Ba giờ chiều, ngày 12 – 12 – 1981, 24 Điện Biên
Trời rét. Khô ráo. Cổng
ngoài nhà anh (và Huy Cận) dạo này có thêm liếp che bên trong song sắt cho kín
đáo hơn. Chỉ khoét một lỗ vuông. Cửa sổ phía trước thấy đóng. Tưởng Xuân Diệu
không có nhà, tôi bỏ đi, nhưng tính toán thế nào lại quay lại và cứ đẩy cửa
vào. Cửa sổ phía đông mở, nhìn vào thấy cửa buồng không khép, biết có người ở
nhà.
Tôi vào phòng, thấy Xuân
Diệu đang nằm ngủ, đắp chiếc chăn len hoa. Tôi cảm thấy phiền, muốn quay ra. Hà
Vũ gọi. Xuân Diệu trả lời, giọng hơi gắt: “Cái gì thế? Ai thế?”. Sau thấy tôi,
anh vội mời vào.
Tôi nói: “Chết, anh đang
ngủ, tôi không biết”
Anh nói: “Không sao, chả
mấy khi Mạnh đến”
Có lẽ anh nghĩ, từ ngày
anh đi Paris về, bây giờ tôi mới đến, phải có chút gì của Paris để đãi tôi. Anh
cho ăn phomát, uống rượu vang đỏ, hút thuốc lá Mỹ, lại cà phê nữa.
Anh phàn nàn: “Cuộc sống
giờ khổ cực quá. Xã hội bây giờ như nhà không có chủ” – Anh lè lưỡi, nhắm mắt,
lại lè lưỡi – Sợ quá!”
Anh khoe tập giấy ghi lời
cảm ơn của những nơi anh vừa làm việc ở Pháp, và đưa tôi xem bản chương trình
làm việc ở Paris 7, Sorbonne, Nice và một tờ báo Đoàn kết của Việt kiều.
Anh nói có một người đàn
bà Pháp ở Alger tên là Francoise Roger tập thơ Xuân Diệu như là tập Kiều. Đàn
bà Pháp mà rất giỏi tiếng Việt. Bà ta lấy một người Brasil. Bà ta cóp nhặt bốn
câu thơ Xuân Diệu ở bốn bài thơ khác nhau, rồi ghép lại thành một bài tứ tuyệt.
Và vận dụng thơ Xuân Diệu vào cuộc sống. Thí dụ: chạy vội theo tầu điện: “Mau với
chứ, vội vàng lên với chứ!”. Bà ta theo hồi giáo, hôm nay ăn thịt, ngày mai ăn
chay: “Anh ơi anh, em rất sợ ngày mai”... Francoise Roger coi thơ tình Xuân Diệu
hay hơn cả thơ tình Musset.
Anh chê tập tiểu luận của
Lê Đình Kỵ viết về Tố Hữu: “Huy Cận đọc cho biết chứ tôi chưa đọc. Khen Tố Hữu
thì cứ khen, việc gì phải chê Thơ mới. Làm gì mà phải hạ nhân cách. Hàn Tín luồn
khố để làm đại tướng, để làm vương sau này. Lê Đình Kỵ buồn khố để nó cho vào
Sài Gòn gần vợ à? Hay nó không in sách cho? Anh Lý hải Châu rất tốt . Anh ấy bảo
Trương Chính, trong bài giới thiệu Tuyển tập Hoài Thanh, đã tán thành Hoài
Thanh phê phán Thơ mới. Anh ấy cắt bỏ đi. Tôi bảo anh Châu, sao anh không cứ để
nguyên như thế. Anh làm thế là anh cứu Trương Chính đấy chứ! Thơ mới không cần
thế đâu. Tôi chả dại đi bênh Thơ mới làm gì, nhưng mà tôi cứ đi bình những bài
Thơ mới hay!
Rồi anh nói tiếp vẻ bực bội:
“Ta cứ có cái lối bế quan toả cảng, không cho ai đi ra nước ngoài. Như đứa trẻ
cứ bịt mãi, che mãi, da thịt nó vẫn cứ lòi ra. Tôi còn đánh du kích Khổng Tử
nhiều. Không biết nếu chỉ có nước mình mà không có các nước khác thì ra sao?
Nguy thật! Không qua tư bản chủ nghĩa, thiệt nhiều quá! Không cho nói yêu, nói
hoa lá thì đợi đến thế giới đại đồng mới nói à? Thế trước cách mạng tháng Tám,
ai nói yêu, nói hoa lá đều là sai cả à? Là cản trở cách mạng à?”
Tôi cứ cặm cụi chép mấy bản
nháp thơ của anh thời Thơ mới, anh nói: “Mạnh hãy tạm xếp cái này lại để viết
bài văn xuôi cho Tuyển tập Xuân Diệu đã. Mà phải vay tiền Tuyển tập Nguyễn Tuân
đi mà bồi dưỡng để viết - lấy ngắn nuôi dài”.
Rồi anh xoay ra nói về lớp
thơ trẻ: “Bọn làm thơ trẻ bây giờ ngu dốt quá! Nó như cái ôtô lên giây cót. Hết
giây cót là không chạy được nữa. Như những cô gái tuổi dậy thì, ra vẻ lắm, oai
lắm – anh khuỳnh tay, vênh mặt, làm bộ kiêu ngạo - đến lúc có chồng, có con là
thôi hết”.
Trưa ngày thứ sáu 25- 12
– 1981, 24 Điện Biên
Tôi đến Xuân Diệu để báo
hoãn cuộc gặp mặt với anh vào sáng thứ bẩy 26 – 12. Cổng ngoài đóng. Nghe tiếng,
anh chạy ra. Không có việc gì phải vào, msợ mở khoá lôi thôi, tôi nói với anh một
câu rồi từ biệt. Anh thò tay qua lỗ vuông khoét vào cái phên nứa che ngoài chấn
song cửa, bắt tay tôi. Anh nói: Ca dao Khu Năm có câu:
Thương
em, anh đút cái ấy qua rào,
Đút
qua đút lại gai nó cào rách da
Nói xong anh cười ha hả.
Chủ nhật, ngày 31 - 1 –
1982, 24 Điện Biên.
Tôi đến khoảng 4 giờ chiều.
Xuân Diệu đang làm việc ngoài sân sát cửa sổ, trông ra cổng, dưới bóng hoàng
lan. Bàn ghế làm việc bằng trúc.
Như mọi lần, anh tiếp tôi
vồn vã. Tôi nói: “Anh đang làm việc, bận”. Anh gạt đi: “Làm việc thì bao giờ
mình chả làm việc”.
Tôi vào nhà. Huy Cận đang
nói chuyện điện thoại ở phòng ngoài, một lúc vào nói chuyện vụ đắm tàu chết người
ở Quảng Ninh. Vớt xác khó khăn. Người ta vớt đồ đạc, quần áo, hành lý chứ không
vớt người: “Mình quá tin ở tư tưởng thì thành thế đấy. Mình là Mácxít, coi ý thức
do tồn tại quyết định, vậy mà lại duy tâm. Duy tâm nên bây giờ chịu hậu quả,
quy luật nó quật lại. Nhưng thôi không nói chuyện buồn làm gì. Ta nói chuyện
khác”.
Huy Cận đọc cho tôi nghe
hai bài thơ anh mới làm.
Xuân Diệu giục tôi viết
bài về văn xuôi của anh. Anh nói: “Mệt quá! Viết khó lắm! mệt lắm! Nhưng phải cố
gắng thôi. Thời gian! Mình 67 tuổi rồi! Trong ta có vàng, nhưng không viết thì
vàng cũng không có thể khai thác được”.
Anh lại nói kinh nghiệm rất
cụ thể: “Viết mỗi trang phải chừa lề rộng. Viết một mặt giấy thôi. Chừa lại một
nửa để sau bổ sung. Không phải cứ viết tuần tự từ đầu đến cuối. Cứ viết từng đoạn
rồi lắp ráp, như chuyện cây tre trăm đốt. Có khi cứ viết bừa đi rồi chế biến
sau. Đánh thọc sâu vào hầm Đờ Cát. Một mũi thọc sâu, bắt lấy Đờ Cát đã, rồi
quay ra giải quyết bọn còn lại không khó gì lắm”.
Anh mời tôi uống hai ba
thứ rượu vang của Pháp, Hung, Bungari. và hút thuốc lá ngoại.
Anh phàn nàn có nhiều việc
không đáng phải làm mà cứ phải làm, mất bao nhiêu thì giờ – những việc linh
tinh về sinh hoạt.
Anh lại nhắc tôi phải ăn
uống cho tốt. Và động viên: “Chúng mình còn được người ta giao việc cho mà làm,
thế là còn hơn nhiều người không có việc gì mà làm”.
Anh chê cuốn sách của tôi
viết về thơ Hồ Chủ Tịch, bữa trước tặng anh: “Bám vào Sóng Hồng nhiều quá và
sao cứ phải gò thơ Bác vào hiện thực xã hội chủ nghĩa làm gì! Thế chỉ hiện thực
xã hội chủ nghĩa mới có giá trị sao? Đã đến lúc ai cũng phải lột trần truồng cả
ra mà xem xét bình đẳng như nhau”.
Không hiểu sao câu chuyện
lại xoay sang Chế Lan Viên lúc nào không biết. Anh nói: “Nhà văn có tri thức,
có văn hoá cao là Nguyễn Đình Thi và Huy Cận. Chế Lan Viên chỉ tài chế biến
ngay những sách vở đọc được, dùng trí thông minh mà vận dụng ngay. Chỉ có ngọn,
chưa có gốc, có nền. Cứ phân tích, mxé chẻ ra, thiếu tổng hợp. Chỉ có cái gì là
tổng hợp mới còn lại lâu dài.
Lối viết của Chế Lan Viên
là phải dựa, phải tựa vào một cái gì đối lập, phải phê phán, đả kích nó thì mới
đưa ra cái chính diện. Không có cái gì để mà mđả thì không viết nổi.”
Anh tán thành ý kiến của
tôi là cần biết thật tỉ mỉ về tiểu sử của anh. Và anh bắt đầu thuật kể. Anh
nói, bà má của anh đã có một đời chồng trước khi lấy ông thân sinh anh. Bà là
người không chịu khó làm ăn. Khi anh lên hai tuổi thì bà cả vào. Bà cả (anh gọi
là mẹ già) chịu khó làm ăn tần tảo. Má anh không ở được, phải đưa anh về với bà
ngoại ở Gò Bồi. Năm anh sáu, bẩy tuổi gì đó, bố anh đưa anh về Quy Nhơn ở với
ông và bà cả “cho khỏi hư hỏng”. Anh phải xa má từ đó. Má anh sau tập kết ra Bắc
ở với anh. Bà mất năm 1966. Bà cả sinh con trai. Nó kém tuổi anh nhưng anh vẫn
phải gọi nó là anh. Thằng “anh” nhỏ này hơi một tý là mách mẹ nó. Nó còn đánh
anh nữa. Hồi sang Pháp, phát biểu ở Paris 7, anh nói: “Nhờ bị thằng em (thằng
“anh” nhỏ) đánh mà tôi biết thông cảm với những người bị áp bức”. Anh còn phải
xách giỏ đi chợ, rất sợ gặp bọnbạn học, nhất là con gái, con những ông Ký, ông
Phán. Nhiều khi phải nép vào hàng rào, chui vào bụi cây, nhưng không tránh
thoát.
Cách mạng tháng Tám, Xuân
Diệu được đưa vào Quốc hội. Tháng 5 – 1946, được cử vào phái đoàn Phạm Văn Đồng
- đi Paris (hội nghị Fontainebleau) kháng chiến toàn quốc, anh lên Việt Bắc,
vào Ban chấp hành Hội văn nghệ. Anh tự thấy có một cuộc thức tỉnh về quần
chúng. Anh nói: “Bài Bầm ơi! của Tố Hữu ảnh hưởng lớn tới hướng đi về thơ của
mình. Bài Bầm ơi! là một sự phát hiện về nhân dân, được viết một cách nhuần nhị.
Một sự chuyểnhướng về tình cảm và về ngôn ngữ thơ. Rồi mình đi nói chuyện. Cũng
là mộtcách quần chúng hoá, vì phải nói sao cho quần chúng hiểu. Rồi tham gia
phátđộng quần chúng giảm tô ở làng Còng, Vĩnh Lộc, Thanh Hoá và làm thơ về bần cố
nông”.
Sau Cách mạng tháng Tám,
Xuân Diệu sáng tác nhiều. Riêng thơ tình của anh, tính cho đến lúc này là 450
bài, cộng với các loại thơ khác, phải ngót 1000 bài. Anh nói: “Nếu cần chọn một
bài tâm đắc nhất, mình chọn bài Biển. Hình ảnh biển từ nhỏ đã đi vào mình. Biển
đau thương, bể khổ trong thơ ca truyền thống và thơ Xuân Diệu. Vậy mà nay biển
vui, đầy sức sống. Cách mạng và cuộc đời đã đem lại cho mình một tâm hồn tươi mới”.
Xuân Diệu nói tiếp về những
nhân tố tạo nên hồn thơ anh: “Có lý do năng khiếu bẩm sinh. Có lý do ở sức yêu
mến cuộc đời. Sống hết mình, toàn thân, toàn trí, toàn tâm, toàn giác quan.
Mình cảm thụ đời rất cụ thể, bằng cả xương thịt, da, mũi, mắt, tai và hồn. Mình
nói chuyện, điệu bộ, nét mặt nhăn nhó buồn cười lắm, chụp ảnh mới biết. Nghĩa
là rất cụ thể. Cả con người nói. Toàn thân tham gia vào câu văn, không phải chỉ
có ý mà cả luồng cảm xúc tràn vào bài văn. Cho nên sáng tác là sống cao độ nhất
cá nhân mình. Vì thế mình ham sáng tác nhất, dành nhiều thì giờ cho sáng tác.
Còn có lý do cần cù học tập
nữa. Mình như là bà già, cái gì cũng nhặt nhạnh, tích luỹ. Đứa cháu đi đâu về
kêu đói, bà đã có ngay cái cho cháu ăn rồi.
Do viết thư nhiều, tự
phân tích mình, dần dần mình viết được văn xuôi.
Do nói chuyện nhiều, phải
lập luận, phải thuyết phục, phải làm cho người ta đồng cảm, mình viết được phê
bình văn học.
Xuân Diệu tự cho là mình
dại – dại mà lại thành khôn. Anh nói: “Do yêu cuộc sống nên tôi dại. Dại mà
khôn. Nghĩa là được sống có ích cho đời, cho mình, được sống đầy đủ từng giây,
từng phút của mình. Tôi ít đi tán chuyện, tán chuyện rồi nói xấu người này, người
khác. Mình cũng chẳng cao đạo gì. Để thì giờ đọc và viết”.
Anh phàn nàn: “Cuộc sống
của ta chật hẹp, gò bó quá! Con người ta bao giờ cũng sống một cách toàn diện,
họ vẫn phải ăn, ngủ, giao hợp. Mình thu hẹp thơ tình yêu lại thì người ta sẽ chỉ
có giao hợp, giao hợp, giao hợp mà: không có tinh thần nữa. Không có tình yêu
giữa hai con người thì chỉ còn là quan hệ giữa hai con vật”.
Thấy trời đã xâm xẩm, tuy
muốn tiếp tục nói nữa, nhưng thông cảm với tôi đi đường xa, anh giục tôi về kẻo
muộn.
Ngày 14 – 2 – 1982, 24 Điện
Biên
Trong lần gặp này, Xuân
Diệu nói nhiều chuyện rất tỉ mỉ về thời thơ ấu, thời học sinh của anh.
Anh nói: “Về tuổi thơ ấu,
tôi chỉ mới nói một chút. Cần lắm. Phong phú lắm. Tôi chưa viết hồi kí. Rất cần
tự mình phân tích những kỉ niệm tuổi thơ, rất có ích cho những thế hệ sau. Người
ta sống hời hợt lắm, không sống sâu bản thân mình, sống không có ý thức gì. Ta
chỉ lo giáo dục tư tưởng. Tư tưởng là lí trí thôi. Phải giáo dục tâm hồn, giáo
dục tinh thần nhân văn, nhân bản, humain. Tại sao chỉ nói bình thường mà vĩ đại
mới quý, bình thường mà sâu cũng quý chứ! Tôi mà chỉ được giáo dục về tư tưởng
thì tôi sẽ là anh hùng, không phải là Xuân Diệu, nhà thơ nữa.
Thời thơ ấu của tôi có biết
bao nhiêu chuyện nó luyện cho cái vốn nhân đạo, vốn yêu đời, yêu người, yêu hoa
lá, biển, thiên nhiên...
Thuở bé tôi hiền lắm, chả
bao giờ dám vùng lên. Cứ bị cái thằng anh kém hai tuổi nó bắt nạt mà chịu. Tôi
có thằng em ruột rất khổ, tôi đã viết trong Phấn thông vàng. Nó lêu lổng,
vagabond, bỏ nhà đi lang thang. Có một hồi đi phu ở Tây Nguyên. Giờ nó làm báo ở
Sài Gòn. Nó viết hồi ký. Giá Mạnh đọc được thì tốt lắm, hiểu thêm thời thơ ấu của
tôi. Nó sống lang thang, rách rưới như ăn mày, nay gọi là “bụi đời”. Nó đặt tên
tập hồi ký là “Gió cuốn bụi đời”, ngờ đâu lại thành đúng nghĩa bụi đời ta vẫn
dùng ngày nay.
Lúc nhỏ tôi ở với má ở Gò
Bồi là chỗ làm nước mắm, trại làm nước mắm của bà ngoại tôi. Sau ở với bố ở Văn
Quang, cách Gò Bồi độ 10 cây số. Thỉnh thoảng tôi có về bà ngoại. Tôi nhớ dì Bốn.
Dì ấy thương tôi lắm. Trông thấy dì ấy chắp nối những vụn nhiễu làm cái gối mà
tôi thấy phong phú màu sắc quá, rất thích.
Về sau khoảng 1939, tôi
và Huy Cận có đến nhà anh Nguyễn Xuân Khoát bói bài Tây. Anh Khoát bói cho tôi,
nói số tôi luôn có “protection des femmes” (được phụ nữ bảo hộ, bảo trợ). Giờ
tôi muốn tán phụ nữ, nịnh phụ nữ, tôi cứ nói số tôi có “protection des femmes”.
Vì thế tôi được dì Bốn
thương. Lúc dì ấy đi làm giúp cho mợ Mười tôi, xuống đò qua sông, tôi cứ khóc gọi
theo: “Dì đừng bỏ cháu đi lấy chồng!” Thực ra có phải dì ấy đi lấy chồng đâu.
Tôi có một bà mợ, mợ Năm
gì đấy cũng rất khổ. Một buổi nhà có khách, mợ Năm ra ngoài uống nước hay ăn gì
đó, thế mà bị cậu Năm mắng đuổi vào. Mợ ấy buồn vì bị mọi người hắt hủi. Một mợ
khác đẻ non rồi chết. Người ta nói tại mợ ấy trông thấy một cái hoa chuối có
trái nhưng cây lại chết nên không thành được buồng chuối. Mợ ấy đẻ non và chết
là vì thế.
Những người phụ nữ ấy gây
ra ở tôi ấn tượng rất tội về nỗi khổ của người đàn bà. Người đàn bà Việt Nam thời
trước khổ lắm. Cái gương mặt của họ nhìn thấy khó, thấy tối thế nào. Sau ngày
giải phóng, tôi có về Plâycu, dì Bốn tôi ở đó. Tôi có làm bài thơ về dì Bốn in
trong Hồn tôi đôi cánh. Tôi định làm một bài về mợ Năm, nhưng chưa làm xong.
Học xong cấp I, tôi lên
Quy Nhơn học, ở nhà chú tôi. Chú tôi làm thư kí đoan, thuê nhà ông Chín Cược.
Ông Chín Cược giầu lắm. Nhà có vườn rộng. Có cái giếng rất sâu. Có trồng thựơc
dược, hoa to, cánh xoà - “Vàng tươi, thược dược cánh hơi xoà”. Có hoa nhài bờ
giếng. Đêm trăng hoa nhài rất đẹp và thơm. Tôi như sống với những bông nhài.
Tôi cũng thích hoa huệ. Huệ trong Bình Định gọi là lan. Tôi làm thơ về hoa lan,
nhành lan như vút cao, bông hoa như chóng mặt vì ngợp. Sau vì muốn cả nước mọi
miền đều thông cảm được, tôi đổi thành hoa huệ “Nhánh vút làm cho bông huệ ngợp”.
Huệ trong kia không trồng ruộng hàng sào, bán hàng chục dò như ở Bắc.
Tôi thuở bé giỏi trèo cây
lắm. Trong vườn ông Chín Cược có cây ổi, mọc sau cái miếu, bên bờ tường đầy rêu
trơn. Thế mà tôi theo một thằng bạn tập trèo và trèo được. Trèo lên cao thấy cả
một thế giới mới lạ. Có một cành ở xa, có quả, tôi bò ra hái. Cả một thế giới mở
ra với đứa trẻ. Tôi còn trèo me, lấy được trùm me chín cho thím tôi muối và kho
cá trầu, thú vị lắm.
Tôi rất mê cải lương. Hồi
vào làm việc ở Mỹ Tho, tôi ở chính quê hương của cải lương, quê của Phùng Há,
Năm Phỉ. Năm 1932, cải lương ra Bắc. Một gánh cải lương thỉnh thoảng ra diễn ở
Gò Bồi, tại một cái chợ nhỏ. Mê lắm! Có một thằng bạn, nhà hiếm, gọi là thằng
Chó (tên thật của nó là Đức) rất có duyên, hát cải lương rất hay. ở Gò Bồi, mỗi
nhà có ghe bầu riêng, bán cá, bán nước mắm. Hàng đắt là do người bán có duyên,
khéo nói. Mẹ thằng Chó là người rất có duyên.
Tôi cũng học hát cải
lương. Có một cái gì ở trong linh hồn của điệu hát nó rất trữ tình, rất lãng mạn.
Hành vân, vọng cổ, tứ đại oán... mê lắm (Anh dừng lại hát cho tôi nghe mấy câu
tứ đại oán). Cải lương là tiếng nói của individu, khi mới ra đời nó có cái
mélancolie, một cái buồn khác cái buồn cũ. Nó là lãng mạn chủ nghĩa, đi trước
Thơ mới, Tự lực văn đoàn. Có cái đau xé. Cái đau đúc lại, cô lại rồi xé ra. Cải
lương có ảnh hưởng đến thơ tôi. Có cái xé lòng. Đúc lại, không thèm buồn. Đúc lại
trước khi nổ ra, vỡ ra.
Hồi đi học, tôi là một
cây hát trong lớp. Thích hát. Ai bảo là hát ngay: cải lương, ca Huế, sa mạc, cả
hát Tây “J’ai deux amours”. Nhạc vào thơ tôi ghê lắm. Nhạc mà vẫn giữ ý, giữ lời
nói, không âm nhạc chủ nghĩa.
Tôi có một ông chú người
Nghệ Tĩnh – trong Nam cũng gọi là người Bắc – hát sa mạc, kể sa mạc, tôi mê lắm.
Cứ phải lấy hai hạt thóc nhổ cho ông năm cái râu hay năm sợi tóc sâu mới được
ông hát cho nghe mấy câu sa mạc.
Nói đến đây Xuân Diệu
chuyển giọng nói với tôi như là kết luận cho câu chuyện của mình hôm ấy: “Mạnh
phải tích luỹ cho mình cái vốn nhân bản. Cái đó quyết định nội dung viết của
mình. Còn kiến thức thì cứ tích luỹ, thu nhận dần dần. Cái chính là phải có vốn
nhân bản, cái humanisme, thì sẽ làm ăn được nhiều. Đó là cái vốn để viết lâu
dài.
Tôi không thích giải
thích nhà văn, nhà thơ bằng môi trường. Môi trường không quan trọng gì lắm. Cái
quan trọng là khiếu bẩm sinh, cái chất người của nhà thơ, có cần gì môi trường.
Tại sao bao nhiêu người cùng môi trường mà không phải ai cũng thành nhà thơ?”
Anh tiễn tôi ra cửa. Vừa
đi vừa than phiền: “Bán óc giờ rẻ quá! Mà không ai có tiền mua. Mà mình cũng chả
có gì bán ngoài cái đó. Nhưng thôi, mỗi người sinh ra thế nào, bản chất thế nào
thì cứ thế mà sống thôi. Còn chuyện đời, chuyện chính trị chẳng biết thế nào, mặc!”.