớm năm muộn xê xích ít chút nhưng nói chung hàng năm cứ đến khoảng cuối tháng mười một, đầu tháng chạp dương lịch, khi những chiếc lá bàng chuyển dần từ màu xanh sang màu đồng điếu, thời tiết bắt đầu ngả hẳn sang mùa đông, trời đất thấm lạnh đôi khi có thể giá rét thấu xương - thứ rét ngọt như người ta vẫn nói - thì cũng là lúc dân làm báo Hà Nội chúng tôi bắt tay vào một công việc thuộc loại vất vả trong năm là chuẩn bị những số báo Tết.

29 thg 8, 2020

Con người và tư tưởng thời bao cấp

 

NHÂN CUỘC TRƯNG BÀY VỀ
Cuộc sống Hà Nội 1975-86

         
 Một cách làm sử
       Mặt nghệt ra như mất sổ gạo. Một yêu anh có may ô -- Hai yêu anh có cá khô để dành -- Ba yêu rửa mặt bằng khăn--- Bốn yêu anh có cái quần đùi hoa. Những câu ca dao tục ngữ ấy được dịch hẳn ra tiếng Anh rồi được kẻ nắn nót cẩn thận trên những bức tường lớn, dưới đó là mấy gian trưng bày các hiện vật theo một cách thức mà trong điều kiện ở Hà Nội này phải gọi là “hoành tráng”.Đó là một căn hộ thu nhỏ với những vật dụng phổ biến một thời, kể cả cái hố xí được ngăn lại để nuôi lợn. Đó là một cửa hàng gạo có kèm theo thông báo tháng này bán gạo thế nào. Rồi một cửa hàng bách hóa với biển hiệu rỉ nát và những bao thuốc cũ mèm, tưởng như sắp mốc đến nơi.      
     Bộ sưu tập Cuộc sống Hà Nội thời bao cấp đã trình diện như thế tại bảo tàng có uy tín số một hiện nay, Bảo tàng dân tộc học.

18 thg 8, 2020

Nhà viết sử kinh tế Đặng Phong , một trí thức đúng nghĩa

 

 Một lần nhân viết về thói hư tật xấu thời bao cấp, tôi có tìm đọc các tài liệu của nhà viết sử kinh tế Đặng Phong và tìm thấy rất nhiều thú vị. Tôi tuy không hiểu phần nội dung kinh tế cho lắm nhưng khái quát lên thấy rất đúng những nhận thức về cuộc sống về xã hội hiện nay mà nhũng đầu óc kiệt xuất phải lần mò mãi mới tìm ra được nhưng lại còn đang bị bưng bít.

Đọc thêm vào các tài liệu về ông, càng thấy đây là một trí thức theo đúng cái nghĩa mà tôi thấy được sử dụng ở các nền văn hóa khác.

Mặc dù trong nước ông chỉ được coi như một chuyên gia và không được phong chức danh giáo sư gì hết nhưng khi đi giảng dạy ở nước ngoài ông vẫn thường được giới thiệu là một giáo sư uy tín.

Mở Google tìm hai chữ ĐẶNG PHONG tôi thấy rất nhiều bài có giá trị mà hay nhất chính là bài viết trên Bách khoa toàn thư mở Wikipedia đang có trên mạng https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%B7ng_Phong

12 thg 8, 2020

Câu văn của Vũ Bằng trong hồi ký 'Cai'

                   Một bước khai phá của Vũ Bằng trong việc xử lý ngôn ngữ văn xuôi


Trong bài viết mang tên Vũ Bằng “Thương nhớ mười hai” nhà văn Tô Hoài từng kể lại một ít chuyện, liên quan đến mấy năm ông mới vào nghề, và bắt đầu viết đều cho các báo: “Những năm ấy, Nam Cao đương ở với tôi trên Nghĩa Đô.  Chúng tôi mê mải đọc Vũ Bằng (…) Nếu nhà nghiên cứu văn học nào lưu tâm đến những truyện ngắn Vũ Bằng thời kỳ ấy với truyện ngắn của Nam Cao và những truyện ngắn Bụi ô tô, Một đêm sáng giăng suông của tôi trên các báo Hà Nội tân văn có thể dễ dàng nhận thấy hai ngòi bút này hơi hướng Vũ Bằng (Những gương mặt, H. 1994).

4 thg 8, 2020

Sưu tầm một số cách xác định khái niệm trí thức

*Do sức khỏe hạn chế, tôi chỉ có thể trích từ trong lưu trữ cá nhân một số đoạn sưu tầm sau mà không thể làm các việc cần thiết khác, mong các bạn lượng thứ.

1/
Dịch từ chữ intellectuel trong từ điển Pháp, “Trí thức” là “người quan tâm đến công việc não bộ vì thị hiếu hay vì nghề nghiệp”. Theo học giả Trung quốc Hồ Thu Nguyên “trí thức là người hiểu trước, biết trước (tiên tri, tiên giác) rồi đem sự học hỏi của mình công hiến cho tiến bộ nhân loại, xã hội và dân tộc.”
Hy Lạp cổ xưa dùng danh từ triết gia (philosopher) hay ngụy biện gia (sophist) trong khi La Mã thì gọi trí thức là nhà tư tưởng (idéologue).
Trung Hoa còn áp dụng cho trí thức nhiều danh xưng khác như Nho, Sĩ, Thánh, Hiền, Văn nhân hay “Độc thư nhân” (người đọc sách).

22 thg 7, 2020

Thạch Lam: cốt cách một trí thức mới


                         
I

Thạch Lam cho in tập truyện ngắn đầu tay của mình vào năm 1937 và qua đời vào năm 1942.  Sự nghiệp sáng tác của ông như vậy chỉ kéo dài độ khoảng 5 - 6 năm.  Trong cái thời gian ngắn ngủi ấy, khối lượng chữ nghĩa ông đã viết không thể gọi là nhiều.  Tuyển tập Thạch Lam in ra ở Hà Nội 1988 dày 332 trang, khổ 15x22.  Chúng tôi dự đoán: may lắm, tất cả những gì đứng tên Thạch Lam chỉ gấp độ hai lần cuốn tuyển tập đã in, không thể hơn được [1]

13 thg 7, 2020

Vài nét về con người Thach Lam

TỪ LỜI KỂ CỦA NGUYỄN ĐÌNH NGHI
Những nét vẽ phác đầu tiên về Thạch Lam, với tôi, đến từ đạo diễn sân khấu, con trai Thế Lữ:
- Thạch Lam lạ lắm, người to, khoẻ, khoẻ như Tây đen. Hồi ấy có cuộc thi lấy tay bóp bóng ở đấu xảo (hội chợ triển lãm), ông Thạch Lam bóp còn hơn Tây cơ mà.
Nhưng đây là người rất là tinh tế và có một đời sống nội tâm sâu sắc.
Hàng ngày, ông đến làm việc ở toà soạn, thường là đi bộ hay xe tay. Mặc dù anh em có người như Hoàng Đạo nhà rất giàu -- Hoàng Đạo lấy vợ con quan, Thạch Lam vẫn chẳng chịu đến nhờ vả xin xỏ.

8 thg 7, 2020

Chùm ba bài về Nguyễn Tuân, ( II - SỰ ĐỘC ĐÁO & CÁI ĐẸP)


NGUYỄN TUÂN & SỰ ĐỘC ĐÁO TRONG VĂN CHƯƠNG

Bước đầu: từ bỏ
Lúc mới viết, Nguyễn Tuân cho “trình làng” một thứ văn chương nhang nhác như “xã hội ba đào ký” của Tản Đà mà Nguyễn Công Hoan rất thích, tức là đi vào khắc hoạ những nét kỳ cục buồn cười của chung quanh. Nhưng rồi đặt vào hoàn cảnh thị trường văn chương đang hình thành, ông cảm thấy không ổn. Phải tìm ra được “mặt hàng riêng” của mình. Có vẻ như ở đây người ta phải dám chơi một tiếng bạc “được ăn cả ngã về không”. Và Nguyễn Tuan đã chấp nhận. Cái cách viết mới le lói hình thành qua vài bài in trên Đông Dương tạp chí của Nguyễn Giang bị ông từ bỏ. Một cuộc phiêu lưu bắt đầu, Nguyễn Tuân “xăm xăm băng lối vườn khuya một mình” đi vào con đường độc đạo chưa ai đặt chân.

4 thg 7, 2020

Chùm ba bài về Nguyễn Tuân, bài một NGƯỜI NHẬP VAI

Nguyễn Tuân và Thạch Lam cùng ra đời 110 năm trước - tháng 7 1910, Thạch Lam sinh ngày 7 và Nguyễn Tuân sinh ngày 10. Nhân dịp này xin phép được giới thiệu vài bài viết về các ông mà tôi từng viết và đã đưa trên sách báo.

28 thg 6, 2020

Trí thức như thế này thì làm sao mà xã hội không trì trệ?



Tồn tại chứ không phát triển không chỉ là đặc điểm của xã hội Việt Nam hiện đại mà cũng là đặc điểm của xã hội Việt Nam thời trung cổ.
Khi tìm những nguyên nhân của hiện tượng đó chúng ta thấy trước hết do tình trạng lạc hậu lại cũng do chiến tranh đóng vai trò quá lớn chi phối đời sống cộng đồng hàng thế kỷ mà bộ phận trí thức ưu tú cần thiết, đáp ứng được nhu cầu vận động của xã hội không hình thành.

13 thg 6, 2020

Một nền phê bình thấp lè tè

      Tính tự phát vốn là đặc điểm của nhiều hoạt động tinh thần ở ta mấy chục năm nay trong đó  bên cạnh việc sáng tác  thì có cả phê bình văn học.
      Tôi xin phép lấy trường hợp bản thân tôi mà suy.  Sau gần bốn chục năm kẽo kẹt hành nghề, nay  nhìn lại  tôi chỉ có thể nói công việc mà mình đã đặt nhiều  tâm huyết  thật ra đã được làm theo kiểu  gặp đâu hay đấy,  trông trước trông sau,  trông mọi người mà làm, chứ đâu  có bài bản gì  cho đàng hoàng.

8 thg 6, 2020

Bàn về số phận của tầng lớp có học ở Nga


  Tập tiểu luận  Về trí thức Nga ( La Thành và Phạm Nguyên Trường dịch, nxb Tri thức H. 2009)  gồm có nhiều bài viết xuất sắc

+ Chân lý của triết học và sự thật của người trí thức 
+ Khủng hoảng trí tuệ và sứ mệnh của tầng lớp trí thức cả hai cùng của  tác giả N.A. Berdaev
+ Tầng lớp kỹ giả -- Alekssandr Solzhenítsyn
+ Phẩm tính trí thức -- Dmitri Likhachev


Riêng bài BÀN VỀ  SỐ PHẬN CỦA TẦNG LỚP CÓ HỌC Ở NGA của Sergey Kirilov thì bàn sâu vào lớp trí thức Nga sau 1917. Tầng lớp này  đã được quan niệm như thế nào, nhà nước xô viết đã hình thành họ theo những cách thức ra sao, tại sao giới trí thức Nga  lại có bộ mặt như chúng ta đang thấy, tại sao trong thời đại mới,  đa số những người này dừng lại ở cái trình độ thảm hại và kèm theo  những suy đồi  về đạo đức quá rõ so với trí thức Nga trước Cách mạng.
Chúng tôi lược thuật  bài này, cốt để các bạn xa gần qua đó, từ trí thức Nga sau 1917, có thể hiểu thêm về lớp trí thức được đào tạo ở Hà Nội sau 1954.
Trong cơn thức tỉnh sau chiến tranh, nay là lúc xã hội thường hay chê trách lớp trí thức này về mọi mặt.  Nhưng nếu hiểu được người trí thức ở ta là thế và được nhào nặn như thế, chúng ta sẽ độ lượng với họ hơn với nghĩa… bớt hy vọng ở họ hơn.

29 thg 5, 2020

Trong chuyện này thì ai cũng có những kỷ niệm của mình


 TRONG CHUYỆN NÀY THÌ AI CŨNG CÓ NHỮNG KỶ NIỆM CỦA MÌNH

Ngày 22-5-2020, tôi đọc bài viết sau đây trên FB cùng ngày của tác giả Bùi Văn Phú tự nhiên trong lòng nẩy ra ý muốn là cũng viết về lứa tuổi của mình trong chiến tranh, những bạn bè cùng lớp cùng trường những người đã chết và người còn sống. Một ham muốn nữa còn dai dẳng hơn, cùng lúc đã đến với tôi, là muốn viết một cái gì về miền Nam giống như anh Phú viết về miền Bắc. Ham muốn đó nảy sinh khi đọc  phần sau bài viết của anh Phú ở đó tác giả kể về những chuyến trở lại thăm Hà Nội Nam Định, thật giản dị mà cũng hàm chứa bao ý tưởng…Sau 30 tháng 04 1975 nghĩa là kéo dài hơn bốn chục năm nay tôi cũng như nhiều bạn miền Bắc có những chuyến vào Nam và tiếp xúc với người miền Nam  và chúng tôi cũng có những chuyện chưa nói với ai cả , bây giờ đọc anh Phú tự nhiên muốn nói. Chính là nhờ vào miền Nam và sự tiếp xúc đa dạng với  đồng bào miền Nam chúng tôi hiểu thêm về chính mình, hiểu thêm về quá khứ cộng đồng, chủ đề này đến nay cũng mới được rất ít người đả động tới và số người biết nói chân thành và cảm động như anh Phú càng ít.
Xin phép tác giả Bùi Văn Phú cho tôi  giới thiệu lại bài viết  dưới đây để các bạn bè khác có quan tâm tới những vấn đề này cùng đọc

16 thg 5, 2020

Một cách nhìn về sự xâm nhập lẫn nhau giữa âm nhạc hai miền từ sau 1975


Mối quan hệ hệ văn hóa giữa hai miền Nam Bắc từ sau 75 chắc chắn  là một mối liên hệ đa dạng phong phú nhiều mặt nhiều mức độ mở ra trên  nhiều phương diện bất ngờ.
Và lại càng chắc chắn hơn nó là một sự xâm nhập lẫn nhau có đi có lại có chiều xuôi có chiều ngược nhiều  hài kịch và cũng nhiều bi kịch. 
Khi mừng cho ngành nhac có được những bài tổng kết như thế này, cũng có nghĩa  tôi ao ước ngành văn học của mình cũng có những bài tổng kết tương tự. 
Cần phải có nhiều loại bài như vậy  có bài trúng có bài trật bài được bài chưa được rồi phải tổng hợp lại thì chúng ta mới có được một cái nhìn chính xác về hiện tượng mà chúng ta muốn tìm hiểu

11 thg 5, 2020

Một khuôn mặt khuất lấp trong lịch sử - trường hợp ông Trạng mẹo Phạm Duy Khiêm


Đằng sau nhân vật Phạm Duy Khiêm được miêu tả  qua một nhà báo nước ngoài dưới đây tôi thấy có một số vấn đề văn học mà chúng ta ít để ý
Ông là nhà văn  viết bằng tiếng nước ngoài là chủ yếu ( giống như các cụ ta ngày xưa viết bằng văn chữ Hán ) nhưng lại luôn luôn đề cập đến các vấn đề về của xã hội Việt và trở lại với những mô típ của văn học Việt
 Về mặt công dân, có lúc ông đã tham gia  các hoạt động của chính quyền giống như một chính khách  để rồi có lúc lại từ bỏ nó một cách quyết liệt
 Trong khi cuộc đời sáng tác của nhiều nhà văn Việt Nam thông thường chọn  sự ổn định thì ông lại hay thay đổi nếu không muốn nói là làm khó cho mình bằng  một cuộc sống chìm  nổi thất thường
 Ông xa lạ với mẫu nhà văn ăn hành nghề kiếm sống phổ biến ở Việt Nam Nam kể cả loại nhà văn cán bộ trong thế kỷ qua. Ông gần gũi  kiểu nhà văn  kiêm nhà hoạt động xã hội nhà hoạt động văn hóa tức kiểu nhà văn trí thức khá hiếm trong văn học VN 


Bản dịch bài viết dưới đây do anh bạn Phạm Văn Thiều gửi cho chúng tôi 


9 thg 5, 2020

Tham khảo: những nhận định về sự khác nhau giũa giáo dục hai miền 10-2019 ;


 Nền giáo dục miền Nam trước 1975 có mục tiêu lâu dài là xây dựng thế hệ công dân xây dựng đất nước 
trong khi đó . miền Bắc tập trung vào mục tiêu trước mắt là đào tạo lớp chiến binh kế cận đi chiến đấu và điều này đã tạo lợi thế lớn cho miền Bắc trong cuộc chiến, 
các nhà nghiên cứu nhận định tại một hội thảo mới đây tại Eugene, bang Oregon, Hoa Kỳ.

5 thg 5, 2020

Hai bài viết ngắn nhân ngày 30-4-2020


LÀM GÌ VIẾT GÌ CŨNG PHẢI NGHĨ ĐẾN MIỀN NAM

1/
Trên đường tìm hiểu và nghiên cứu văn học, tôi có chú ý tìm hiểu thêm tới các ngành khác như văn hóa giáo dục, nhất là tìm cách bao quát được những vấn đề lớn của nền giáo dục ở ta sau 45, vì nó liên quan tới cả hiện tại lẫn tương lai.

24 thg 4, 2020

Con người khám phá & con người thích ứng trong "Nỗi buồn chiến tranh"

 Chiến tranh nhìn qua số phận cá nhân
     Có một quy phạm thường xuyên chi phối dòng tiểu thuyết Việt Nam viết về chiến tranh vốn đang còn khá lèo tèo. Bất chấp việc chúng được viết ngay trong thời bom đạn hay trong thời bình mấy chục năm về sau, đó thường là những cuốn sách dựng lại cả một bức tranh mở ra theo bề rộng, chiến tranh được ví với một trận cuồng phong, hoặc một cỗ máy khổng lồ có sự vận động cùng lúc của nhiều số phận. Con người trong các tác phẩm đó được miêu tả trong hình thế một nhóm, một tập thể (từ nhỏ đến lớn) có tổ chức, có định hướng rõ ràng, và mỗi cá nhân khi vô tình khi cố ý không hề có ý muốn trở thành độc lập bên cạnh đám đông. Mặc dù vẫn còn những nét riêng tư, nhưng họ không bao giờ tồn tại như những con người tự thân, mà chỉ được xem như người phát ngôn cho một vấn đề của xã hội.

12 thg 4, 2020

Hãy viết về xã hội và con người Việt Nam trong cơn đau ốm

Tiếp tục câu chuyện
về "Sử học và dịch bệnh"
Sau bài viết, “Bệnh dịch và số phận của con người xã hội” nhà sử học Vũ Đức Liêm còn công bố trên trang mạng phunuonline.com.vn một bài khác
KHI VIỆT NAM BỊ "ỐM": SỐ PHẬN MỘT DÂN TỘC GIỮA NHỮNG TRẬN DỊCH
Có thể tìm, chẳng hạn, ở đường link
http://c3hungyen.hungyen.edu.vn/thong-bao/thong-bao-cua-truong/a3.html

1 thg 4, 2020

Sử học và dịch bệnh



Thạc sĩ Vũ Đức Liêm -- giảng viên khoa Lịch sử, ĐH Sư phạm Hà Nội, nghiên cứu Lịch sử tại ĐH Hamburg. – đang là tác giả nhiều nghiên cứu đột phá về lịch sử cận đại VN và khu vực.

17 thg 3, 2020

Nếu như không biết làm gì thì ta hãy đọc...



Trong những ngày có DỊCH CÚM này tôi nhớ ngay tới tiểu thuyết Dịch hạch của Albert Camus  , liền gõ Gogle và tạm bằng lòng với hai tài liệu 2/ và 3/ đưa dưới đây muốn mời các bạn cùng đọc.

Nhưng trước hết mời các bạn dừng lại ở tài liệu 1/ nó là cái cớ khiến tôi thêm tự tin khi chuẩn bị các tư liệu này trong đó có lời khuyên của một nhà giáo loại hơi cổ như bọn tôi
"Các con hãy tận dụng những ngày này để đọc một cuốn sách hay và không có lý do gì để nhốt mình trong nhà nếu bản thân khỏe mạnh."

Tiếp lời ông tôi muốn nói thêm
Ngay trong hoàn cảnh của một người bình thường, cách tốt nhất để TIÊU HÓA tình cảnh này là ta hãy NGHĨ VỀ NÓ TRONG MỘT KHUNG CẢNH RỘNG LỚN CỦA KIẾP NHÂN SINH.

Và trong khi nghĩ, một trong những điểm tựa lớn của chúng ta là kinh nghiệm của các thế hệ trước, những trải nghiệm của họ còn được ghi nhận trong những nền văn học lớn mà hậu thế mãi mãi tìm đọc.
Xin cám ơn các bạn đã chuẩn bị những tài liệu dưới đây. Dù chỉ là một phần nhỏ, vẫn là chúng có giúp tôi thêm chút hào hứng sống trong những ngày dịch bệnh và riêng tôi thì lại khổ nạn đột quỵ đã hai năm nay.

27 thg 2, 2020

Nguyễn Khải và vụ Nhân Văn Giai Phẩm

Để  nghiên cứu lại  về vụ Nhân Văn Giai Phẩm tôi nghĩ có một cách làm, đó là một cuộc điều tra khảo sát đi đến tổng hợp cách hiểu và cách quan hệ, sự tham dự nếu có của các nhà văn Việt Nam đối với  sự kiện này
Gíá cất công tìm kiếm ta đã có thể làm được ngay các đề tài ví dụ
Tố Hữu và Nhân Văn-Giai phẩm,
 Nguyễn Đình Thi và Nhân Văn Giai Phẩm,
Nguyễn Tuân Xuân Diệu Nguyễn Bính với  Nhân văn-Giai Phẩm
 cố nhiên là Phan Khôi Lê Đạt, Trần Dần…với Nhân Văn Giai Phẩm.
Lại có thể kể trên cả những nhà văn tuổi đời trẻ hơn như Phạm Thị Hoài Nguyễn Huy Thiệp Bảo Ninh Dương Thu Hương .. 
Họ không thể có mặt trong các sự kiện trên
Nhưng phản ứng của họ cách hiểu của họ đối với sự kiện này cũng có tác động lớn đến cuộc đời sáng tác của mỗi người

Có một nhà văn mà tôi coi như thày dạy nghề là Nguyễn Khải. Trong những buổi trò chuyện riêng tư hồi chúng tôi cùng ở VNQĐ, ông kể một số chuyện có liên quan đến đề tài tôi đang nói và tôi đã ghi lại như dưới đây, tiếc rằng việc ghi chép còn sơ sài nhưng tôi nghĩ vẫn nên chia sẻ để các bạn cùng đọc. 

22 thg 2, 2020

Sự có mặt của các nhân tố Trung Hoa trên đất Việt thời sơ sử


Trên blog này ngày 26 tháng 11 2019, tôi đã  giới thiệu tài liệu  Việt Nam văn hóa sử đại cương của Đào Duy Anh , trong đó nhiều đoạn nói về vai trò của nhân tố Trung Hoa cổ đại trên đất Việt . Qúa trình này nảy sinh từ thời tối cổ trước cả thời Hùng Vương và còn kéo dài mãi về sau.
Lang thang trên mạng tình cờ tôi bắt gặp một bài viết khác của một tác giả đương đại -- đang sống ở hải ngoại ?- mà lại như là tiếp nối và làm rõ các ý tưởng trên của giáo sư Đào Duy Anh .
Bài này trong khi thiếu đi tính chất bác học nghĩa là thiếu cứ liệu sách vở đầy đủ, lại có sự phân tích khá tỉ mỉ và chi tiết và có được những kết luận mà chúng tôi thấy khá thuyết phục.
Mang tên là Tổng quan về lịch sử Việt Nam bài của tác giả  Lê Mạnh Hùng khá dài ở đây tôi chỉ  trích ra một phần đầu và xin đưa lại đường linh  để các bạn tự tìm hiểu


Những đoạn gạch dưới và những chỗ in đậm đều là của chúng tôi.

Nguyễn Mạnh Tường bàn về hội nhập văn hóa 1932: "Bắt chước khôn khéo và trước hết phải giữ được tính tình của mình"

  Sau đây là một bài của nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân đưa trên FB cá nhân của ông (ngày nào thì tôi trót quên không ghi). Nhận thấy bài sưu ...