VƯƠNG-TRÍ-NHÀN

Việt Nam đã hình thành như thế nào ? trích bài của Nguyễn Gia Kiểng ( 2018)

 

Dưới đầu đề “Vừa Hán hóa - vừa Việt hóa”, trên Fb cá nhân 2-6-2022, tôi đã cho in một đoạn trích từ bài viết của tác giả Lê Mạnh Hùng trong chương 2 “Tổng quan về lịch sử Việt Nam” cuả cuốn NHÌN LẠI SỬ VIỆT

Trong phần còm – mèn  cho đoạn trích,  bạn Paul Nghia không những đã cho biết đường link của cuốn sách mà còn giới thiệu bài viết của tác giả Nguyễn Gia Kiểng có liên quan  tới các phát hiện sử học được trình bày trong sách.

https://thongluan-rdp.org/.../8663-vi-t-nam-da-hinh-thanh...

 

 

Dưới đây là phần trích ra những ý quan trọng nhất của bài viết nói trên của tác giả Nguyễn Gia Kiểng, việc phân đoạn do tôi thực hiện để bản thân dễ theo dõi

 

******

 

Trở lại với quyển 1 của bộ  Nhìn Lại Sử Việt.

Theo tôi đây là cuốn nhiều phát giác mới và quan trọng nhất trong bộ sử rất công phu này. Nó đảo lộn nhiều điều tưởng như đã chắc chắn và cho chúng ta biết nước ta đã hình thành như thế nào, từ lúc nào và trong bao lâu.

 

Chúng ta tự hào là có một lịch sử dài và một truyền thống dựng nước và giữ nước vẻ vang nhưng nếu được hỏi một cách nghiêm chỉnh đất nước Việt Nam đã hình thành như thế nào thì đa số, kể cả trí thức, sẽ trả lời rằng tổ tiên ta từ phương Bắc cùng nhau theo vua Hùng xuống miền Nam dựng nước từ một thời rất xa xưa, ba hoặc bốn ngàn năm rồi.

 

 

 Hầu hết mọi dân tộc đều có những huyền thoại tương tự, có điều họ không coi đó là lịch sử.

Họ rất thận trọng ngay cả khi có những sử liệu chắc chắn.

Thí dụ như nước Pháp còn những bằng chứng rất đồ sộ và thẩm mỹ về sinh hoạt có tổ chức của những cộng đồng người tiền sử từ hơn 30.000 năm trước nhưng họ không tự hào là có "hơn ba mươi nghìn năm lịch sử".

 

 

Phải nhìn nhận rằng chúng ta đã chỉ huênh hoang chứ không cố gắng tìm hiểu một cách chính xác quá trình hình thành của đất nước mình như những dân tộc lớn. Có lẽ vì vậy mà chúng ta chưa là một dân tộc lớn.

 

 

Lê Mạnh Hùng đã kiểm điểm các bằng chứng khảo cổ, ngôn ngữ, sử liệu và truyện tích dân gian mà chúng ta có thể có để tìm hiểu thời kỳ lập quốc. Ông cũng cống hiến những lập luận xác đáng và chuyên nghiệp dựa trên những phương tiện đó.

 

  

 Ông giúp người đọc nhận ra một cách khá chắc chắn là từ thế kỷ 5 trước Công Nguyên (trước Công nguyên) trên nửa phần đất phía Bắc của nước ta đã có những nhóm người phần lớn thuộc giống Nam Á (Austroasiatic), một phần nhỏ thuộc giống Nam Đảo, chung sống với nhau từ một thời rất xa xưa, không biết từ bao giờ nhưng đã hòa nhập với nhau.

 

 Họ ở một mức độ tiến hóa tương đương với các nhóm người khác trong vùng Đông Nam Á, kể cả nửa phía Nam của nước ta, cũng thuộc hai chủng tộc Nam Á và Nam Đảo.

 

 Đó chính là tổ tiên chúng ta. Nền văn minh này thể hiện qua các trống đồng và nhiều dụng cụ bằng đồng khác được tìm thấy khắp nơi, đặc biệt là ở Đông Sơn (Thanh Hóa).

 

 

Vào đầu thế kỷ 2 trước Công nguyên các bộ lạc này thực sự được tiếp xúc với một nền văn minh vượt trội hơn hẳn, nền văn minh Trung Hoa, với cuộc chinh phục của Triệu Đà.

 

 Trước đó số người phiêu lưu từ Trung Quốc xuống phía Nam rất hiếm hoi.

 

Các vua Hùng và Thục Phán (An Dương Vương) có mọi triển vọng thuộc số những con người ít ỏi này.

 

 

Họ trở thành những thủ lãnh nhưng đồng thời cũng lập tức bị đồng hóa.

 

 

Trong hai thế kỷ kế tiếp, dưới sự thần phục nhà Triệu rồi nhà Tây Hán các tiếp xúc với nền văn minh Trung Hoa tăng lên nhưng về bản chất vẫn là trao đổi chứ không áp đặt.

 

 

 Các bộ lạc Lạc (tên gọi của nước ta và dân ta thời tiền sử) quy thuận Bắc triều nhưng vẫn tự trị và tiếp nhận văn hóa Trung Hoa một cách tự nguyện theo nhịp độ của mình, những người Hán rất ít ỏi xuống miền Nam, kể cả những đại diện cho quyền lực Bắc triều, nhanh chóng trở thành người địa phương sau khi đã đóng góp khai hóa dân Lạc.

 

 

 Tình hình chỉ thay đổi vào đầu Công Nguyên khi nhà Đông Hán áp đặt sự thống trị trực tiếp và mô hình xã hội Trung Quốc.

 

 

Chính sách Hán hóa dứt khoát này đã làm nổ ra một cuộc nổi dậy lớn của giai cấp quyền thế địa phương còn mang nặng truyền thống Lạc do hai Hai Bà Trưng lãnh đạo.

 

 

 Cuộc nổi dậy này đã đuổi được quân Hán và khiến Hai Bà Trưng cầm quyền trong ba năm trước khi bị quân Hán của Mã Viện đánh bại năm 43.

Nó không chỉ giới hạn tại miền Bắc nước ta mà là một phần của một cuộc tổng nổi dậy của nhiều sắc tộc ở phía Nam Trung Quốc bao gồm cả hai tỉnh Quang Đông và Quảng Tây hiện nay.

 

 

Sau cuộc đàn áp của Mã Viện xã hội Lạc kể như hoàn toàn bị khuất phục và tiến trình Hán hóa liên tục về mặt chính trị và văn hóa bắt đầu.

 

 

Mãi hai thế kỷ sau mới có một cuộc nổi dậy nhỏ ít nhiều mang mầu sắc Lạc và nhanh chóng bị dập tắt của anh em Triệu Quốc Đạt, Triệu Thị Trinh.

 

 

 Từ đó việc khôi phục lại xã hội Lạc không đặt ra nữa và một nước Việt mới dần dần hình thành theo dòng thời gian cho đến khi đã đủ sức mạnh để trút bỏ sự lệ thuộc Trung Quốc. Đó là năm 939 khi Ngô Quyền đánh thắng quan Nam Hán và xưng vương.

 

  

Lê Mạnh Hùng kể lại giai đoạn lập quốc này đầy đủ và rõ hơn mọi cuốn sử từ trước đến nay, với phần về thời kỳ tiền sử đặc biệt xuất sắc.

 

 

Ông cho chúng ta nhìn rõ hơn vai trò quan trọng của những quan cai trị đã dẫn dắt dân ta từ nếp sống thô sơ vào nền văn minh Trung Hoa, những Nhâm Diên, Tích Quang v.v., nhất là Sĩ Nhiếp, người được một số sử gia đầu tiên của Việt Nam gọi là vua.

 

 

Ông cũng giúp chúng ta khám phá ra những nhân vật lịch sử từ trước tới nay ít được nói đến, thậm chí không được nhắc đến, như Đào Hoàng, Lương Thạc, Đỗ Tuệ Độ, Lý Trường Nhân, Lý Tự Tiên, Đinh Kiên, Vô Ngôn Thông, Tăng Cổn v.v.

 

 

Những nhân vật lịch sử này, mỗi người với cương vị và chủ đích khác nhau đã góp phần quyết định vào tiến trình lập quốc của chúng ta không kém những Hùng Vương, Thục Phán, Lý Nam Đế, Lý Phật Tử, Mai Thúc Loan, Phùng Hưng.

 

 

 

Ông cũng đã cập nhật nhiều tài liệu quan trọng kèm theo những nhận định giúp chúng ta nhìn rõ hơn lịch sử.

Một thí dụ:

Nhà Ngô thời Tam Quốc chưa bao giờ là một triều đại của toàn thể Trung Quốc và cũng chỉ cai trị nước ta khoảng 70 năm vào thế kỷ thứ 3 nhưng tại sao người Việt Nam lại có thói quen gọi Trung Quốc là nước Ngô ("giặc bên Ngô không bằng bà cô bên chồng")? Vì sao Nguyễn Trãi đặt tựa cho bản tuyên ngôn độc lập sau khi đuổi được quân Minh là "Bình Ngô đại cáo"?

 

 

 Đọc cuốn sách này người ta có thể hiểu tầm quan trọng của nhà Ngô. Những hành động thô bạo – tàn sát toàn bộ những người Hoa mới tới - của Lương Thạc (năm 332) và Lý Trường Nhân (468) cũng đóng góp giúp chúng ta ý thức rằng những người gốc Hoa luôn luôn chỉ là một thiểu số ngay trong giai cấp quyền lực trong một giai đoạn lập quốc kéo dài gần một ngàn năm và nhanh chóng trở thành người Việt dù đã đóng một vai trò quyết định.

 

----

 

Phải nhìn nhận đóng góp rất lớn của Lê Mạnh Hùng về sử liệu và lý luận trong việc soi sáng giai đoạn lập quốc, nhưng cũng phải hiểu rằng có những ý kiến ông chỉ đưa ra để thảo luận.

Thí dụ như, có lẽ do tinh thần dân tộc mạnh, Lê Mạnh Hùng tạo cảm giác là ông nắm lấy mọi sự kiện có thể vận dụng được để khẳng định tinh thần bất khuất và ý chí dựng nước của dân tộc Việt Nam trong khi chính những sự kiện ấy cũng có thể khiến người ta nghĩ rằng điều mà chúng ta thường gọi là lịch sử dựng nước thực ra chỉ là sự hình thành chậm chạp của một quyền lực thống trị địa phương trong tay một thiểu số rất nhỏ gồm những người từ phương Bắc tới và những người địa phương đã hấp thụ văn hóa Hán.

 

 

Thành phần quyền thế này, mà Lê Mạnh Hùng và nhiều sử gia khác gọi là "môn phiệt" tuy đại đa số gốc Lạc nhưng không tỏ ra gắn bó với quần chúng Lạc.

 

Họ đấu tranh chủ yếu để đòi hỏi cho chính họ một mức độ tự trị lớn hơn đối với một Bắc triều xa xôi không giúp gì cho họ mà chỉ đòi phục tùng và triều cống. Các cuộc nổi dậy của Bà Triệu, Lý Bôn, Triệu Quang Phục, Mai Thúc Loan, Phùng Hưng, Dương Diên Nghệ đều nằm trong logic này.

 

 

 

Chỉ có một ngoại lệ kỳ lạ mà có lẽ Lê Mạnh Hùng là sử gia đầu tiên nhìn thấy tầm quan trọng là cuộc nổi dậy của Lý Tự Tiên và Đinh Kiến. Lý Tự Tiên bị giết nhưng Đinh Kiến tiếp tục chiến đấu, rồi chiếm được kinh thành và cầm quyền vài năm trước khi bị tiêu diệt. Không hề thấy Đinh Kiến xưng một tước hiệu hay chức vụ nào cả. Ông được sử Trung Quốc nói là thuộc thành phần dân gian.

 

 

Có mọi triển vọng đây là cuộc nổi dậy xuất phát từ quần chúng. Đinh Kiến đã không nhận được một sự hưởng ứng nào từ lớp môn phiệt. Ý thức dân tộc -hiểu theo nghĩa một tình cảm liên đới giữa những con người cảm thấy cùng là thành viên của một cộng đồng - hầu như không có trong giai đoạn lập quốc này.

 

 

Tình trạng này không thay đổi bao nhiêu cho đến khi Ngô Quyền thiết lập nền tự chủ lâu dài và cũng không thay đổi bao nhiêu trong năm thế kỷ kế tiếp.

 

Một đặc tính cũng cần được lưu ý là sự thiếu vắng của tư tưởng chính trị trong suốt quá trình hình thành của đất nước Việt Nam. Không hề có dấu vết tư tưởng nào cả.

 

 

 

Như vậy đất nước Việt Nam đã hình thành với hai đặc tính, một là sự vắng mặt của tư tưởng chính trị ngay cả ở mức độ sơ sài, hai là sự tách biệt giữa thành phần môn phiệt – thành phần khá giả và quyền thế - với quần chúng. Chúng ta không có tư tưởng và chỉ có ít tình đồng bào. Đó là tật nguyền bẩm sinh - ngay trong gen - của đất nước ta và có thể đóng góp giải thích nhiều nghịch lý lịch sử sau này.

 

 

 

 (08/08/2018)

 

 

Please Select Embedded Mode For Blogger Comments

أحدث أقدم