31 thg 12, 2015

Nguyễn Minh Châu 1968-1973 (IV)

Ghi chú 31-12-2015
Trước khi mời các bạn đọc tiếp phần ghi chép về Nguyễn Minh Châu hơn 40 năm trước xin có mấy lời tâm sự.
Các đoạn ghi chép trên đây đã được đưa lên blog của tôi từ 12-2011. So với các đoạn sổ tay các đoạn đưa lên lúc ấy đã bị rút gọn đi nhiều. Lần này, tôi khôi phục cho đầy đủ hơn, bởi tin rằng nếu bạn đọc nào muốn tìm hiểu suy nghĩ của các nhà văn VN trong chiến tranh, khoảng cách giữa những cái mà họ viết ra và cái nung nấu trong đầu họ -- thì các trang ghi chép này có thể có ích. Chính tôi đã tin như thế.

Đọc tiếp ...

27 thg 12, 2015

Nguyễn Minh Châu 1968-73 (III)


Về lao động nghề nghiệp
* Nói thì bảo sách vở, chứ thật ra văn chương là chuyện khổ công. Có nhiều ý nghĩ, mà nếu không phải là đưa vào trang viết, mình nghĩ không ra. Có nhiều chữ nghĩa, mình cứ phải xoay xoả trở đi trở lại mãi mới hạ bút.

Đọc tiếp ...

25 thg 12, 2015

Bức tranh làng xã một thời quá khứ


Trên thế giới hiện có cả một môn học chuyên nghiên cứu nông thôn và nông dân nhưng ở ta, ngành này còn đang non yếu, chập chững. Điều đáng tiếc nữa là nhiều người chỉ biết tới những công trình (những bài báo, những cuốn sách) mà các tác giả như Nguyễn Hồng Phong, Nguyễn Đổng Chi, Nguyễn Từ Chi, Diệp Đình Hoa, Vũ Huy Phúc,... đã cho công bố mấy chục năm gần đây, chẳng hạn Xã thôn Việt Nam, Người Việt vùng đồng bằng Bắc bộ, Tìm hiểu làng Việt, Nông thôn Việt Nam trong lịch sử, Nông thôn Việt Nam thời cận đại...

Đọc tiếp ...

20 thg 12, 2015

Vũ Cao và một kiểu người quản lý văn nghệ những năm chiến tranh.

 Theo nhiều người kể lại, ngôi nhà 4 Lý Nam Đế, nơi làm việc của tạp chí Văn Nghệ Quân đội từ 1957 đến nay, vốn được xây từ trước 1945 để dành cho phi công Nhật. Các phòng gác hai được lát bằng thứ gỗ phẳng lỳ, anh em sống ở tòa soạn chúng tôi thường lau sạch đi, lấy chỗ để hàng chục người có thể ngồi họp hành nghiêm chỉnh hoặc quây quần tán chuyện.

Đọc tiếp ...

13 thg 12, 2015

Nguyễn Minh Châu 1968-73 ( II)



Đơn độc
*Tôi thấy sống ở đây, người nào rồi cũng có chỗ không hợp mình, rồi cũng chán. Thằng Sách tẩn mẩn và ti tiện quá — lúc nào cũng lắng nghe theo đuổi tọc mạch một chuyện gì đấy. Ông Khải trắng trợn. Không phải là lưu manh hư hỏng gì, nhưng mà cứ có phần trắng trợn, tôi ghê ghê. Ông Mai muốn lôi tôi vào rất nhiều chuyện mà tôi xa lạ; ông ấy cứ giới thiệu cho mình gặp người nọ người kia. Còn thằng Thiều thích đủ mọi thứ, thấy người ta làm sao thì làm vậy. Nói chuyện với nó cũng nhạt, chẳng bốc được chuyện gì. Còn như ông, sao mà ông phiền muộn sớm thế, cái tuổi của ông đáng nhẽ phải đang là tuổi đàn đúm, thì nó mới là trẻ (Một lần khác: ông nên nhớ rằng không có gì thích bằng tuổi trẻ. Tuổi già bao giờ cũng có cái lố bịch của nó. Ông có mà không biết dùng.)

Đọc tiếp ...

11 thg 12, 2015

Nguyễn Minh Châu 1968-1973 ( I)


Khi mới được chuyển về tạp chí Văn Nghệ quân đội, tôi thường có dịp trò chuyện với Nguyễn Minh Châu như một đồng nghiệp. Sau này khi ông đã nổi lên với Dấu chân người lính, sự thân thiết đó nhạt dần đi. Nhưng quả thật lúc đó, khoảng trước sau 1970, phải nhận là ông mến tôi, có chuyện gì cũng kể với tôi. Ấn tượng để lại trong tôi sau các buổi nói chuyện này sâu đậm tới mức tôi phải thường xuyên ghi chép trong một cuốn sổ riêng.

Đọc tiếp ...

28 thg 11, 2015

Chung quanh câu chuyện đổi mới nhận thức lịch sử


 Tạp chí Văn học số 6 - 1990 đăng bài Đổi mới nhận thức lịch sử trong nghiên cứu khoa học xã hội nói chung, nghiên cứu văn học nói riêng của Nguyễn Huệ Chi.  Trên nét lớn chúng tôi tán thành các ý kiến của tác giả bài báo và muốn nhân đây, bàn thêm về một vài căn bệnh mà một số tài liệu liên quan tới lịch sử văn học thường mắc phải, nó là lý do khiến cho các công trình nghiên cứu đó ít sức thuyết phục và cả ngành lịch sử văn học trì trệ, chậm phát triển.

Đọc tiếp ...

23 thg 11, 2015

Bàn thêm về sử nhân việc bỏ môn sử ở các trường phổ thông

Cả lời dẫn và bài viết dưới đây 
đã đưa trên trang FB của tôi 22&23-11-15.
Xin giới thiệu lại để các bạn  không dùng FB tiện theo dõi

Lời dẫn
Có nhiều việc trong xã hội hiện nay mọi người bàn một đằng cuối cùng những người có trách nhiệm lại quyết theo một cách khác.
Việc bỏ môn sử cũng vậy, ai cũng thấy là trái lè lè.
Song với một chút tâm lý A. Q. hoặc nói theo dân gian, “ đánh chẳng được thì tha làm phúc”, tôi nhìn thấy cái lợi của việc này như sau.

Đọc tiếp ...

19 thg 11, 2015

Trong sự suy đồi của nghề thầy, cả xã hội cùng có lỗi

 Trên báo Tuổi trẻ số ra 4-11-15  có bài viết của một giáo viên mang tên Còn đâu "thương cho roi cho vọt"?
Lâu nay ta thường nghe những lời xã hội ca thán các giáo viên. Rằng thời nay không còn những người thầy như xưa. Đờì sống càng đi lên phẩm chất những người đứng trên bục giảng càng sa sút.
Trước các lời bình luận ấy, không thấy các thầy kháng cự trở lại gì cả - đây tôi nói theo chỗ tôi đọc được. Có vẻ như các thầy trong bụng cũng chấp nhận.

Đọc tiếp ...

15 thg 11, 2015

Dân nhập cư Nga đầu thế kỷ XX, dưới con mắt một nhà văn Pháp

 Sáng thứ bảy 17/10 /2015  tại 9B, Phạm Ngọc Thạch, Q.3 TPHCM đã diễn ra buổi CÀ PHÊ GẶP GỠ & ĐỐI THOẠI, “cà phê” với TS Phạm Văn Quang, giảng viên khoa ngữ văn trường ĐH Khoa học xã hội và nhan văn TP. HCM , chủ đề: “Suy tư về thời kỳ hiện tại”.

Đọc tiếp ...

6 thg 11, 2015

Nguyễn Huy Thiệp và việc "đưa khái niệm nhà văn trở về với mặt đất"


 Đọc tập phê bình-tiểu luận" Giăng lưới bắt chim" của Nguyễn Huy Thiệp (2008).
 “Một người sáng tác phải coi lý luận phê bình như sự tự ý thức của anh ta”, Nguyễn Huy Thiệp từng tự nhủ như vậy và đã làm như vậy. Dù rằng cái phần tự ý thức của tác giả còn nhiều lầm lẫn và nói chung còn là chật hẹp so với lý luận như nó phải có, song một số bài viết in trong "Giăng lưới bắt chim" có góp phần thức tỉnh nhiều người: đối với văn học mà chúng ta tưởng đã quá quen, đã đến lúc cần phải nghĩ khác.

Đọc tiếp ...

Khuôn mặt nhàu nát - Tưởng tượng về Nguyễn Huy Thiệp

Nếu có một thứ “quả bóng vàng” (hay là “cây bút vàng”) dành để tặng cho các cây bút xuất sắc hằng năm, thì trong năm 1987 – và cả nửa đầu năm 1988 – người xứng đáng được giải trong văn xuôi ta, có lẽ là Nguyễn Huy Thiệp. Nhắc tới anh, người ta nhớ Tướng về hưu gây xôn xao một dạo, bởi cách viết rạch ròi, trần trụi; nhớ Muối của rừng tưởng như không đâu, hóa ra lại đượm nhiều ngụ ý âm thầm; nhớ Một thoáng Xuân Hương lịch duyệt mang đậm phong vị kẻ sĩ Bắc Hà; nhớ Con gái thuỷ thần lẫn lộn hư thực, và liều lĩnh đến tùy tiện.

Đọc tiếp ...

30 thg 10, 2015

Con người và xã hội Việt Nam qua truyện Tấm Cám

Người Việt có câu:
Bầu ơi thương lấy bí cùng
Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn.
Xưa nay mọi người vẫn cho rằng câu ca dao này nói đến nhu cầu đùm bọc lẫn nhau giữa những người nghèo khó. Thế nhưng đọc nhà sử học Tạ Chí Đại Trường, thấy ông gợi ra ý khác. Ông Trường cho câu này là lời kêu than của kẻ bị trị với người thống trị. Sống trong một giàn đấy, tức cùng trên một địa bàn cư trú, trong một xã hội, nhưng là khác giống, khác cấp độ, khác hẳn nhau về vị thế. Nên mới kêu rằng hãy thương lấy chúng tôi với. Chứ giữa những người nghèo khó, làm gì có sự khác giống mà phải kêu gọi vậy?

Tôi cũng học theo cách đó, thử nhìn khác đi một chút về truyện Tấm Cám.
Có một đề tài mà người mình nói đi nói lại với nhau, thế hệ nọ truyền lại cho thế hệ kia, và nay thì được đưa vào sách vở để dạy dỗ nhau, đó là niềm tự hào một chiều, niềm tự hào này đôi khi lại được tuyệt đối hóa tới mức quá đáng. Người Việt trong các truyện xưa chẳng hạn thường được miêu tả như là chịu khó làm ăn và sống trong tình nghĩa gia đình làng xóm. Và người ta lấy Tấm ra để làm ví dụ. Tấm tuy bé nhỏ nhưng là người trời sinh chăm chỉ nết na, ở với bà lão thì quán xuyến việc nhà, được chọn làm hoàng hậu rồi mà đến ngày giỗ bố vẫn về leo cây hái cau.
Tấm trái ngược hẳn với Cám và mẹ Cám.

Trong cuộc kiếm sống khó khăn, loại người như mẹ Cám nhìn các đồng loại của mình như kẻ thù, thấy ai tìm được cái gì hơn mình, liền tìm cách hãm hại.

Do cách kiếm sống kiểu đó, ở họ hình thành những phẩm chất bẩm sinh đáng sợ. Cả trẻ loại mới lớn  nứt mắt  cho đến người lớn đều ranh vặt và dối trá. Người ta  chỉ có thể hiểu được điều này nếu nhớ lại Cuội nhân vật trong một truyện cổ tích cùng tên. Truyện Cuội cũng thuộc loại truyện lâu đời nhất như Tấm Cám. Trong tâm thức người Việt, Cuội tự nhiên là thế, không ai chê cười cả.

Cám sẵn thói tàn ác. Bà dì ghẻ không muốn cho Tấm đi hội nên đã trộn gạo vào thóc bắt Tấm nhặt. Một sự hành hạ tinh vi.
Khi Tấm đã thành hoàng hậu, về thăm nhà, bà lại  bảo Tấm trèo lên cây cau hái cau cúng bố, rồi lén chặt cau để Tấm ngã chết tươi.

Từ bấy trở đi, bao nhiêu lần Tấm tìm cách tái sinh là bấy nhiêu lần mẹ Cám xui con tận diệt dấu vết. Nào là làm thịt chim, nào là đốt khung cửi. Cách con người trị nhau ở đây phải nói là rất dã man. Nhưng nếu không tự dối lòng, ta phải công nhận nó miêu tả đúng cách quan hệ với nhau của người phương Đông. 

Có lần tôi đọc một tài liệu viết việc tòa án Tiệp điều tra một vụ án mạng có liên quan tới người Việt. Khi thấy nạn nhân bị chọc thủng mắt, họ kết luận hung thủ chắc chắn phải là một người Việt khác, không thể là một người Tiệp được, vì hành vi quá man rợ, không thể có trong thế giới văn minh. 

Gần đây đọc bài Những chuyện động trời về người Việt Nam ở Ba Lan lại càng thấy rõ điều đó.

 Tại sao lại có sự miêu tả kỹ càng về mẹ con Cám như vậy?

Khi kể lại cho nhau nghe Tấm Cám, người mình rất rạch ròi. Trong đầu óc ông cha ta -- và đến lứa chúng ta bây giờ cũng vậy, người Việt chỉ là Tấm thôi. Chứ còn Cám ấy ư, là người nước nào ấy, chứ không phải người Việt. Cũng như ta hay hiểu ngẩm với nhau, trong lịch sử những Lê Long Đĩnh, Trần Ích Tắc, thậm chí cả Gia Long, Tự Đức, Trương Vĩnh Ký Hoàng Cao Khải… cũng không phải người Việt, khi nhận xét cái hay cái dở của người Việt không ai tính đến họ.

Nay nếu từ bỏ cách xem xét phiến diện đó, xem các nhân vật đều có ý nghĩa đại diện như nhau, thì phải nhận Tấm Cám đã  đi khá xa trong việc khái quát tính cách dân tộc.
Bây giờ để trở lại với nhân vật Tấm, tôi muốn bắt đầu bằng một người Việt khác, người Việt số một trong tâm thức dân gian. Là nàng Kiều.

Trong một báo cáo của các nhà nghiên cứu nước ngoài tại hội nghị VN học 1998, tôi  thấy họ nói là Truyện Kiều cũng được truyền  sang  Nhật,  tức có một variant tiếng Nhật, nghĩa là bản dịch thoát, dịch theo kiểu làm biến dạng chút ít như người Việt đã làm. 

Lạ một điều là nhân vật Kiều trong tiếng Nhật lại có nghị lực chứ không chỉ than khóc khi gặp nghịch cảnh, rồi bằng lòng với sự đầu hàng, dễ dàng chấp nhận số phận như Kiều ở Việt Nam.

Về phương diện bất lực và lối phản ứng thụ động trước cuộc đời, Tấm rất gần Kiều. Động một tí là giở trò than khóc để sau đó hoàn toàn trông mong vào sự cứu giúp của các thế lực bên ngoài, tức cũng là trông vào vận may mà số phận run rủi cho gặp. Toát lên từ cả câu chuyện ta thấy nếu cuối cùng Tấm có hạnh phúc thì phần lớn là nhờ ở hiền gặp lành chứ  không thể gọi nàng  là người biết lo liệu cho cuộc đời mình.

Cách nghĩ sống bằng cầu xin và ăn may không phải độc quyền của Tấm.
Trong khi diễn đạt những bước đường đời của con người -- cả trong sự lẩn tránh rủi ro lẫn truy cầu hạnh phúc các mẩu truyện dân gian còn cho thấy một nét tâm lý trên của Tấm rất  phổ biến trong người Việt.

Bằng chứng có thể lấy ngay trong Tấm Cám. Hãy nhớ lại đoạn Tấm đánh rơi giày, vua cho gọi mọi người đến thử. Có phải là một hai người nào đâu mà hầu như là tất cả đàn bà con gái đi hội đều chen nhau đến để ướm chân vào giày, người nào người nấy tự nhủ nhỡ biết đâu chân mình vừa giày thì sao. Ảo tưởng đến thế là cùng!

Trở lên đã nói về nét  man rợ trong nhân vật mẹ Cám. Oái oăm thay, bên cạnh chỗ khác mẹ con Cám, ở chỗ này Tấm rất giống họ. Tấm không gây ra thù. Nhưng trong cách báo thù Tấm cũng man rợ. Nào là xui Cám nhảy xuống hố để đổ nước sôi  cho chết. Nào là chặt đầu Cám làm mắm gửi về cho mẹ.

Theo chỗ tôi đọc được thì cả nhà văn Tô Hoài cũng không muốn chấp nhận cái chi tiết ghê rợn này. 
Trong  một văn bản Tấm Cám do chính ngòi bút Tô Hoài viết, chi tiết cuối cùng bị tước bỏ.
Riêng tôi thì tôi  vẫn tin  chi tiết đó là cần vì nói đúng cái chất người của Tấm.

Cái lý của tôi – ta phải nhìn vào  sự thống nhất trong tính cách nhân vật.

Cái may của truyện Tấm Cám còn lưu truyền trong dân gian là ở đó nhiều câu đối thoại được ghi bằng lối nói có vần, khiến cho người kể trong thời hiện đại không thể  tự ý xoay cau chuyện theo ý mình.

Cuộc đấu của Tấm và mẹ con Cám diễn ra qua nhiều công đoạn. Khi Tấm trèo cau bị mẹ Cám chặt cau cho, Cám được đưa vào thay; Tấm  hóa thành chim vàng anh thì bị Cám nghe mẹ bắt làm thịt rồi đổ lông ra vườn. Chỗ lông chim liền mọc lên hai cây xoan đào, vua rất thích ngồi dưới bóng cây hóng mát. Cám mang chuyện ấy lại về nhà mách mẹ. Mẹ Cám bảo, cứ sai thợ chặt cây làm khung cửi.
Nhưng khi khung cửi đóng xong, Cám ngồi vào dệt lúc nào cũng nghe từ khung cửi cất lên những lời đe dọa:

Cót ca cót két
Lấy tranh chồng chị.
Chị khoét mắt ra.

Từ đây đến chỗ xui Cám ngồi dưới hố để dội nước sôi cho Cám chết và làm mắm gửi mẹ Cám là chuyện hoàn toàn hợp lô gích.

Có bạn sẽ bảo phải làm thế mới trừ tiệt được cái ác trong xã hội. Nhưng cũng là ảo tưởng mà thôi, cái ác trong xã hội Việt chưa bao giờ cạn kiệt và như chúng ta thấy càng sang thời hiện đại, nó càng bùng phát.

Với tư cách hậu thế, những người đọc hiện đại chúng ta không thể tùy ý kể lại chuyện xưa theo ý mình.  Chẳng những thế nhìn thẳng vào hoàn cảnh sẽ thấy nay là lúc những vấn đề của người xưa cũng đang ám ảnh  chúng ta. Ví dụ không xa: trường hợp cái ác trong sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp. Nhiều người mới đầu rất ghét về sau vẫn  say mê văn ông – và đây có lẽ là trường hợp duy nhất trong văn học sau 1945, một người viết văn vượt thoát khỏi sự thù ghét của dư luận chính thống. Hóa ra thứ văn còn chia ra được thành chính thống và phi chính thống chưa là gì cả. Chỉ có văn hay và văn không hay. Bài học của Nguyễn Huy Thiệp là vậy.

Trở lại câu chuyện Tấm Cám đang bàn. Tôi ngờ rằng  nếu chỉ miêu tả cô Tấm hiền hậu thôi, thì nhân vật loại này sẽ chết yểu ngay từ đầu. Sức sống của Tấm là ở chỗ trong đó còn tiềm ẩn những chi tiết mà đến nay  mới thấy rõ.Trong cuộc sống của người Việt, cái ác có mặt khắp nơi. Trước khi bàn chuyện vượt qua cái ác thế nào, sự ghi nhận đầy đủ nó là cần thiết. “Khi cái ác được viết ra, tức là có điều kiện để đẩy lùi nó. Mỗi lần nghệ thuật chiến thắng là một lần cái thiện chiến thắng.” Đây vốn là một câu tôi đã viết trong bài Khuôn mặt nhàu nát—tưởng tượng về Nguyễn Huy Thiệp,  và đưa vào sách Những kiếp hoa dại (1993) nay lại muốn dẫn ra ở đây  mong được bạn đọc chấp nhận.  


MẤY NÉT VỀ XÃ HỘI VIỆT TRONG TẤM CÁM
Con người đã vậy, bây giờ nói về xã hội.
Xã hội trong Tấm Cám có thể quy vào một  đặc điểm chính -- là rất hoang dã. Con người còn trong tình trạng tư duy hái lượm, nhặt nhạnh ở thiên nhiên cái gì thì có cái đó. Trong lời dì ghẻ dặn Tấm có câu văn vần “Chăn trâu thì chăn đồng xa—Chớ chăn đồng nhà làng bắt mất trâu”. Rõ là một xã hội trong đó con người sống thu mình trong lũy tre xanh, ở trong làng thì tạm thời còn có kỷ cương, chứ ra khỏi làng tha hồ làm bậy. Và sự xui nhau trốn tránh các loại lệ làng đã là phổ biến. Nên chú ý trong câu văn vần vừa dẫn, chữ làng là dành để chỉ nhà chức trách, người có quyền lực. Họ cũng người làng đấy. Có khi còn do dân chúng bầu ra. Nhưng họ không hề tổ chức cho dân chúng làm ăn mà chỉ nhăm nhăm trừng phạt. Và phạt đến mức bắt hết cả trâu, lấy đi cái kế sinh nhai của người ta thì quá kẻ cướp rồi còn gì.

Ước mơ tận cùng của  dân đen trong cá làng xóm là có triều chính có vua. Nhưng triều chính ấy ở cách làng mấy bước chân,  nên dù tha hồ tưởng tượng người ta  cũng chỉ thấy nó chẳng khác làng quê. Tôi không khỏi thích thú  mỗi khi nhớ lại mấy câu văn vần:  
 
Phơi áo chồng tao
Thì phơi bằng sào
Chớ phơi bờ rào
Rách áo chồng tao.

Đấy là khi Cám đã thay vào vị trí hoàng hậu của Tấm, vào một ngày Cám giặt áo nhà vua thì bị Tấm trong thân xác chim vàng anh bay đến mai mỉa vậy.

Vợ vua gì mà đoảng đến độ phơi cả áo vua lên hàng rào? Cung điện gì mà áo vua ở mức lý tưởng nhất cũng chỉ phơi bằng sào? Đó thật ra chỉ là nơi ở của thủ lĩnh làng xã, chúng ta gọi là hoàng cung cho sang trọng.  Các danh xưng  của quốc gia là do đi mượn, các thứ cung điện, triều chính… chỉ là một thứ ấu trùng. Trình độ tổ chức của xã hội ấy quá thấp.

Có thể tin được điều này nếu đọc lại các bộ sử cổ mà trước tiên là bộ Đại Việt sử ký toàn thư. Nhờ học được người Trung Hoa nên ông cha ta có thể  tạo ra một sinh hoạt triều chính nối tiếp, nhưng sinh hoạt đó rất thô sơ.  Đọc sử đoạn ghi về thời Trần có khi  thấy mấy vị hoàng tử tranh nhau cả cái áo, ông nọ bảo ông kia rằng ngôi vua tao còn nhường cho mày, sao cái áo lại còn đòi. Cũng đời Trần có chuyện vua ra ngoài thành chơi bị cướp mất cả ấn tín. Hoặc thời Lý đâu có lệnh là các quan vào chầu không được nhổ quết trầu ra cung đình.

Khi viết những dòng này, tôi hiện không giữ bên mình  những ghi chép từ  ĐVSKTT, nên  chỉ ang áng nhớ như trên, dịp khác sẽ dẫn số trang số dòng  chính xác. 
Nhưng qua mạng tôi có đọc được và sao chép lại một văn bản quý kể về Lê Hoàn, xin “dán” lại một đoạn; mọi ý trong đoạn văn được giữ nguyên, tôi chỉ làm giãn các ý ra bằng cách liên tục xuống dòng, giúp các bạn dễ đọc.

Đây là hình ảnh Lê Hoàn dưới con mắt viên sứ nhà Tống:
“Cuối mùa thu năm ngoái, đến cõi Giao Châu, Lê Hoàn sai Nha nội Đô chỉ huy sứ là bọn Đinh Thừa Chính đem 9 chiếc thuyền và 300 quân đến Thái bình quán  để đón.

Từ cửa biển đi vào biển lớn, lặn lội sóng gió, trải nhiều sự nguy hiểm. Quá nửa tháng đến sông Bạch Đằng, đi tắt theo một nhánh hải lưu, cứ theo nước thủy triều mà đi.

Phàm những bến đỗ ngụ lại có 3 gian nhà tranh, có vẻ mới được sửa sang lại, gọi là ‘quán dịch’.

 Đi đến Trường Châu, gần bản quốc, Lê Hoàn phô trương khoác lác, dốc hết chiến thuyền ra, gọi là ‘diễu quân’.

Từ đấy rong thuyền suốt đêm đi đến bờ biển, cách Giao Châu độ 15 dặm có một trạm nghỉ chân 5 gian lợp tranh đề ‘Mao kính dịch’. Cách thành 100 dặm khua gia súc của dân ra gọi là ‘quan ngưu’, số gia súc chưa đến một ngàn, nhưng lại nói khoe là 10 vạn. Lại đốc suất dân ở chung với quân lính, mặc áo tạp sắc, chèo thuyền đánh trống reo hò. Núi sát bên thành hư trương cờ trắng, cho đó là bày thế trận.

 Được một lát đoàn hộ vệ rước Lê Hoàn đến, mở lễ giao nghênh.

Lê Hoàn ghìm ngựa nghiêng người, hỏi thăm Hoàng đế xong, cầm cương đi cùng hàng, lúc ấy lấy trầu cau ra mời, ngồi trên mình ngựa mà ăn, đấy là phong tục mang hậu ý đãi khách.

Trong thành không có nhà dân, chỉ có vài trăm khu nhà tre lợp gianh, gọi là quân doanh. Phủ thự trũng hẹp, trên cửa phủ đề ‘Minh đức môn’.

Hoàn xấu người chột mắt, tự nói rằng năm gần đây vừa mới tiếp chiến với man khấu, rơi từ trên ngựa xuống nên chân bị thương, nhận chiếu nhưng không lạy.

Sau khi nhận dụ chỉ thì rải chiếu mở yến tiệc. 

Lại ra sát mép nước, diễn trò mua vui cho khách.

Lê Hoàn đi chân đất cầm gậy tre lội nước xâm cá. Mỗi khi trúng một con thì tả hữu hai bên đều hò reo nhảy múa.

Phàm khi yến hội, những người vào dự tiệc đều phải cởi đai áo, mũ mão.

Hoàn thường mặc áo hoa văn sặc sỡ hoặc áo màu đỏ, mũ thì lấy trân châu làm trang sức, có khi tự mình hát ‘Khuyến tửu ca’ (khúc ca mời rượu), không một ai có thể hiểu lời của bài hát.

Thường sai bọn hơn chục người khiêng một con rắn dài vài trượng đến tặng sứ quán, còn nói : ‘Nếu có thể ăn được thì sẽ làm thịt nó bày cỗ dâng lên’.

Lại đóng cũi hai con hổ đem đến tặng, nói để tùy ý quan sát. [Chúng thần] đều từ chối không nhận.
Quân lính có 3000 tên, tất cả đều thích trên trán dòng chữ ‘thiên tử quân’, lương thực thì có lúa đủ dùng hàng ngày, cho vào giã rồi mới ăn. Binh khí thì có cung nỏ, khiên gỗ, thoa thương, trúc thương, [binh khí] rất yếu không thể dùng được.
Hoàn tính tình thô lược tàn nhẫn, kẻ thân cận đều là bọn tiểu nhân.
Cho ở bên cạnh một bọn 50 tên hoạn quan tâm phúc.
Thích uống rượu nô đùa, lấy chỉ lệnh làm vui, phàm bọn thuộc quan nào giỏi việc thì cất nhắc thân cận, bọn thuộc hạ xung quanh nếu có lỗi nhỏ cũng giết ngay, hoặc nếu không cũng cho đánh roi từ 100 đến 200 cái.

Đám phụ tá nếu có chút gì không vừa ý cũng sẽ phạt trượng từ 30 đến 50 cái, giáng truất làm môn lại, khi nào hết giận lại gọi về cho khôi phục chức cũ.
Có một cái tháp gỗ, chế tác thô lậu chất phác, Hoàn mời [bọn chúng thần] lên du lãm . Đất nơi ấy không có hàn khí, tháng 11 còn mặc áo kép phất quạt“.

Đọc đoạn văn này tôi càng thấy tin  ở cách hiểu của mình về xã hội người Việt trong Tấm Cám như đã trình bày ở trên.
Có bạn sẽ hỏi, đây là do người Trung Quốc viết làm sao tin được. Trời ơi, làm sao mà người ta có thể bịa ra những chi tiết cụ thể như trên đã đọc! Những người  dịch văn bản đó ra tiếng Việt đều là người  có thiện chí.  

Tài liệu này tôi chép được từ trang web của nhà nghiên cứu Hán học Quách Hiền, ở địa chỉ  quachhien.blogspot.com/2010_09_01_archive.html
Nhưng trước đó tôi đã đọc được nó trong loạt bài khảo về sử của Nguyễn Văn Tố in trên tạp chí Tri tân ra trước 1945. 

Ứng Hoè Nguyễn Văn Tố là một trong bốn nhân vật lừng lẫy một thời Quỳnh Vĩnh Tố Tốn. Là nhân viên của Viện Viẽn đông bác cổ, ông đã làm cái công việc mở lại nhiều trang lưu trữ. Bản  trên Tri tân sau này đã được in lại trong cuốn sách  Đại Nam dật sử (sử ta so với sử Tàu). Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam xuất bản, H. 1997, nhưng do cả cuốn có lẽ không phải vị các nhà sử học đương thời nên không ai nhắc tới nó cả, và hình như bạn Quách Hiền cũng không biết (?).
Tấm Cám vốn quá quen thuộc với mỗi người Việt bình thường. Điều cuối cùng tôi muốn nhấn mạnh là  cho đến thế kỷ XX, chúng ta chỉ dừng lại ở cách nhìn nhận một chiều về  thiên truyện thuộc dạng tối cổ này, và cứ đinh ninh rằng người Việt hiện lên trong đó là rất đáng tự hào, xã hội trong đó là muôn ngàn tốt đẹp, không thấy nó còn chứa chất rất nhiều nội dung mà chỉ trong hoàn cảnh của xã hội hiện đại ta mới có thể soi dọi khám phá.

Phụ lục
Tháng 10-2012, do sự khởi xướng của Vietnamnet, cộng đồng mạng từng có cuộc trao đổi sôi nổi quanh  một bài văn của một nữ sinh Hà Nội có liên hệ tới truyện Tấm Cám. Chính tôi cũng lấy cảm hứng từ cuộc trao đổi này để viết  nên những dòng suy nghĩ trên đây các bạn vừa đọc.
Để các bạn khỏi mất công, tôi xin đưa vào Phụ lục văn bản nói trên.

 Bài văn điểm 3 của nữ sinh nhập vai Cám kể chuyện Tấm
 - - -    Với đề bài "hãy nhập vai nhân vật Cám, kể lại chuyện cổ tích Tấm Cám", một nữ sinh THPT ở Hà Nội đã có bài viết "đặc sắc".

Tôi là Cám, tôi sống với mẹ tôi và con của dượng tôi vì bố nó chết lâu rồi nên mẹ con tôi nuôi nó. Nhưng tôi cũng không ưa nó lắm vì nó lúc nào cũng ra vẻ làm chị. Hàng ngày nó cũng khá chăm chỉ vì việc nhà, tôi thấy cũng cỏn con: cho lợn ăn, chăn trâu, nấu cơm, giặt quần áo… Tôi thấy ít việc đó nó làm hợp hơn tôi vì tôi còn bận chọn vải may quần áo và đi làm tóc tai. Tôi đang tuổi đôi mươi mà!
Có hôm mẹ tôi giao cho hai đứa công việc, mỗi đứa một giỏ để đi bắt đầy giỏ tôm cua. Đứa nào nhanh chân thì được cái yếm đỏ mẹ tôi mới mua đẹp mê hồn. Nhưng tôi thì có biết lội ao hồ bao giờ, bẩn hết quần áo mất. Con Tấm thì cứ tìm tìm mò mò đến bao giờ mới xong? Mình cứ đi hái hoa bắt bướm tí đã rồi về bắt tôm cua sau. Chiều khi tôi ra thì đã muộn rồi, thôi thì lừa con ngu kia một phen vậy: 

Chị Tấm ơi chị Tấm
Đầu chị bị lấm
Chị ra ruộng sâu mà gội đầu, không về mẹ mắng đó.

Haha, nó đã tin lời mình, mình phải nhanh tay đổ hết tôm cua tép giỏ nó sang giỏ của mình mới được. Về nhà được lấy yếm đỏ, và tôi đã có cái yếm đỏ. 
Một hôm nọ, tôi thấy con Cám ít ăn, hay để giành một bát cơm của mình. Tôi với mẹ mới rình xem con ranh đang làm gì. Tôi và mẹ đã thấy nó gọi là:

Bống bống bang bang
Bống ăn cơm vàng
Cơm bạc nhà ta
Chớ ăn cơm hẩm
Cháo hoa nhà người

thì có con cá bống bé lòi lên. Tôi và mẹ tính thịt nó làm bữa bống kho. Hôm sau tôi và mẹ lừa nó đi chăn trâu xa không thì người ta thu trâu. Rồi tôi và mẹ tôi bắt con cá bống lên ăn thả ruột lại. Giờ nó hết người làm bạn nhé! Mình phải giấu xương ở xó bếp không nó biết với được. 
Sắp đến vũ hội, mẹ và tôi chuẩn bị quần áo giầy dép mới cho tôi thật đẹp để kiếm chồng. Hôm đó tôi và mẹ chuẩn bị đi, con Tấm cũng đòi đi. Tôi tức quá, tôi suy mẹ đổ hết thóc gạo vào nhau cho nó ngồi mà sàng mà lọc. Haha, sáng mai cũng chưa xong đâu, rách rưới còn đòi theo quý tộc hahaha… 

Đang chơi hội vui vua ban lệnh thử giày, ai đi vừa là vợ vua. Mẹ và tôi cùng thử nhưng giầy con nào mà bé thế, bố tao cũng không ních vào được. Lựa đằng này đằng kia đau cả chân, bực cả mình đành thôi. Rồi có một con đến thử rất giống con Tấm nhưng đẹp hơn, nó chỉ gần bằng tao thôi sao lại vừa giầy nhỉ. Bực quá! Gọi nó thì đúng nó rồi. Vua đưa nó về tổ chức đám cưới luôn mới sợ. Con này là con ôsin mà, vua mù rồi.

Đến ngày giỗ bố nó cũng biết đường vác mặt mà về. Bây giờ oai như cóc rồi, bà sẽ cho mày một phen.
Độc giả Linh Ngân (giới thiệu)

Đọc tiếp ...

22 thg 10, 2015

Mối quan hệ giữa kiến thức và nhân cách ở người trí thức Việt

Nguyên là bài  Từ kiến thức đến nhân cách, in lần đầu trên tạp chí Tia sáng, 2000 đã in trong tập phiếm luận của VTN Nhân nào quả ấy, 2002 mới đây 20-10-2015 được đưa lại trên mạng Chúng ta.



 Khi chuẩn bị đưa trên blog cá nhân lần này, 
chúng tôi đặt lại đề  bài  để làm rõ  ý chính
 và phân đoạn lại, đặt lại các đầu đề nhỏ
 để bạn đọc dễ theo dõi

Tạp Chí Tia sáng số ra 01/2000, có đăng bài viết của Bửu Ý nhan đề “Trí thức anh là ai?”
 Đây là một câu hỏi lớn, cần được nhiều người tham gia bàn bạc.
Dưới đây, chúng tôi chỉ xin lưu ý một khía cạnh .

Đọc tiếp ...

19 thg 10, 2015

Chữ đạo văn kia cũng có ba bảy đường

Một vài khía cạnh tế nhị cần cân nhắc
 khi xem xét hiện tượng đạo văn             



      Trong Nhà văn hiện đại  bản in 1989  của NXB Khoa học xã hội mà tôi đang có trong tay, Vũ Ngọc Phan viết về Vũ Bằng tới 17 trang thì trong đó hơn 4 trang dành để đối chiếu một truyện ngắn của Vũ Bằng là  Em ơi đừng tuyệt vọng (in trong tập Để cho em khỏi khổ) với một thiên truyện Những đêm trắng  của Dostoievski qua đó chứng minh tác giả Việt Nam đã lấy của người làm của mình. Cái sự phỏng theo gần đúng nguyên văn nói ở đây theo Vũ Ngọc Phan nó có hại trước nhất cho tác giả; thứ nữa làm cho người ta thêm khinh nhường thể văn tiểu thuyết xem nó như một trò giải trí.

Đọc tiếp ...

17 thg 10, 2015

Cuộc phỏng vấn về tuổi trẻ miền Nam trên tuần báo "Khởi hành" 1969

Trên tờ Khởi hành , tuần báo tồn tại ở Sài Gòn từ 1969 đến 1973, từng có một cuộc phỏng vấn theo dạng mời bạn đọc viết chung quanh chủ đề tuổi trẻ miền Nam 1969. Dưới đây là một số trích đoạn các phát biểu hồi đó, chúng tôi chép lại trong sổ tay cho nên không ghi chính xác xuất xứ từng ý một - rất mong bạn đọc lượng thứ.

Buổi chiều bị dí súng sau lưng đi đào đường đào hố. Buổi tối bị dí súng sau lưng đi mở đường lấp hố.
Mãi mãi tuổi trẻ vẫn là tuổi khốn nạn thiệt thòi nhất. Nắm lấy tay nhau chúng tôi đã khóc.
Như một tác giả nước ngoài đã viết, chiều sâu của chúng tôi là vực thẳm, tuổi trẻ của chúng tôi không có thanh xuân.

Đọc tiếp ...

13 thg 10, 2015

Đi tới cùng của hỗn độn sẽ gặp hư vô


Cách hiểu về hư vô từ một câu chuyện cổ
Trong các các bài khóa đọc trong sách Quốc văn giáo khoa thư học hồi nhỏ, tôi nhớ có câu chuyện kể một người đi đôi giày mới vào thành phố. Ban đầu, người đó giữ gìn rất cẩn thận. Nhưng đến quãng nọ, chợt có một bãi lầy, người đó không tránh kịp, giày sinh bẩn. Nhân đó, người có giày đâm liều lĩnh, không còn kiêng dè gì nữa, có lúc thục chân trong bùn.

Đọc tiếp ...

7 thg 10, 2015

Tính cách thương mại của nền văn chương Sài Gòn trước giải phóng.

I. Lối sản xuất hàng loạt
- Người trong này làm ăn khiếp thật. Viết cũng khiếp!
- Sao thế?
- Vào nhà một cây bút thời danh hồi trước, giờ di tản theo Mỹ, thấy ở phòng làm việc một quang cảnh rất lạ: mười máy chữ sắp hàng giăng giăng. Mười tác phẩm đang viết dở, viết lách cứ như là làm cặp, làm giấy, bằng nhau chăn chắn, cái nào cũng như cái nào, giá kể đóng hộp được, thì không còn làm sao mà phân biệt nổi nữa.
Câu chuyện trên đây, tôi nghe được từ tháng 5.1975. Giữa Sài Gòn hoa lệ, hàng hoá ê hề, chúng tôi sớm nhận ra sách vở cũng là một thứ hàng hoá. Cũng bày bán la liệt. Cũng màu sắc loè loẹt, mà lại đơn điệu, giống nhau, lẫn vào nhau, rất khó phân biệt. Dù rằng câu chuyện thuật lại trên đây, không phải hoàn toàn chính xác với nghĩa của từng chữ, song nếu hiểu theo nghĩa khái quát một chút, thì đúng như vậy. Có sự sản xuất hàng loạt tác phẩm. Có lối viết, lối "hành hạ máy chữ" ghê gớm, như chạy đua theo thời gian, như để đuổi bắt một điều gì đấy ở phía trước dù sau một thời gian nghĩ lại, thì chẳng có mục đích nào khác, ngoài… đồng tiền.

Đọc tiếp ...

6 thg 10, 2015

Một ít kỷ niệm trên con đường tìm đọc và viết về văn học miền Nam 1954- 1975

Ở Hà Nội trước sau 1975, sách báo Sài Gòn không những hiếm mà còn coi như quốc cấm, chỉ một số cán bộ nghiên cứu được cấp trên coi là có kinh nghiệm trong đấu tranh ta địch và vững vàng về chính trị mới được đọc.
Thành thử lúc đầu tôi mò mẫm vào đây, ngoài thói thường thích tìm trái cấm , thì cũng chỉ dừng lại ở nhu cầu tự học của bản thân, chứ không mấy khi tính chuyện có thể viết gì đó về bộ phận văn học này.
 Nhưng nghề đời anh em mới vào nghề thường thế, không đọc thì cố tìm đọc, đọc rồi thì lại táy máy muốn viết.

Đọc tiếp ...

2 thg 10, 2015

Nguyễn Du như một thi sĩ

                         Bài viết  này được  lần đầu trên Phụ san Thơ (19+20) của báo Văn nghệ, Hà Nội, số ra ngày 19-2-2005.  Đã được đưa trên Talawas 15-3-05 với một vài chi tiết  sửa chữa và bổ sung.  Tiếp đó in lại trên tạp chí Gió O với Lời giới thiệu sau.                                               

 Trong số những cây bút phê bình lý luận Việt Nam hiện đại, Vương Trí Nhàn là một người từ mấy chục năm nay đã tạo được một giọng điệu riêng khó lẫn. Ông không phải là người tiếp cận thật sâu một vấn đề gì đó và triển khai nó đến tận cùng, mà thường vấn đề gì cũng lướt qua một cách nhẹ nhàng, nhưng lại có những nhận xét khá thâm thúy. Cách đây hơn 40 năm, qua thơ chữ Hán Nguyễn Du, tôi đã từng cố gắng gợi ý với bạn đọc hình ảnh một con người trằn trọc suy tưởng - đối lập với con người hành động của loại nhà nho tế thế nói chung - nhằm tìm cho mình lời giải về mọi  băn khoăn, hoài nghi mà cuộc đời trầm thống thường xuyên đặt ra như muôn nghìn dấu hỏi, giằng xé tâm can mình (xin xem Nguyễn Du và thế giới nhân vật của ông trong thơ chữ Hán trên mạng Gió-o tháng 4-2006). Triển khai ý tưởng trên, ở một khía cạnh mới, Vương Trí Nhàn trong bài viết này đã nâng vấn đề con người suy nghĩ của Nguyễn Du lên bình diện một con người đi tìm sự tự do, mở rộng tầm vóc mình trong không-thời gian, thông qua sự đối diện với sách vở, cuộc đời và lịch sử, mà thơ chính là phương cách tốt nhất để nhà thơ thể hiện sự tự do của mình, cũng là cái ý thức tự giác về lý do tồn tại của chính mình. Nhờ đó thơ ông đã sống mãi với đời, luôn luôn lấp lánh trong đó một chủ nghĩa nhân đạo vượt lên khỏi màu sắc “thương” là lẽ thường tình của thế nhân, mà mang màu sắc “hiểu”, mặt khác còn đặt ra cho người đọc những vấn đề có tính nhân loại, điều hiếm gặp trong thơ văn truyền thống Việt Nam. Là người tâm đắc với những kiến giải nói trên, xin mượn diễn đàn Gió-0 đưa bạn đọc đến thẳng với bài viết vốn không dài của nhà phê bình, để sau khi thưởng lãm, bạn đọc tự giành cho mình quyền phán xét.
 Hà Nội 11-4-2006                                                                                                                                      Nguyễn Huệ Chi

Đọc tiếp ...

17 thg 9, 2015

Đời sống ra sao thì văn chương như vậy ( bài tiếp)

                            QUÀ VẶT 
                       &  CÂU CHUYỆN VỀ SỰ TIẾN HÓA
 Yên Ba: Trong một bài phiếm  luận, anh đã nói đến văn hoá quà vặt.  Trong văn học cái sự “quà vặt hóa” này diễn biến ra sao? 
Vương Trí Nhàn: Phần trên tôi đã nói chính những người Trung quốc  cũng công nhận  họ phải đi theo quy luật chung mọi nền văn hóa trên thế giới. Bất chấp việc xã hội ta các nhà văn ta có muốn hay không, rồi ở VN cũng vậy. Nó sẽ trải qua mọi bước suy đồi mà các nền văn học đều có, thậm chí nếu ở VN sự suy đồi ấy có thê thảm hơn cũng là tự nhiên.

Đọc tiếp ...

11 thg 9, 2015

Đời sống ra sao thì văn chương như vậy


Gần mười năm trước, bạn Yên Ba lúc đó đang làm báo, từng có một cuộc trao đổi  với tôi về một số  vấn đề văn học và đời sống. Bài  viết sau đó không được sử dụng, và với tư cách tác giả tôi còn lưu lại trong máy. Nay xem lại thấy một số vấn đề còn hợp thời, vậy xin giới thiệu lại với bạn đọc.  Chỉ có một điều tiếc không làm được là lúc này  tôi không có điều kiện tìm thêm các chi tiết  minh họa có ý nghĩa cập nhật.

Đọc tiếp ...

6 thg 9, 2015

Thử nhìn hiện tượng chạy theo đồng tiền trong ngành giáo dục dưới góc độ đạo đức nhân bản

CÓ PHẢI LÀ THẤT ĐỨC?

      Xã hội hiện đại là cả một guồng máy khổng lồ nó cuốn người ta đi và sự thực là nhiều khi chưa biết rõ việc làm của mình có ý nghĩa gì, nhiều người đã phải lao vào hành động để đáp lại sự đòi hỏi của hoàn cảnh cũng như để tạo nên những bước đi thích ứng với các đồng loại.
    Đến khi có dịp nhìn lại những lần "nhắm mắt đưa chân" kiểu ấy, người ta không khỏi bỡ ngỡ, như là ai khác chứ không phải mình đã làm việc này việc nọ.
     Song thì giờ dành cho phản tỉnh đâu có nhiều?
     Thế là các kịch bản cũ lại được tiếp diễn, kể cả các bi kịch.

Đọc tiếp ...

5 thg 9, 2015

Thầy bà như thế này thì làm sao có được một nhà trường đúng nghĩa phải có ?

Nhân dịp ngày khai trường tôi xin đưa lại  hai bài viết vốn đã đăng trên blog này những năm trước.

 Hôm nay là bài Nghề thầy, suy đồi  hôm nay chỉ là tiếp nối tình trạng yếu kém hôm qua, đã đưa trên blog này ngày 19-11-2014. Tên bài được đổi lại như trên cho rõ nghĩa.
 Tiếp đó ngày mai là bài  Chạy theo đồng tiền, một khía cạnh của sự tha hóa trong nghề thầy giáo thời nay. Bài này vốn có tên là Có phải là thất đức? và đã  đưa trên blog này 18-11-2011.

Đọc tiếp ...

31 thg 8, 2015

Khuôn mặt tinh thần của một trí thức thế hệ trước 8-1945: trường hợp Đinh Gia Trinh

Lời dẫn
Phê bình văn học trước 1945 thường chỉ được các nhà nghiên cứu văn học ở Hà Nội biệt nhãn chú ý trong mấy trường hợp 1/ có liên quan tới việc tuyên truyền các quan điểm văn học mác-xít như các bài của Hải Triều, Đặng Thai Mai 2/ có liên quan tới các nhân vật sau này sẽ trở thành trụ cột trong nền văn học mới như Hoài Thanh; mà trong Hoài Thanh chỉ chu ý tới cái phần bình thơ bình văn của ông, còn những khi ông nêu vấn đề có tính khái quát như ta thấy trong bài "Một thời đại mới trong thi ca", đóng vai trò dẫn luận cho "Thi nhân Việt Nam 1932-41", thì bị xem nhẹ.

Đọc tiếp ...

25 thg 8, 2015

Một bước khai phá của Vũ Bằng trong việc xử lý ngôn ngữ văn xuôi trước 1945

Trong bài viết mang tên Vũ Bằng “Thương nhớ mười hai”, nhà văn Tô Hoài từng kể lại một ít chuyện, liên quan đến mấy năm ông mới vào nghề, và bắt đầu viết đều cho các báo: “Những năm ấy, Nam Cao đương ở với tôi trên Nghĩa Đô. Chúng tôi mê mải đọc Vũ Bằng (…) Nếu nhà nghiên cứu văn học nào lưu tâm đến những truyện ngắn Vũ Bằng thời kỳ ấy với truyện ngắn của Nam Cao và những truyện ngắn Bụi ô tô, Một đêm sáng giăng suông của tôi trên các báo Hà Nội tân văn có thể dễ dàng nhận thấy hai ngòi bút này hơi hướng Vũ Bằng (Những gương mặt, H. 1994).

Đọc tiếp ...

20 thg 8, 2015

Điểm lại quan niệm về hồi ký và các hồi ký đã in trong khoảng 1990-2000 ( bài tiếp)


 Những trang ghi chép của một cán bộ chính trị có cốt cách trí thức 

(Đọc Nhật ký của bộ trưởng tác giả Lê Văn Hiến, 
Nhà xuất bản Đà Nẵng 1995)


Trong đời sống hàng ngày, hai chữ nhật ký đã quá quen thuộc, người ta không thể hiểu sai về nó hoặc lúng túng khi phải nhận diện nó.
Song, không rõ việc viết nhật ký ra sao, chỉ biết đến nay, ở ta quả thật các tập nhật ký được in ra còn quá ít ỏi, tới mức nhiều người chưa muốn xem nó là một thể tài văn học. Tại sao có sự thưa vắng đó? Để trả lời câu hỏi này, người ta phải nhìn vào hoàn cảnh cụ thể cùng cái tâm lý nảy sinh và kéo dài trong hoàn cảnh ấy.

Đọc tiếp ...

19 thg 8, 2015

Điểm lại quan niệm về hồi ký và các hồi ký đã in trong khoảng 1990-2000

Khoảng 1965-70, khi tôi mới bước đầu làm quen văn học Nga – xô viết thì cũng là lúc nền văn học này, sau 50 năm phát triển, bước vào giai đoạn tổng kết, mà một trong những cách cách tổng kết lôi cuốn nhất là việc các nhà văn dành nhiều tâm huyết viết hồi ký.
Nhờ đó tôi đã được đọc Chuyện đời tôi của K Paustovsski, Cỏ lãng quên của V.Kataev, Không ngày nào không viết mấy dòng của J.Olesa và nhất là cuốn Con người năm tháng cuộc đời của I.Erenburg, một cuốn hồi ký đồ sộ nó giống như một thứ bách khoa thư của văn học Nga nửa đầu thế kỷ XX. Mới đầu tôi được anh Nguyễn Thụy Ứng cho mượn bản in trên Novyi mir, tiếp đó được đọc bộ này trong Tuyển tập chín cuốn của nhà văn. Sau này tôi đã cùng với các đồng nghiệp khác dịch một số chương trong cuốn Hồi ký nói trên làm thành tập Những người cùng thời in ra ở Nxb Văn học.

Đọc tiếp ...

11 thg 8, 2015

Nhân một tập truyện dịch Tchekhov 1957 do Nguyễn Tuân khởi xướng

Lời dẫn
Trước 1991, một số nhà văn VN  đã đến thăm Hội nhà văn các nước Cộng hòa vùng Ban tích thuộc Liên xô cũ, như Litva, Latvia, Estonia.
Có một chi tiết  thuộc loại cơ cấu thành viên các Hội đó mà  anh  Vũ Đình Bình có kể với tôi: ở cả ba , số nhà văn dịch giả đông hơn số nhà văn làm thơ viết truyện .

Đọc tiếp ...

8 thg 8, 2015

Số phận những tìm tòi hình thức trong thơ Việt Nam từ sau 1945

Lời dẫn
  Bài viết này nay đã có phần lạc hậu, nó được viết từ chẵn 20 năm trước, khi  hiểu biết của tôi còn hạn chế,  không khí học thuật còn theo một chiều đơn giản. Điều đáng nói nhất là cái tiêu đề ở trên quá to, mà những nhiệm vụ tôi nêu lên thì chưa được giải quyết. Nhưng tới nay tôi vẫn chưa làm được gì hơn, vậy cứ xin trình nó ra đây, để các bạn đang đi vào vấn đề này có thêm tài liệu tham khảo

Đọc tiếp ...

30 thg 7, 2015

Một cách tìm lại tự do trong mất tự do


Sau đây là bài thơ của nhà thơ Mỹ Maya Angelou(1928-2014)
TÔI BIẾT TẠI SAO CON CHIM NHỐT TRONG LỒNG VẪN HÓT
-MAYA ANGELOU


Chú chim đang bay nhảy tự do
lơ lửng lượn qua lượn lại
thi thoảng đôi cánh chú buông lơi
như thách thức cả bầu trời
đang rực rỡ một màu cam
ráng chiều ngập nắng

Đọc tiếp ...

22 thg 7, 2015

Từ lưu manh trong đời sống tới lưu manh trong cai trị

Phần thứ nhất trong bài viết dưới đây
vốn  đưa trên blog này ngày 1-1-2012
và đưa lại trên FB của tôi ngày 18-7-2015.
Riêng phần thứ hai mới được bổ sung   


Sự phổ biến của hiện tượng lưu manh, tâm lý lưu manh, cách sống lưu manh                                 
Trong bài Đường đi và người đi -- Những khám phá thú vị về xã hội người Việt xưa in trên TT&VH số ra 18-12-2011 nhà nghiên cứu Phan Cẩm Thượng có viết :
“ Ngày xưa đi buôn, thường phải thuê người gánh hàng, một người gánh hai thúng gọi là Đểu, hai người gánh chung một thúng hoặc một kiện hàng gọi là Cáng. Dân gánh thuê Đểu Cáng thi thoảng có trộm hàng của chủ buôn, nên chữ Đểu Cáng dần mang nghĩa xấu, cũng như chữ Lưu manh – người mù đi lang thang, đôi khi cũng trộm cắp, nên chữ này cũng mang nghĩa xấu”.

Đọc tiếp ...

17 thg 7, 2015

Sự tầm thường của đời sống dưới mắt Tô Hoài


     Khi đc cái đu đ này, xin các bn nh cho, Tô Hoài là mt hin tượng nhiu chiu cnh, nhiu dáng v; s tm thường tôi nói  đây đã tn ti bên cnh nhng khía cnh nghiêm trang cao c ca đi sng mà ông đã din t trong chng hV chng A Ph và nht là Dế mèn phiêu lưu ký, tác phm đu tay, được đc rt nhiu nhưng li ít được nghiên cu ca ông.
      S tm thường được nói ti bài này là bao gm c nhng gì ông viết  t thu 20-25 tui ln c nhng trang ông viết trong tui già, bi vy tôi tin nó là mt ch đ xuyên sut trong ông.
      Tôi đnh đt cho chùm hai bài này cái tên Tô Hoài mt nhà văn biết bóc m đi sng, nhưng hai ch bóc mẽ y nghe có v phàm tc quá, nên dùng li cách nói  trên. 
                                   
                                               NHỮNG CHUYỆN LỖI HẸN   
Sở dĩ cốt truyện tình duyên lỡ dở thường được các nhà văn cổ kim đông tây ưa chuộng, bởi lẽ đây cũng là dịp rất tốt  để mỗi tác giả  trình bày cách hiểu của mình về bản chất con người.
Có thể là bạn chưa một lần đọc những truyện ngắn của Tô Hoài mà dưới đây, chúng tôi có nhắc tới. Nhưng có hề chi, nếu như cách nhìn những chuyện tình duyên lỡ dở đó cũng đã có lúc là cách nhìn của chính bạn.

Đọc tiếp ...

16 thg 7, 2015

Ba bài viết về Tô Hoài vào dịp kỷ niệm tác giả 75 tuổi và 80 tuổi.

       
  CUỘC PHIÊU LƯU GIỮA TRẦN AI CÁT BỤI

Với nhiều truyện ngắn đăng ở Hà Nội tân văn của Vũ Ngọc Phan hoặc Mê gái đăng ở tờ Chủ nhật của nhóm Tự lực văn đoàn, có thể coi Tô Hoài chính thức có mặt trên văn đàn từ 1940 . Vừa vào nghề sớm lại vừa kéo dài tuổi nghề – một sự kéo dài đàng hoàng chứ không phải lê lết trong tẻ nhạt -- đời văn Tô Hoài gợi ra hình ảnh một dòng sông miên man chảy và mang trong mình cả cuộc sống bất tận.
Năm và năm mươi
Ít ra 55 năm liên tục làm nghề của Tô Hoài, người ta có thể nhận ra hai giai đoạn.

Đọc tiếp ...

10 thg 7, 2015

Nguyễn Tuân và sách


Nhân kỷ niệm 105 năm ngày sinh Nguyễn Tuân 10-7-1910 --- 10-7- 2015

Lời dẫn
  Nhìn vào các nhà văn VN ở Hà Nội sau 1945, người ta dễ nhận ra một đặc điểm là tình trạng vốn liếng nghề nghiệp eo hẹp và sự chuẩn bị kém cỏi đến mức chúng tôi đã tạm dùng tới mấy chữ cây dại  trong bài viết về Khái Hưng và Thạch Lam hôm trước.

Đọc tiếp ...

6 thg 7, 2015

Thạch Lam trong mắt Khái Hưng



 Lời dẫn
Trong nhóm Tự Lực, Khái Hưng lớn tuổi nhất (sinh 1896) mà Thạch Lam ít tuổi nhất (sinh 1910). Nhưng hai người gần nhau ở chất nghệ sĩ, cái điều hơi thiếu ở Nhất Linh và Hoàng Đạo (hai người anh của Thạch Lam có vẻ nghiêng về dạng nhà hoạt động xã hội nhiều hơn).

Đọc tiếp ...

25 thg 6, 2015

Kỷ niệm 105 năm ngày sinh Thạch Lam ( phần II )


Lời dẫn       Sống Hà Nội hôm nay nhớ Hà Nội hôm qua
         Tôi còn nhớ -- không biết có chính xác?-- đâu khoảng giữa 2012, Phong Điệp, một bạn trẻ viết văn và chủ nhân trang mạng cùng tên, có viết trên đó  một bài viết mà nội dung có cái  ý tự hỏi :
– ai cũng thấy Hà Nội hôm nay nhếch nhác thật,
-- nhưng có phải là xưa nay Hà Nội vẫn thế, cái câu Hà Nội thanh lịch chỉ là nỗi ước ao mà bao thế hệ mong mỏi nhưng không đến được?

Đọc tiếp ...

24 thg 6, 2015

Kỷ niệm 105 năm ngày sinh Thạch Lam (phần I)

                
 Thạch Lam sinh 7-7-1910 mất 28--6 - 1942. Vậy đầu tháng 7 này là dịp kỷ niệm 105 năm ngày sinh của ông.  Hai tiểu luận của tôi về Thạch Lam 
 Thạch Lam: Cốt cách một trí thức mới
 Thạch Lam : Tìm vào nội tâm tìm vào cảm giác
đã in trong Nhà văn tiền chiến và quá trình hiện đại hóa, 2006
Ngoài ra, trong những năm qua tôi còn một số bài ngắn viết về con người và tác phẩm của Thạch Lam, in lẫn vào các tập chân dung và phiếm luận, nhân dịp này xin được đưa lại trên mạng, sau khi đã có sửa chữa hiệu chỉnh so với bản in trên giấy các năm trước.

Đọc tiếp ...

23 thg 6, 2015

Nhật ký văn nghệ 1990 (phần cuối)

 25/9
Lê Minh Khuê kể: Ngọc Tú bảo là Như Trang đang đứng ra lập ban liên lạc các nhà văn nữ, nhưng Khuê đã trả lời:
- Em không tham gia đâu, chị không biết chị Trang là dân thương nghiệp à.
Cách đây ít lâu Như Trang đã có một bài điểm qua lực lượng sáng tác nữ, trong đó tự khen mình không tiếc lời.
Có vẻ như trong xã hội bây giờ, ai thích trình bày ra ban bệ nọ kia, ấy là người có thể dùng cái tổ chức ấy làm một việc gì đấy.

Đọc tiếp ...

22 thg 6, 2015

Khái Hưng- Mấy bài tạp văn viết trên Ngày nay 1938-1940


             
Khái Hưng là loại nhà văn viết khá dễ dàng – dễ dàng chứ không phải dễ dãi. Tôi cứ hình dung  giá kể có ai đó muốn  ông viết dăm giòng về bất cứ vấn đề gì, ông cũng viết được. Đọc các bài tạp văn của Khái Hưng, tôi hiểu tài làm báo cũng tức là tài quan sát và khả năng ứng biến của ông trước các hiện tượng nẩy sinh trong đời sống hàng ngày.

Đọc tiếp ...

19 thg 6, 2015

Khái Hưng - các bài phê bình điểm sách xem kịch, in trên Ngày nay 1937-1940, Chủ nhật 1940


                       Giờ đây các báo Phong hóa Ngày nay bản điện tử đã được đưa rộng rãi trên các trang mạng nổi tiếng. Nhưng tôi thiết nghĩ  vẫn cần có những người trích ra từ các trang báo đó những bài được coi là có giá trị của riêng tác giả nào đó hoặc xếp theo chủ đề nào đó. Chúng tôi giới thiệu dưới đây mấy bài  của Khái Hưng mà chúng tôi chụp được ở các Thư viện mấy chục năm về trước. Mong sẽ có ích cho các bạn có nhu cầu nghiên cứu.

Đọc tiếp ...

15 thg 6, 2015

Nhật ký văn nghệ 1990 (phần II)


    Xin lỗi  bạn đọc là  phần đầu bản  cũ 15-6 -2015 đã có một vài sự lộn xộn về trật tự thời                     gian.  Hôm nay chúng tôi đã chỉnh sửa lại . 21-6-2015
                                                                                                   
                                                                                           


Lời dẫn

 Tình hình Hội nhà văn 1976 - 1990 gắn liền với các hoạt động khôn ngoan đi kèm với sự hiểu biết xác đáng về thực trạng xã hội VN hậu chiến của người Tổng thư ký Hội từ 1958 – Nguyễn Đình Thi:

Đọc tiếp ...

11 thg 6, 2015

Nhật ký văn nghệ 1990

7/1
Tình hình Hội nhà văn sau đại hội ? Một thể bùng nhùng. Con người thường mong thay đổi. Nhưng có thay đổi được không nếu cái hôm qua đã là bản chất của họ!

Đọc tiếp ...

10 thg 6, 2015

Nhật ký văn nghệ 1989

Trong hai năm qua, tôi đã trình ra với bạn đọc những trang ghi chép về đời sống văn nghệ 1987 - 1989. các bạn có thể tìm lạitrên blog này 
    http://vuongtrinhan.blogspot.com/2013/08/chuyen-van-nghe-ha-noi-nghe-o-moskva.html
   http://vuongtrinhan.blogspot.com/2014/09/buoc-re-ngoat-cua-oi-moi-van-nghe-hai_22.html

         Dưới đây tôi chỉ mạn phép giới thiệu lại những trang ghi chép 1989, có liên quan đến Đại hội nhà văn VN lần thứ tư. 
         Đời sống văn nghệ thì phức tạp bản thân tôi chỉ nghe được một ít chuyện, từ nghe đến ghi còn nhiều rơi vãi. 
        Mặc dù vậy, tôi cứ trình ra ở đây với hy vọng là thúc đẩy một tinh thần hồi cố thật tỉ mỉ thật rộng rãi. Xét ở góc độ lịch sử, những người cầm bút thế hệ tôi trở về trước còn nợ các bạn trẻ hôm nay rất nhiều, chúng ta cần phải trở đi trở lại với quá khứ thì mới giúp nhau có được cái nhìn sáng rõ về các sự kiện trước mắt.

Đọc tiếp ...

9 thg 6, 2015

Thế Lữ người mở đường táo bạo và dừng lại đúng lúc



Vài nét tiểu sử 
Thế Lữ tên thật là Nguyễn Thứ Lễ - 
Ngày sinh 10-6-1907 (một số sách viết nhầm 6-10). 
Ngày mất 3-6-1989. 
Từng được coi là nhân vật chủ chốt trong Tự Lực văn đoàn, viết nhiều trên các báo Phong hóa, Ngày nay. 
Sau chuyển sang hoạt động sân khấu và từ 1945, chỉ làm sân khấu. 
Tác phẩm chính: Mấy vần thơ (thơ, 1935), Vàng và máu (truyện, 1934), Trại Bồ Tùng Linh (truyện, 1941) v.v...

Trong một bài thơ mang tên Lời mỉa mai Thế Lữ viết:
Tôi dấn bước đầu trong cảnh trần gian
Ông cũng là tác giả của hai câu thơ mà Xuân Diệu thích nhắc lại:
Cái thuở ban đầu lưu luyến ấy
Ngàn năm chưa dễ đã ai quên
Nên hiểu cái ấn tượng về sự mở đầu này như thế nào? 

Đọc tiếp ...