VƯƠNG-TRÍ-NHÀN

P.Eluard (1895-1952) và đời sống văn học Hà Nội trước 1975

Nhận xét về sự hình thành  lớp nhà thơ tiền chiến, Hoài Thanh viết  “mỗi nhà thơ Việt hình như mang nặng trên đầu năm bảy nhà thơ Pháp’. Đối với sự hình thành sáng tác nhà thơ sau 1945, nói hẹp hơn là với lớp nhà thơ chống Mỹ, tình hình có phần ngược lại.  Ảnh hưởng, từ những cái to lớn như văn hóa thơ, cho tới  những gợi ý sáng tác--- chỉ đến với họ từ nền thơ trong nước, từ các bậc đàn anh;  số có hiểu biết về thơ nước ngoài đến mức như một nguồn mạch, một tác động trực tiếp gần như không có.
Có điều nhìn lại nền thơ lúc ấy, người ta vẫn tìm thấy những dấu vết những tiếng dội của thời đại nó hiện ra thành những mảng những khối những tên tuổi những câu thơ giọng thơ mà người làm thơ tiếp nhận và có mặt trong suốt hành trình của họ.

Một thời gian dài, văn học chủ yếu lấy cảm hứng từ nguồn xô viết và nguồn Trung quốc. Nhưng đó là ở tinh thần chung của văn học và xét về thể loại thì chủ yếu đó là văn xuôi. Còn thơ? Có thể nói một cách chắc chắn là ở đây,  không có một nền thơ nào có ảnh hưởng rõ rệt.  Tôi nhớ loáng thoáng:
-- các tập chung Tập thơ Liên xô, Về Diên An, Những nhà thơ da đen,  Thơ Tây Ban Nha ,  và có cả một tập Thơ Indonesia  nữa
            -- các tập về từng tác giả riêng thơ, S.Pétofi, R. Tagore, P. Neruda, Nazim Hikmet, L.Hughes      …
         Nếu chỉ căn cứ vào những cuốn sách, thì chỉ có vậy.
          May sao, bên cạnh sách, đời sống văn học bao gồm từ những bài viết, bài giới thiệu, những bài thơ dịch in lẻ tẻ trên các báo và tạp chí, số báo, cho đến câu chuyện hàng ngày, những suy nghĩ về thơ mà người trong cuộc thường trao đổi với nhau. Ở đây người ta có thể nhận ra có sự chênh lệch. Có những nhà thơ nước ngoài đã có sách in, nhưng tác động tới đời sống chẳng là bao. Ngược lại, có những nhà thơ được dịch rất ít, nhưng trong giới, ai cũng biết, cũng có ấn tượng như là mình có quen biết.
         Được can dự vào cái đời sống thơ dịch mong manh trôi chảy này những năm ấy, tôi  muốn nói đến hai tên tuổi hằn lên khá sâu trong ký ức khiến cho bản thân tôi, khi cùng với họa sĩ Nguyễn Quân làm tập Mười nhà thơ lớn của thế kỷ,(1982) phải lập tức ghi nhận, và đưa lên hàng đầu. Đó là  hai nhà thơ Pháp  L. Aragon và P. Eluard.
          Sự có mặt của Aragon không hoàn toàn xuôn xẻ. Ngay từ hồi kháng chiến cùng với việc dịch K. Simonov ( Đợi anh về ), Tố Hữu đã dịch Hành khúc của ông. Năm 1960, một tập Thơ Aragon được in ra, khá sớm so với mọi nhà thơ khác mà tôi đã kể trên. Nhưng chỉ vài năm sau thôi, sự tiếp nhận văn chương bị ảnh hưởng nặng về bao nhiêu chuỵện thời sự  lúc ấy đã hãm Aragon lại.
           Không chỉ là những câu thơ đưa tình yêu lên một thứ tuyệt đối mang tính chiếm hữu. Mà còn tiếng nức nở của một người thất vọng trước lý tưởng mình đã lựa chọn…Những yếu tố ấy đã ngăn cản không cho nhà thơ đến với chúng tôi nữa.
           Trong hoàn cảnh ấy, thì người đi cặp với Aragon là Eluard lại nổi lên như một cái gì mà người ta có thể chấp nhận ngay được.
             Một lần nào đó, sau khi tiếp một đại diện của Đảng Cộng sản Pháp lúc đó đến thăm Hà Nội, Tế Hanh kể với tôi là ông ta cũng chỉ nói đại ý Đảng Pháp có hai nhà thơ, một chết rồi coi như còn sống và một còn sống coi như đã chết.
            Người thứ hai là Aragon còn người thứ nhất là Eluard.
            Tế Hanh khuyên tôi không nên hiểu nhận xét quái ác này ở từng chữ một của nó, mà hãy chỉ nhớ rằng sau hết đây vẫn là nhà thơ quan trọng của nước Pháp mà cũng là của thơ ca hiện đại. Họ khác nhau và như đối trọng của nhau.
             Về mối liên hệ của Eluard với các bậc đàn anh trong thơ  chống Mỹ ở VN  lúc đó, tôi nhớ có mấy trường hợp :
              Trong Ánh sáng và phù sa, Chế Lan Viên có một bài ghi lại cái nức nở của một người muốn mang những tìm tòi hiện tại bổ sung cho quá khứ, sửa chữa quá khứ:
            Sau câu thơ hồi hộp những tâm tình
            Những vui buồn đời ký thác cho anh
             Câu thơ đập như qủa tim còn trẻ
             Mừng vui quá bỗng rưng rưng giọt lệ
            Như sáng mai xuân mà sương ướt đầu cành

             Tôi viết cho ai cho cả mọi người
              Nhưng rất gần cho những đứa em tôi
            Ngày đau khổ khép tay trong tủi cực
           Nay mở tay ra bến rộng sông dài
            Cho ai cũ thơ tôi làm ướt áo
             Nay họ về sưởi dưới nắng thơ tôi
      Bài thơ mang tên Nghĩ về thơ này đó có một dòng cạnh ghi chú ngay bên cạnh đầu đề  : Nhân đọc Eluard và Pòemes pour tous (Thơ cho tất cả mọi người ).
           Xuân Diệu không dịch Eluard nhiều, nhưng trong số các bài thơ dịch của Xuân Diệu, bài Cái chết tình yêu cuộc sống là một trong những bài hay nhất.
           Tế Hanh thì cố nhiên là người đã đóng góp nhiều nhất vào vào việc dịch và giới thiệu Eluard rồi. Có một  sự gần gũi  tự nhiên giữa bậc thầy thơ Pháp và Tế Hanh, gần hơn so với Xuân Diệu Chế Lan Viên. Có lẽ do  sự tự nhiên của thơ chăng?
             Từ 1958, trên tạp chí Văn Nghệ, Tế Hanh đã có bài viết về nhà thơ này mang tên Eluard dòng thơ bất tuyệt.
          Sau này trong tập Đẹp hơn nước mắt tuyển thơ kháng chiến Pháp, Tế Hanh cho dịch  của Eluard tới bảy bài.
           Trong thế hệ của tôi, hai nhà thơ thông thạo thơ nước ngoài hơn cả là Bằng Việt và Hoàng Hưng cũng là người đã có những bài thơ dịch Eluard đến mức hoàn thiện.
             Cái gì đã khiến cho Eluard đồng hành với cả một thời của các nhà thơ Việt Nam như vậy? Tôi tự hỏi và tự trả lời cho mình thế này. Aragon quá dằn vặt quá phức tạp. B. Brecht qua trí thức và đầy nghịch lý. P.Neruda ngổn ngang như thiên nhiên đồ sộ. Nazim Hikmet dẫu sao cũng là một giọng điệu mới, ở nhà thơ Thổ này cũng như ở nhà thơ Cu ba N. Guillen, có một thứ giản dị mà chúng tôi còn chưa quen, nên phục thì phục thật, nhưng không tính chuyện có thể học theo để viết một cái gì của mình.
             Chính trong cái nền đó mà Eluard nổi lên. Một cái gì thuần khiết trong trẻo. Một tiếng nói trầm tĩnh vì hình như những điều định nói là chuyện đương nhiên rồi không có gì phải cao giọng, thơ lại khá hồn nhiên và  như là ô –tô – ma – tích, là tự động mà tuôn chảy nữa, một bài thơ như Tự do cứ như là tràn ra, viết liền một mạch là xong .
           P.Neruda viết khi nghe tin Eluard mất “Tôi tưởng như còn thấy ông đang sống, luôn luôn ở bên cạnh tôi. Ánh sáng chói lọi như một thứ bắc cực quang không bao giờ tắt trong đôi mắt ông. Ông liền xương liền thịt với nước Pháp, mảnh đất  ở đó những rễ và những cành nguyệt quế kết lại làm nên một thiên nhiên sực nức thơm tho. Đá và nước nâng bước ông đi. Dồn tụ cả vào ông ánh sáng ngàn năm -- những tổ chim, những bông hoa và những bài ca trong suốt.
          Vâng, trong suốt,  đó chính là  chữ tôi tìm thấy. Thơ ông là đá thạch anh. Thơ ông là ngụm nước ngọt lịm trong cái thoáng nước thấm vào cổ họng.
          Còn theo V. Nezval, “Eluard là người biết nói một cách giản dị nhất trực tiếp nhất  về một thứ chủ nghĩa nhân đạo phức tạp “.
          Vậy là Eluard đến với chúng tôi cứ như là đã hẹn trước…
          Dưới đây là hình ảnh con người và thơ  Eluard qua cái nhìn của nhà văn Nga từng là một trong những cầu nối giữa văn hóa phương Tây, văn hóa Pháp với văn hóa xô viết -- là I.Ehrenburg.
        Những năm sáu mươi của thế kỷ trước, ở Hà Nội, các nhà văn lớp trước  truyền tay nhau không chỉ một số tác phẩm văn học văn học xô viết  dịch ra tiếng Pháp  mà còn một số tác phẩm văn học Pháp do Nhà xuất bản Ngoại văn  Moskva  tuyển lựa và cho in.  Bài viết của Ehrenburg (nguyên văn tiếng Nga) – là lời giới thiệu dành cho tập Thơ Eluard  trong xê-ri sách nói trên.
                   
Eluard trong mắt Ehrenburg


Những người đã trải qua những năm chiến tranh ở vị trí tiền tiêu hẳn biết những người lính đã bồi hồi như thế nào giữa hai loạt đại bác, trong khoảnh khắc yên lặng xa vắng, trên đồng nội lảnh lót một vài tiếng chim. Eluard phải sống và viết trong những khung cảnh rất ồn ào, người ta phải nghe từ tiếng loa phóng thanh oang oang đến tiếng còi ầm ĩ, tiếng bom đưa dậy đất. Lịch sử lên tiếng và hình như chỉ có máy điện tâm đồ mới phân biệt được nhịp đập trái tim người. Eluard không tự tách mình khỏi thời đại, không chui vào một góc kín. Nhà thơ tham gia kháng chiến, đấu tranh cho hoà bình, nhiều bài thơ của ông dội thẳng vào những vấn đề mà mọi người phải làm quen. Nếu như thơ của Eluard đã làm rung động và sẽ làm cho những người đương thời rung động thì chính bởi đó là thứ thơ yên lặng, trong thơ không hề muốn nói to hơn thời đại, trong thơ lúc nào cũng nghe thấy giọng nói của một con người.
Những bài thơ đầu tiên của Eluard được in trong những năm nước Pháp vất vả trải qua cuộc chiến tranh mà nhiều người tưởng là cuộc chiến tranh cuối cùng và bây giờ ta gọi là chiến tranh thế giới thứ nhất.
Năm 1918, ông viết Trường ca hoà bình. Đây là mấy dòng: Tất cả những người phụ nữ hạnh phúc lại nhìn thấy người chồng. Họ đã quay về như mặt trời, đầm ấm biết bao. Họ cười, họ nói thầm thì nói xin chào trước khi gặp gỡ niềm vui, ôm ấp.
Và không lâu trước khi chết, năm 1951, ông viết:
Con người sinh ra để hiểu nhau, để yêu nhau, để có những đứa trẻ gọi họ là cha. Họ có những đứa trẻ khi lạnh lẽo bước đi giữa thế giới lại phát hiện ra lửa, ra con người.
Suy nghĩ về sự phát hiện ra lửa, từ cổ Hy Lạp đã lay động tâm tưởng nhiều nhà thơ, lại sống dậy trong thơ Eluard. Ngay từ hồi còn ở mặt trận ông đã viết: Trời xanh bỏ tôi rồi, tôi nhóm lửa.
Tôi đã dẫn thơ Eluard dịch ra văn xuôi. Tất nhiên có mất mát đi nhiều tôi có lo. Nhưng cái làm tôi sợ hơn vì chắc là sẽ mất mát nhiều hơn, là dịch ra văn vần.
 Có những nhà thơ ưa dịch có thể dịch ra ngôn ngữ khác không những tư tưởng hình tượng mà đôi khi cả những thủ pháp biểu hiện. Có thể chuyển những dòng thơ của Maiakovski ra bất cứ thứ ngôn ngữ nào.
Ngày sặc sỡ vụt qua
Năm tháng kéo xe bò chầm chậm.
Ở đây có cả hình tượng lẫn thủ pháp, những từ chỉ có một nghĩa dứt khoát, ngắn gọn. Nhưng đây, những dòng của Puskin
Tôi nhớ lại những phút giây kỳ diệu
Khi trước tôi hiển hiện hình em
Như bóng dáng vụt qua phút chốc
Như bài ca vẻ đẹp êm đềm
Dịch ra tiếng khác, những câu thơ kỳ diệu này dễ trở thành một thứ láu lỉnh tầm thường tệ hại.
Nhiều nhà thơ Nga từ Briussov đến Pasternak đã thử dịch câu thơ của Verlaine: "Tim tôi khóc lên như cơn mưa đang qua trên thành phố. Chẳng biết nó là thế nào cái nỗi buồn đó, nỗi buồn đang tràn ngập trái tim tôi."
Sự tình là ở chỗ này: cái diệu kỳ của những vần thơ vừa dẫn là ở sự kết hợp dễ dàng nhất của những từ bình thường và nó trở nên không ra làm sao trong ngôn ngữ khác.
Trong bản dịch xuôi, người đọc có thể biết ý nghĩa chính xác những dòng thơ Eluard đã viết và có thể tưởng tượng những câu thơ đó trong nguyên văn vang lên một cách hồn nhiên nhất, trở thành thơ.
Đương nhiên ngay ở nguyên văn, đối với những người không quen cảm thụ thơ, thơ của Eluard cũng có vẻ không có gì khác với văn xuôi. Ông cố gắng để thơ mất đi cái vẻ ngoài thi vị của nó. Trong thơ ông không có chỗ cho những quy tắc những vần những niêm luật. Nó chỉ cố kết trong nhịp điệu và sự gắn bó  kín đáo của ngôn từ.
Có những nhà thơ học được cách mô tả sự vật một cách khéo léo cùng là nắm được những thủ pháp thơ ca khác nhau. Họ tìm mọi cách để chuyển văn xuôi ra thơ. Eluard trong thơ khó khăn rất mực và đồng thời lại giản đơn như trẻ nhỏ, khi trẻ nhỏ cởi mở tưởng đang tự thú với mình.
Có những nhà thơ hội hoạ, họ vận dụng sức mạnh của những gì nhìn thấy, thơ họ loá lên những hình tượng. Thuộc loại này trong văn học Pháp là Hugo, những người trong nhóm Parnasse, Baudelaire, Rimbaud, và trong số những người đang sống là Aragon mà ta quen biết. Maiakovski cũng nổi bật lên giữa những nhà thơ Nga với lối biểu hiện gần hội hoạ vậy.
Có những nhà thơ bản lĩnh tâm tình thuộc loại khác. Họ chẳng bao giờ chỉ dẫn kêu gọi, họ chỉ kéo ta đi như âm nhạc. Thơ của họ không tách rời khỏi sự quyến rũ mầu nhiệm của ngôn từ.
Sinh thời, Eluard rất yêu hội hoạ. Với người bạn gần gũi nhất của ông là Picasso, ông rất gắn bó. Họ cùng nhau ra sách người dùng lời người vẽ. Nhưng thơ Eluard lại ít chất hoạ. Hiếm lúc nào thấy ông đi vào những hình tượng có tính chất tạo hình. Cách nói của ông luôn đơn giản, và hơn thế nữa, hồn hậu. Kể ra là những ví dụ sau đây:
- Chúng ta đi bên nhau, cầm tay nhau. Ta tưởng như khắp nơi là nhà của ta, dưới bóng cây dịu dàng, dưới bầu trời xanh, tất cả mái tranh, giữa phố xá vắng vẻ vì mặt trời oi nóng, một người bộ hành lơ đãng nhìn ta, giữa những người tốt bụng và những chàng ngốc. Tình yêu chả có gì bí mật hết. Chúng ta được mọi người hiểu, mọi người mến yêu, bởi vì họ như những người khách của ta vậy.
- Làm sao bây giờ, cửa đóng lại. Làm sao bây giờ, chúng tôi bị giam bên trong. Làm sao bây giờ, đường phố bị bao vây. Làm sao bây giờ, thành phố đầu hàng. Làm sao bây giờ, thành phố đói, chúng tôi chả còn vũ khí. Làm sao bây giờ, bắt đầu đêm. Làm sao bây giờ, chúng tôi yêu nhau.
Eluard nắm rất vững ý nghĩ của ngôn từ. Trong bài thơ về G. Péri ông viết: Có những tiếng giúp cho ta sống, đó là những tiếng đơn giản: tiếng ấm và tiếng tin, tiếng sự thật và tiếng tự do, tiếng trẻ con và tiếng người yêu, và một số tên gọi hoa và cây. Từ dũng cảm và từ phát hiện từ anh em và từ đồng chí, tên một số thành phố và làng mạc, tên một số phụ nữ và bè bạn. Và bây giờ trong đó thêm vào từ Péri.
Eluard  rất ghét những từ hoa hoè hoa sói và mặc dầu viết về những đề tài có sức kích động lòng người, ông vẫn chịu không thích được những từ kêu to quá đáng. Bài thơ Tự do ông viết trong những năm kháng chiến được hàng triệu người Pháp quen thuộc. Ông bảo: tôi viết tên tự do trên căn nhà đổ của tôi, trên ngọn hải đăng sụt vỡ của tôi, trên bức tường những nỗi buồn của tôi.
Những thang bậc trữ tình này rất gắt, ông lại phải làm dịu bằng những câu bình thường đơn giản : Trên con chó của tôi dịu dàng và dễ bảo, trên cái tai nghe ngóng thận trọng của nó, trên cặp chân vụng về của nó, tôi viết tên em : tự do.
Ông hiểu biết thơ ca một cách sâu sắc không thể tưởng. Ông đã soạn tuyển tập thơ Pháp, thơ Baudelaire, ông rất thích thơ Anh, thơ Tây Ban Nha, ông có thể nói như một nhà thông thái, một học giả, nhưng tính chất bác học, sự cách điệu, những từ ít dùng, giọng điệu kỳ cục... những cái đó không được phép có mặt trong thơ ông.
Năm 1924, trong giới văn học Paris người ta nói rằng nhà thơ Eluard thình lình mất tích. Quả thật trong một thời gian dài không ai được tin tức về Eluard thật. Nội tâm khủng hoảng, ông đi du lịch qua Haiti, Panama, đến Tân Tây Lan về Indonesia, Sri Lanca. Sẽ uổng công nếu tìm trong thơ ông dấu hiệu bề ngoài của chuyến đi này. Từ phong cảnh bên đường tới những tên gọi quái lạ không bao giờ thấy trong thơ ông. Ông vui vẻ cắt nghĩa rằng ông đi không phải vì một say mê thơ ca nào cả.
Trong văn học Pháp, cũng như văn học Nga, chúng ta biết có nhiều nhà thơ thích nói những chuyện không ai biết. Đó vừa là phương tiện làm cho những câu thơ nhạt phèo sống lại, vừa là những vần thơ mới. Eluard chỉ dùng những từ bình thường nhất, nhưng biết để nó vang lên một cách đặc biệt và tìm thấy trong đó sức mạnh của thơ.
Tất nhiên thơ Eluard có khó đối với người đọc. Gây ra khó khăn chính là ở sự đơn giản, đôi khi là quá chắt lọc trong một số bài thơ... Sợ hãi thừa lời thừa chữ, Eluard đặc biệt vào cuối những năm hai mươi đi đến một sự cô đọng đến nỗi một số dòng gần như là bí hiểm.
Giống như nhiều người đương thời ở Pháp đi theo con đường của Apolinaire từ chối mọi dấu trong thơ, vì cho rằng nó làm hỏng nhịp điệu do đó làm khô héo thơ, Eluard cũng làm thơ không có chấm phẩy, nhưng lại nổi lên với cái chất trần trụi trong suốt rất hiếm có. Hình ảnh, nhiệt tình, đương nhiên nhờ đó được lĩnh hội một cách dễ dàng hơn. Lermontov từng viết:
Có những cách nói
Tối tăm hay không rõ nói gì
Nhưng không thể không cảm động
Hay không chú ý tới chúng.
Thơ Eluard không thể nói không có ý nghĩa gì. Nhưng đôi khi có thể dùng từ "tối tăm" và nếu không một chút cảm động thì không thể tiếp nhận. Những nhà phê bình thích nói về sự phổ biến, trong những năm hai mươi ba mươi đã gọi thơ Eluard là thơ của độ trăm người đang yêu nhau.
Điều đó có đúng bởi vì rằng, thơ Eluard lúc đó còn chưa phổ biến rộng trong độc giả.
Đại chiến thế giới thứ hai bắt đầu, hàng ngàn người Pháp chép lại những bài thơ của tác giả mà họ chưa quen. Với những vần thơ này, những con tin đi ra pháp trường và những người du kích vào trận chiến đấu. Nhà thơ của một trăm người đang yêu đã trở nên dễ hiểu và được mọi người hiểu.
Có thể cho rằng thơ Eluard thay đổi, rằng ông đã viết theo một kiểu khác. Thường khi viết về những nhà thơ đi đến chủ nghĩa cộng sản, người ta chú ý làm nổi bật ngày tháng rẽ ngoặt trong sáng tác của họ: trước ngày tháng nào đó anh ta viết về tình yêu và viết rất khó hiểu. Từ ngày tháng nào đó, anh ta thay đổi và bắt đầu viết cho mọi người theo tinh thần công dân.
Sự phân chia ấy có tính chất đơn giản và không sao áp dụng được với Eluard. Trong sáng tác của ông không thể tìm thấy bước ngoặt. Ngược lại có thể thấy một đường dây nối thẳng giữa những bài thơ đầu và những bài thơ của ông viết trước khi chết.
Tất nhiên có những tư tưởng mới, những chủ đề mới và những hy vọng mới do cuộc sống mang lại. Nhưng ngay trong thơ Eluard thời trẻ đã có thể thấy tinh thần căm giận chiến tranh, căm giận phi nghĩa, căm giận những gì đè nén con người. Còn chủ đề tình yêu thì đến cuối đời, mình ông đâu có chịu từ bỏ.
Ông viết những bài thơ đầu tiên khi còn là một người lính. Quyển sách đầu tiên của ông mang tên Trách nhiệm và sự trăn trở. Ông viết : "Chiến tranh vào những ngày mùa đông chẳng gì vất vả hơn". Ông giận dữ vì những kẻ đã để cho người lính Finand Paulchen bị chết. Những chủ đề như thế có thể thấy trong thơ ông một phần tư thế kỷ về sau. Trong tập thơ cuối cùng Phenix, ông viết về người phụ nữ: "Em ra đi anh buồn hết sức. Anh kêu Ôi, chỉ với em, anh mới có thể kêu Ôi cuộc đời".
Những chủ đề mới không che lấp những chủ đề trước kia và Eluard không bao giờ từ bỏ những cuốn sách đầu. Ông có những bài thơ đặc biệt, những bài thơ luận chiến được viết vào năm 1949 - và tặng "những người bạn thích yêu cầu cao của tôi" - ý ông muốn nói những ngưòi yêu thơ ông mà lại không muốn công nhận những vần thơ chính trị của ông. Nếu tôi nói với anh rằng trên một chiếc cọc màn giường tôi có bện một chiếc tổ chim và không bao giờ tôi nói ôi thì anh tin tôi và hiểu nỗi buồn của tôi. Nhưng nếu tôi ca ngợi phố xá, ca ngợi cái khu tôi ở thì anh không tin tôi nữa. Nhà thơ trách người bạn mình vô lý còn chính ông chẳng có gì thay đổi cả. Ông tiếp tục nhớ đến những loài chim làm cho ông buồn trong những giấc mơ. Hai năm sau trong tập Phenix những con chim này lại kêu "ôi".
Quá trình làm thơ của Eluard gây khó dễ cho những nhà phê bình chỉ quen với những phạm trù rõ ràng: trong một thời gian dài Eluard là người cổ động cho thơ siêu thực ở Pháp. Cuộc đấu tranh chống lại những hình thức hàn lâm trong văn học và đạo đức tiểu thị dân bắt đầu từ nửa sau thế kỷ mười chín. Đến thời Eluard bước vào văn học, mục đích mà Baudelaire, Rimbaud, Apollinaire đặt ra vẫn chưa thực hiện hoàn toàn. Nhưng thời của những chủ nghĩa khác nhau đã hết, siêu thực hình như là cố gắng cuối cùng muốn áp dụng vũ khí của thế kỷ cũ để chống lại kẻ thù... Sau tấn thảm kịch Tây Ban Nha, Eluard nhanh chóng hiểu rằng phải tiến hành một cuộc đấu tranh khác và ông đã dũng cảm tiến hành cho đến cuối đời.
Với ông, chủ nghĩa siêu thực đồng thời có nghĩa là sự xác nhận vị trí của thơ ca trong đời sống, giúp cho sự đổi mới hiện thực, thay xã hội tư sản bằng một xã hội khác xứng đáng với con người hơn. Trong việc chọn lời, phối ý, sự tinh tế đầy chất thơ luôn luôn dắt dẫn ông y như những lô gích nghiêm khắc. Do đó chủ nghĩa siêu thực đối với ông không phải là một ngôi sao dẫn đường không phải là một sai lầm ngẫu nhiên, mà là một pha, một chặng đường phát triển.
       Khi những thử thách ập đến, trong hàng ngũ siêu thực phân hoá làm hai, một bên Aragon, Eluard bên kia là Breton. Năm 1936, Eluard viết:
"Đã đến lúc tất cả các nhà thơ phải tuyên bố ngay từ đầu rằng họ đi sâu vào đời sống của mọi người, đi sâu vào đời sống xã hội. Và điều này không làm ai ngạc nhiên cả".
Thơ Eluard luôn luôn gắn bó với xã hội mà nhà thơ sống. Với tất cả sức lực có thể có, thơ Eluard vang lên như là biểu hiện của tư tưởng và cảm giác của nhân dân Pháp trong những năm dưới ách chiếm đóng của bọn phát xít cũng tức là những năm kháng chiến. Năm 1942, Thơ và sự thật ra đời, nhanh chóng hàng triệu người lặp lại: Tôi sinh ra để biết em, để gọi tên em, tự do.
Ông tham gia kháng chiến, tổ chức nhà in bí mật, làm bất cứ việc gì được giao, đi khắp nước Pháp với truyền đơn trong túi và những vần thơ sắp sửa bật dậy trong tim. Có một dạo để trốn tránh bọn Gestapo, ông phải vào trú ở nhà thương điên gần St. Alban. Hai tháng trời sống giữa những người bệnh tật bất hạnh trên một núi tuyết giữa bão tố và bốt thù, ông đã làm việc đều đặn. Ở đó ông đã viết về cuộc sống đấu tranh, về hy vọng và hạnh phúc.
Chiến tranh kết thúc nhưng nhiều người vẫn sống trong lo âu chưa hẳn có hoà bình. Eluard hiểu rằng một nhà thơ đồng thời là một chiến sĩ cộng sản như ông không có quyền nghỉ ngơi. Ông lại tranh đấu cho hoà bình. Có thể nhìn thấy ông trong nhiều cuộc hội nghị ở Pháp, ở Ý. Trong thời gian nội chiến ở Hy Lạp, ông cùng với Ive Farge đi vào những khu vực quân giải phóng vừa chiếm được. Cũng như Tây Ban Nha năm 1936, Hy Lạp năm 1949 lại xáo động trong tấm lòng trong sạch, thiện cảm và ý chí ngoan cường của ông.
Nếu đặt thơ Eluard viết về đề tài chính trị cạnh thơ trữ tình của ông, người ta không thấy có sự đứt quãng. Khi ông nói về các chiến sĩ du kích, về những người tham gia bảo vệ hoà bình vẫn thấy sống dậy cái tinh thần và những cảm giác nó thấm thía trong những bài thơ ông viết về nỗi buồn, về tình yêu, về cái chết.
Cái gì đã báo hiệu con đường chính trị của Eluard? Trước hết là nỗi khao khát không nguôi: chính nghĩa. Baudelaire đã viết rằng thơ ca chân chính là sự phủ nhận những gì phi chính nghĩa. Baudelaire  sống trong một thời tranh tối tranh sáng và tất cả đời sống nhà thơ chứa đựng những mâu thuẫn sâu sắc. Đời Eluard không tách khỏi thơ ông. Ông thật sự đau khổ vì những cái không chính nghĩa, không những như một công dân, mà còn như một nhà thơ. Không kém gì chính nghĩa là tự do mà ông yêu, giữa hai thứ đó không có gì mâu thuẫn mà lại ràng buộc lẫn nhau. Hơn tất cả những người đương thời khác, với ông, có thể dùng câu của Puskin: "trong cái thế kỷ khắc nghiệt của tôi, tôi ca ngợi tự do".
Sự lương thiện không phải là một đặc tính bắt buộc của thơ ca. Chúng ta biết có nhiều nhà thơ nổi tiếng tốt, dũng cảm, thông minh, nhưng đã mất sự lương thiện một con người phải có. Eluard không những lương thiện trong đời sống mà còn lương thiện trong thơ. Trong một bài thơ nói về tình yêu, ông viết: Vì chúng ta yêu nhau, chúng ta muốn giải phóng những người khác khỏi sự giá lạnh đơn độc, chúng ta mong để tôi không chỉ nói tôi muốn mà còn nói anh muốn, chúng ta muốn, để ánh sáng chan hoà với những người khác. Hạnh phúc của người khác với Eluard không chỉ là một quan điểm triết học, một nguyên tắc đạo đức, một điểm trong cương lĩnh chính trị, mà còn là một yêu cầu cá nhân có ý nghĩa sâu xa.
Tất cả những người đã gặp ông đều biết khó lòng tìm thấy sự thống nhất giữa một nghệ sĩ và sáng tác của nghệ sĩ đó như sự thống nhất giữa thơ và đời sống trong Eluard. Ông mang tất cả mình vào thơ, thơ đối với ông luôn luôn là một thứ lý lịch cá nhân. Ông khiêm tốn đặc biệt, tránh xa mọi thứ hư vinh. Dịu dàng, mau mắn, ông sống trong tình yêu của tất cả những người mà ông đã gặp. Ông không phải là loại nhà thơ phù phiếm bay mãi trên mây trên gió. Ông tham gia vào cuộc sống, nhìn thấy mọi chi tiết vặt vãnh của nó, nhưng không bao giờ từ bỏ mơ ước lớn của mình.
Eluard mất ngày 18-11-1952. Không có gì quá khi nói rằng nước Pháp và thơ ca thế giới cay đắng chịu đựng tổn thất này. Trong đám tang Eluard có thể tìm thấy những người rất hiểu về thơ, những đại diện của nước Pháp sáng tạo, và cả những người bình thường nhớ đến thơ Eluard trong những năm chiến tranh như nơi gặp gỡ của tinh thần dũng cảm và nghệ thuật.
        ...Thơ Eluard là một bằng chứng sinh động chứng tỏ thơ sống, yêu cầu, đau đớn, khỏi, và tự nâng mình lên.

Mấy bài thơ Eluard
 Với lòng ham mê khó cưỡng, khi đọc các bản dịch Eluard ra tiếng Nga, chúng tôi đã làm cái việc tự nhiên là chuyển nó sang tiếng Việt cho mình dùng. Khi tính chuyện công bố các bài thơ ấy với bạn đọc, tôi hiểu rằng tôi đã đánh liều với dư luận. Nhưng các bạn hiểu cho, đây là những trang blog cá nhân. Tôi không dám lạm dụng tình yêu của các bạn với Eluard mà chèo kéo mời mọc. Tôi chỉ nghĩ, may ra,  biết đâu, cũng có một vài bạn tò mò muốn biết, vậy là tôi đã mãn nguyện lắm.   

Các bài không ghi rõ xuất sứ, và tôi hoàn toàn có ý thức rằng mình chưa đủ trình độ để có thể đạt tới sự chính xác cần thiết. Xin phép gọi đây là các bản phỏng dịch. Vì lòng yêu Eluard và sự lưu luyến đối với một thời thơ dịch mà bản thân có tham dự, xin được kính trình các bạn .

***
Tôi nghiêng đầu ghé sát vào cửa kính, như một tên lính gác những nỗi buồn
Và dưới tôi, mãi dưới, trời đêm
Trong bàn tay tôi cả đồng bằng nằm gọn
Chìm trong nỗi tẻ lạnh của những chân trời lửa đôi, tôi nghiêng bên tấm kính

Đi tìm em, tôi đi suốt sự đợi chờ
Đi suốt chính mình
Tôi yêu em, đến nỗi rằng không biết
những cái gì lớn hơn thân thiết
Còn thiếu ở đây


Sớm mai
Tôi mơ thấy một con đường trống vắng
Em đi trên con đường đó đơn độc
Tôi nghe bước chân em như những con chim nhảy nhót
Thức dậy trong những lớp sương trong suốt

Trong cánh rừng xanh và ẩm ướt
Bình minh duỗi dài
Và những hàng cây nở nang
Em mang ngày tới

Hình như tất cả là bình thường
Những ngày hè bình thản
Tôi ngủ như một đứa trẻ
Và em thức dậy trong bình minh
Và em làm quà cho tôi
Tuổi trẻ vô tận

Cô độc
Tôi sống trong cô độc
Không em
- Ai nói điều này?
Ai có thể sống không em?

Ai đó không đơn độc
Ai?
Cuộc sống ruồng rẫy số phận?
Cuộc sống ruồng rẫy em?
Đêm đến dần
Những tảng băng trong suốt
Tôi tan dần trong đêm

Từ những lời trong suốt đầu tiên

Từ những lời trong suốt đầu tiên,
 Từ nụ cười đầu tiên của thân thể em
Con đường xa vắng biến mất
Cuộc sống lại bắt đầu

Những đoá hoa e lệ,
những đoá hoa bình thường của trời đêm
Những cánh tay run rẩy kết lại
Những cánh tay con trẻ
Những cặp mắt như hướng cả về em
và ngày trên mặt đất bắt đầu

Tuổi trẻ bí mật đầu tiên
Niềm vui sướng đầu tiên
Cái nôi của đất và những giọt sương và những mùi thơm
Không tuổi tác không thời gian không ràng buộc
Không sự quên lãng không có bóng tối


Và nụ cười
Trên thế gian này không có những ban đêm không ánh sáng
Anh cần phải tin tôi nếu như tôi nói vậy
Nếu như tôi xác nhận
Rằng luôn luôn cả ở trong nỗi buồn như bóng tối dày đặc
Cũng có cái then hờ cái cửa sổ đầy ánh sáng

Trên thế giới vẫn sẵn có ước mơ
Có những mong mỏi cần được thực hiện
Có sự đói, cần phải làm no
Trên thế giới có những trái tim tốt lành
Những bàn tay hy vọng nắm chặt nhau
Và những đôi mắt chăm chú
Và có cuộc sống mà ta muốn

San sẻ cùng ai đó


Lòng tin
Nếu tôi nói với em gì đó
Đó là để nghe em rõ hơn
Nếu như lắng nghe em
Tôi tin rằng tôi sẽ hiểu em
Nếu như em cười với tôi
Đó là để tôi thêm mê mẩn
Khi chia sẻ với nhau tiếng cười
 Chúng ta chia sẻ cả thế giới
Nếu như tôi ôm lấy em
Đó là để thơ tôi không bao giờ cạn
Nếu như chúng ta sống với nhau
Mọi điều trên đời thật tốt đẹp
Và khi chia tay em
Chúng ta nhớ nhau trong cách xa
Và khi chúng ta xa nhau

Chúng ta lại tìm nhau

Giữa cuộc tàn sát
Đêm nay nằm ở Paris
Sự yên lặng lạ kỳ
Sự yên lặng mắt không nhìn thấy
Sự yên lặng của những giấc mơ không màu
Gõ vào từng mái nhà
Sự yên lặng của những cánh tay biếng lười
Sự yên lặng của những vầng trán khô khỏng

Người đàn ông ra đi
Người đàn bà ở lại
Nghèo đói, không nước mắt
Đêm nay nằm ở Paris
Và nằm giữa trái tim trong trắng của nó
Sự yên lặng kỳ lạ
Và những tia thù hận nhấp nháy trong đêm
Hãy tới bọn đao phủ chọn cho mình cái chết
Một cái chết chính nghĩa


***
Loài người có những quy luật đúng đắn
Nho biến thành rượu vang
Lửa bốc dậy từ than
Từ những cái hôn, ra những cô bé cậu bé


Với con người, có những quy luật cay độc
Ta bảo vệ sự trong sạch, mặc dù
Chiến tranh và khổ cực
Dù cái chết bẩn thỉu đang rình

Có những quy luật có tình
Làm ánh sáng từ nước sông (?)
Từ mơ ước thành hiện thực
Từ quân thù đáng nguyền rủa, ra người bạn.

Đó là những quy luật xưa cổ
Đó là những quy luật mới phát hiện
Nó lớn lên từ trái tim trẻ nhỏ
Cho ta sự thông minh cao cả của mọi thời gian


Một chút đổi thay
Vĩnh biệt nỗi buồn
Chào nỗi buồn
Người được viết trên đường dây
Người được viết trong cặp mắt tôi yêu
Người không phải là tai hoạ
Vì cái miệng tham lam nhất trên đời này sẽ được thay thế
Bằng nụ cười
Xin chào nỗi buồn
Tình yêu thân thể
Cái mênh mông của một tình yêu bất tận
Sự dịu dàng của người sinh ra bất ngờ
Như một sự diệu kỳ không ai hình dung ra vóc dáng
Cái đầu cứng cỏi
Là nét mặt của nỗi buồn tốt đẹp

Chính sự dễ dàng
Sự dịu dàng của em khả năng gây ngạc nhiên của em,
sự kiêu hãnh mềm mại
Địa lý kỳ diệu của cái nhìn và sự êm ái
Phép mầu hữu cơ
Sự hoà trộn của tay và mắt
Cỏ và tuyết
Cỏ và mùa xuân
Cơn rùng mình thoáng qua của biển do sự va động của mưa
sự trộn lẫn của yên tĩnh và sự trong sáng thần kỳ của em 
Gió mang lại cho làn môi hương vị của tuổi trẻ
Và những cái hôn xa
Gió -- cánh tay ai đó, em cảm thấy dưới áo!

Sự chính xác của trái tim con người
Ôi, sự chính xác của trái tim con người
Tất cả màu sắc của vẻ đẹp
Những hình thức trau chuốt
Và một ngàn cách thức khác
Chỉ là để
Đi thẳng tới mục đích
Sự chính xác
Của bước đi không mệt mỏi qua cánh rừng
Những cái hôn và lời nói ngẫu nhiên
Sự vững vàng của lẽ sống
Thốt ra trên miệng người đàn ông và người đàn bà
Và sự kỳ dị của hình dáng đám mây
Không vượt ra khỏi đường viền đám mây đó

Có thể nói hết
Tôi cần phải nói tất cả - về những bờ dốc và con đường
Về phố xá, về người đi qua, về cánh đồng và người chăn súc vật
Về cái chồi đầu tiên của mùa xuân về mùa đông rỉ nát
Về cái lạnh và cái ấm, đẻ ra những quả chuông
Tôi muốn chỉ ra cả dân tộc - và chỉ riêng mỗi người
Và kẻ nào mang cho họ đôi cánh, kẻ nào gieo nỗi khổ
Và mỗi lứa tuổi con người, và những cái được con người chiếu rọi
Hy vọng và máu, lịch sử và lo toan của họ
Tôi muốn chỉ ra đám đông lớn lao và bần cùng
Bị phân ra các nơi như người chết trong nghĩa trang
Và đám đông mạnh hơn những cái bóng lẻ
Đám  đông đạp đổ tường đá, chiến thắng bọn chủ của mình
Chỉ rõ sự ràng rịt của cây lá, sự ràng rịt của những bàn tay anh em
Những bước thận trọng của con thú chưa ai từng biết
Sự ẩm ướt phì nhiêu của sông và sương ướt
Sự chính nghĩa trong việc canh giữ và cái rễ sâu xa của hạnh phúc








أحدث أقدم