VƯƠNG-TRÍ-NHÀN

TUỔI GIÀ: MỌI CHUYỆN DANG DỞ

 TUỔI GIÀ: MỌI CHUYỆN DANG DỞ

-

Tôi bước vào văn học trong tâm thế một người thất bại và chỉ đặt ra cho quãng đời sau đó của mình một mục đích: Cố hiểu tại sao mình lại thất bại. Nghĩa là tôi công nhận việc tôi không thành công trong sáng tác văn học – làm thơ viết truyện là điều tất nhiên. Nhưng một phần là vì vào đầu những năm 60 của thế kỷ XX, một học sinh xuất thân gia đình thành thị mà đặc điểm chủ yếu là còn rất bơ vơ, lại có may mắn được học hết trung học như tôi, chỉ thèm muốn một điều duy nhất là có một gương mặt, có một tiếng nói để chung quanh người ta phải nhớ.

Tôi muốn lập danh ngay lập tức, càng sớm càng tốt – hai chữ lập danh theo nghĩa nông nổi nhất – mà lập danh lúc ấy thì tốt nhất là làm văn nghệ. Tôi đã làm việc này theo kiểu học trò: được giải thưởng thơ trong cuộc thi thơ của nhà trường; có mấy bài ca dao và đoạn văn ngắn đăng trên tờ báo nội bộ của sở văn hóa Hà Nội. Nhưng tôi cũng sớm được thực tế trả lời là những “áng văn chương” gọi là sáng tác ấy thực tế chỉ là một thứ cỏ dại, còn lâu mới đạt đến trình độ có thể tham gia vào mặt bằng của nền sáng tác đương thời. Cộng với sự thất bại trong việc thi vào khoa văn trường đại học tổng hợp và được chuyển vào trường đại học sư phạm Vinh để chuẩn bị đi dạy học, tôi cảm thấy chỉ còn cách phục xuống để học, lấy học làm niềm vui làm lẽ sống. Việc nhập ngũ đối với tôi là một điều bất ngờ và đối với gia đình tôi là một điều không mong đợi, bị buộc phải làm chứ không sung sướng gì. Theo thứ lý thuyết phổ biến lúc ấy thì việc nhập ngũ lại mang lại cho tôi điều kiện thuận lợi là thoát khỏi môi trường dạy học vốn là điều tôi không ham thích mà chỉ bị ném vào cho xong chuyện; nhưng mặt khác lại cho tôi điều kiện rèn luyện. Rồi tôi viết phê bình, rồi bài phê bình của tôi được in trên tờ báo Văn Nghệ của Hội nhà văn Việt Nam. Rồi sau mấy năm tập duyệt, tôi được chuyển về tạp chí Văn nghệ Quân đội là một điều trước đó tôi có nằm mơ cũng không dám nghĩ tới. Trong sự không may, tôi lại được thượng đế ban phát một may lớn. Sau này biết ra thì thấy cái chuyện đến đó tôi phải dừng lại cũng là điều dễ hiểu.

Trong những ngày ở tuổi 80 này, tôi nghĩ rằng sự tham gia vào đời sống văn học của tôi kể cả viết phê bình, cũng là một việc quá sức. Tôi không có năng khiếu sử dụng ngôn ngữ cũng như không có năng khiếu đọc sách và biết rút ra từ sách vở những bài học cho việc viết lách của mình. Không khiêm tốn một chút nào cả, việc tiếp nhận những sáng tác kinh điển của dân tộc cũng như những cuốn tiểu thuyết đồ sộ, những tập thơ độc đáo và đầy chất khai sáng của các tác giả lớn trên thế giới là điều đối với tôi hết sức khó khăn. Mà tôi cũng không tìm được cách để vượt qua những khó khăn đó, tôi tự nhủ người ta như quả lê quả táo, mà tôi chỉ là quả me quả sấu tầm thường. 

Trong hoàn cảnh xã hội từ sau 1945 đến nay nghề làm báo bị coi thường. Đặt bên các sáng tác thơ truyện mà người ta coi là có giá trị lâu dài thì các bài báo nhỏ lẻ mà tôi viết ra và tự bằng lòng lúc đó, bị coi rẻ, bị xem như chỉ có giá trị nhất thời. Nhưng nếu nghĩ kĩ thì thấy không ai nhảy qua được quá đầu mình, không ai có thể kéo dài đau khổ vì chuyện mình không có năng khiếu, không có tài. Vậy nay nghĩ lại tôi tự nhủ thôi thế cũng là được rồi. Chính trong lúc này tôi nhớ tới câu thơ của Tế Hanh:

“Đời tôi sướng hay khổ

Đời tôi buồn hay vui

Đời tôi là sự sống

Đời tôi là đời tôi”

______________


SỰ BIẾT ĐIỀU 

KHÔNG CỨU NGƯỜI TA KHỎI THẤT BẠI


Năm 1978, tôi chuyển từ tạp chí Văn nghệ Quân đội sang nhà xuất bản Hội nhà văn và đã được kết nạp vào Hội. Hồi ấy cái việc vào Hội còn được coi là thiêng liêng lắm, không chỉ có việc cần được hai hội viên cũ giới thiệu mà còn phải qua một thời gian dự bị, nghĩa là Hội coi rằng có thể sau khi gọi là xuất hiện trong một giai đoạn ngắn ngủi, người ta có thể không tiếp tục sáng tác được nữa và phải bằng lòng với việc “ngồi ngoài” của mình. Quả thật là tuy còn lâu mới đạt được điều mơ ước là trở thành một nhà văn thực thụ nhưng nếu xét theo tiêu chuẩn bình thường thì tôi cũng không đến nỗi nào. Thậm chí tôi còn luôn luôn khao khát được đặt chân vào những khu vực mà mình chưa quen biết, từ văn học tôi muốn nghĩ rộng ra các vấn đề văn hóa, tôi không tự thu hẹp trong giới chuyên môn mà muốn bàn thêm với người đọc về các vấn đề theo tôi là lớn lao trong xã hội. Tuy bị nhiều người xem thường, nhưng nay nghĩ lại trong việc liên tục sống với những bài báo nhỏ được đặt cho một cái tên mà nhà văn Tô Hoài gọi là “nói nhún” (ông viết trong bài điểm sách cho tập “Những kiếp hoa dại” của tôi), tôi đã thực sự phát huy được chỗ mạnh của mình và cũng được nhiều bạn đọc – những người có tên và nhất là những người không có tên – chia sẻ, cảm thông, cho là nói hộ họ những điều họ thường nghĩ.

Phải thú thực là không hiểu ma quỷ xui khiến thế nào mà những năm cuối đời – từ khoảng đầu những năm 2000 trở đi – tôi tự nguyện xa lánh với giới văn học vốn là môi trường quen thuộc với tôi suốt cuộc đời. Trước đó vài năm xảy ra một việc. Hội có một ban chuyên ngành gọi là Hội đồng lý luận phê bình. Từ khi về công tác ở nhà xuất bản của Hội và trở thành hội viên tôi đã thèm muốn được trở thành một thành viên của hội đồng này. Nhưng tới Đại hội nhà văn Việt Nam lần thứ 4 (10/1989) sau cuộc đổi mới thất bại do các nhà văn Nguyên Ngọc, Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu khởi xướng, cái cảm giác về một sự quan liêu, một sự hành chính hóa của Hội với tôi ngày càng rõ rệt. Rồi tới Đại hội lần thứ 5 (3/1995) khi lớp nhà văn trẻ, mà nhà thơ Hữu Thỉnh trở thành tổng thư ký nhưng cách làm việc của Hội thì vẫn là theo cung cách có từ hồi nhà văn Nguyễn Đình Thi. Mặc dù bị lôi kéo nhiều lần tôi vẫn kiên quyết không tham gia vào Hội đồng, bởi tôi cảm thấy khi tham gia vào các hội đồng ấy, người ta mất tính chất độc lập, mà chỉ là công cụ của ban chấp hành. Tôi nghĩ lẽ ra sự tham gia hội đồng là việc tự nguyện thì nếu sau này có sự bất đồng với ban chấp hành, người ta có thể rút lui. Nhưng quanh tôi không ai nghĩ vậy. Anh Hữu Thỉnh, người nắm toàn quyền trong việc định ra phương hướng và xác định nhân sự của Hội lúc ấy không thể nghĩ rằng lại có một người được xếp vào Hội đồng mà lại từ chối. Trong phiên họp đầu tiên, anh cứ gọi tôi đến họp với tư cách thành viên của Hội đồng. Khi báo Tuổi trẻ ở thành phố Hồ Chí Minh phỏng vấn tôi tại sao lại có sự rút lui như vậy, tôi trả lời rằng tôi ở ngoài có lẽ có ích hơn. 

Phải nói rằng nhà thơ Hữu Thỉnh là một người rất khéo xử lý các công việc của Hội và đã đạt đến một sự nhuần nhuyễn khi bảo đảm thực hiện các định hướng của cấp trên mà vẫn không làm hao tổn đến lực lượng sáng tác. Sự tồn tại của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp cũng như nhà văn Bùi Ngọc Tấn sau cuốn “Chuyện kể năm 2000” là những thành công vang dội đánh dấu cách làm việc uyển chuyển của nhà thơ đại diện cho lớp trẻ. Nhưng riêng tôi tự nghĩ thế là từ nay Hội đi đường Hội mà mình đi đường riêng của mình. Tới Đại hội nhà văn lần 6 (2000) tôi còn có mặt, nhưng từ Đại hội lần 7 trở đi, tôi ở nhà, chỉ nghe mọi người khi trở về bàn tán. Phải nói thêm những Đại hội này thường không phải là Đại hội toàn thể hội viên mà chỉ là Đại hội đại biểu. Khối Hội nhà văn chúng tôi gồm các anh chị em làm ở nhà xuất bản ở báo Văn nghệ, và ở chính cơ quan hội họp nhau lại để bầu ra một số đại biểu. Lần nào tôi cũng có thư gửi ban tổ chức nói rằng do điều kiện sức khỏe nên tôi xin không tham gia và mặc dầu sau đó anh Hữu Thỉnh có nhắn là “không được bầu thì Vương Trí Nhàn cũng cứ đi” nhưng tôi vẫn không đến họp.  

Please Select Embedded Mode For Blogger Comments

أحدث أقدم