VƯƠNG-TRÍ-NHÀN

Đặt Huế trong khung cảnh đất nước thời hậu chiến

 Mấy đoạn ngắn tôi ghi về Huế từ tháng chạp 2013 

và đưa trên trang Fb cá nhân ngày 23 – 05 – 2016 

***


ĐẸP NGHĨA LÀ HÀI HÒA

Cảm giác chung của tôi, đây là một thành phố cân đối, hài hòa:

- Hài hòa giữa sức chứa, cái không gian được dựng nên và số lượng dân cư.

- Hài hòa giữa mong ước của con người và cuộc sống trước mắt.

Tôi muốn nhấn mạnh vì đó là đặc tính ngược với tình hình chung ở Việt Nam. Người Việt đang sống như tràn ra khỏi không gian mình ở. Người Việt đang sống trong hoàn cảnh chỉ chạy theo nhu cầu trước mắt, còn những mong ước chân chính ngày một xa vời và càng tiến lên trong cuộc sống trước mắt thì càng xa lạ với những mong ước chân chính đó.

Trong dịp này, tôi ngẫu nhiên mang theo quyển sách « Những bậc kỳ tài » của A. Maurois, do Huỳnh Phan Anh dịch.

Tôi đọc được trong đó một câu của Goethe: “Thà sống trong bất công còn hơn là sống trong xáo trộn.”

Đọc cả đoạn thấy ý của Goethe là muốn phủ nhận sự cần thiết của những cuộc cách mạng bởi việc đầu tiên của cách mạng là xáo trộn. Tôi không dám bàn tới chuyện xáo trộn trên phương diện xã hội lịch sử mà chỉ cảm thấy ở Huế đây nơi tôi đến rất xa lạ với mọi sự đảo điên lộn tùng phèo ấy.

Con người ở đây như muốn nói thà nghèo khó còn hơn giàu có mà lăng nhăng, nhốn nháo.

Sự hài hòa chính là nội dung chính của cái đẹp mà người ta hay nói về Huế.

Ở đây người ít, mỗi người như được bảo đảm một không gian sống cần thiết. Ở các phố chính, vỉa hè trải ra rộng rãi trước mặt người đi đường. Hàng quán không xúm xít đầy người, không bao giờ thấy cảnh nhận được bát phở từ tay người bán hàng thì phải chờ người ăn trước mình ăn xong mới chiếm được một chỗ ngồi cần thiết. Xe hơi không đông, xe máy cũng vậy, rất ít khi tôi thấy người ta phải bóp còi.

Khu trường Quốc học với các trường đại học tách ra như một khu phố riêng với một không khí cổ kính, thoáng đãng và đậm chất Pháp, điều mà tôi chỉ thấy ở… Côn Đảo.

Con sông Hương không hung dữ như sông Hồng. Những chiếc cầu bắc qua “con sông không rộng mà dài” này – như Nguyễn Bính tả - không gợi cho tôi một cảm giác ngần ngại mỗi khi cần vượt qua từ bờ nọ sang bờ kia.

Người ta chê Huế nghèo. Nhưng tôi cảm thấy người Huế có được sự tự tin và bình thản của mình. Mình giàu không ở bề mặt, mình giàu trên cái phần quá khứ, nó như lớp móng nhà cắm sâu xuống lòng đất. Và mình đang sống đúng như mình có trong khi ở các thành phố khác của nước Việt Nam này, người ta sống với những cái người ta không có.

-

KHI THÀNH PHỐ

ĐƯỢC LÀ CHÍNH MÌNH

Cái để mà tôi so sánh với Huế hôm nay là Hà Nội.

Như tôi đã nói trong nhiều bài viết về cái thành phố mà dòng họ nhà tôi đã sống suốt cả ba đời, Hà Nội nửa sau thế kỉ XX không bao giờ được phép là mình.

Việc nông thôn hóa ở Hà Nội từ sau 8-1945 kéo dài trong nhiều giai đoạn.

- Hà Nội tiêu thổ kháng chiến.

- Hà Nội thành nơi chạy loạn, nơi trú ngụ của người dân ở các vùng nông thôn có chiến sự. Rồi Hà Nội với những người từ kháng chiến mang theo nếp sống tùy tiện trên rừng Việt Bắc trở về năm 1954.

- Hà Nội trong những năm chống Mĩ tự từ bỏ nếp sống thanh lịch của mình để sống phù hợp với nơi sơ tán rồi trở về quên luôn nếp sống thành phố.

- Hà Nội sau 1975. Hà Nội hậu chiến.

 

Công thức mà tôi thường sử dụng khi nghĩ về các thành phố sau chiến tranh là:

Thời xưa thì những người lính sau khi “Nam chinh Bắc chiến”, trở về làng cũ của mình, sống nốt cuộc đời tàn tạ.

Còn ngày nay những người lính từ nông thôn ra và đã bị chiến tranh vắt kiệt hết sức lực lại quay về thành phố lấp đầy bộ máy nhà nước, trở thành công chức làm đủ mọi việc mà họ không được đào tạo.

 

Sài Gòn cũng từng bị những người dân chạy loạn xâm nhập như thế trong chiến tranh và những người lính những công chức từ miền Bắc xâm nhập như thế sau 1975. Nhưng vốn là một thành phố hiện đại, Sài Gòn còn đủ sức hóa giải những ảnh hưởng ấy để nhiều phần vẫn vậy.

Còn Hà Nội, tôi có cảm tưởng như thành phố nằm xoài ra để tha hồ cho những người xa lạ và dân cư vùng lân cận đến xâu xé. Sự biến dạng của Hà Nội đã đến mức kỳ dị.

-------

Huế khác cả Hà Nội lẫn Sài Gòn.

Cảm tưởng chính của tôi khi đi trong lòng Hoàng Thành, là cuộc chiến tranh đã để lại bao tan nát. Điện Cần Chánh nay chỉ còn là một nền nhà. Rải rác có nhiều bãi cỏ hoang mà chính những người quản lí cũng không biết trước đây đó là khu vực làm gì. Nhiều tốp thợ đang được hướng dẫn đến làm việc.

Nhìn họ tôi chỉ tự hỏi không biết những người thợ giỏi nhất có được đưa về đây để làm hay không, hay là chỉ có những người thợ xoàng xĩnh mới chịu mức lương rẻ mạt mà cơ quan trùng tu trả cho họ. Nhân đây, tôi kể cho cậu Đăng cùng đi với tôi về tình trạng các nghề thủ công trong thời phong kiến. Khi phát hiện ra những người thợ giỏi, lập tức giới quan chức ra lệnh trưng dụng, tức là về làm việc trong các công xưởng của nhà quan. Và thế là nhiều người thợ phải giấu nghề. Cha giỏi giang chỉ thích con cái dốt nát hơn mình để khỏi bị trưng dụng.

 

NHỮNG CÁI KHÔNG Ở HUẾ

-

Một lý do khiến cho thành phố có thể sống hài hòa với chính mình ở chỗ là nó không bị dân các vùng lân cận và các tỉnh nghèo đến xâm nhập.

Tôi có cảm tưởng đến 80 - 90% người gặp trên đường phố Huế là những người bản địa. Khi mảnh đất đang cư ngụ không trở thành miếng mồi ngon cho đám dân thất nghiệp là tự nhiên người ta được sống yên tĩnh.

Thành phố không có các building chen chúc giữa các khu phố cổ lỗ, gợi cảm tưởng “những người mặc Âu phục đi trên con đường lầy bùn.”

Thành phố không có nhiều biển quảng cáo.

Ở nhiều tỉnh lị khác, vào những năm này, bọn tôi luôn bắt gặp những căn nhà đang làm dở thì hết vốn. Còn ở Huế, tôi chỉ gặp 1 – 2 căn nhà như vậy. Không có cảnh đối lập giữa một bên là đám học sinh con nhà giàu đi ô tô đến trường và một bên là những em bé tơi tả, con em của gia đình nhập cư.

Phố xá không có cảnh tràn ra đường nhậu nhẹt, chơi bời, càng không có tiếng xe gầm rít - nó giống như tiếng kêu của những con người nghèo khó vì quá ham muốn mà trở nên hung dữ và bất lực.

 

Huế nổi tiếng với những di tích. Thử tưởng tượng nếu ở Hà Nội có những di tích như vậy, thì các ngành dịch vụ ăn theo sẽ phất lên đến thế nào.

Những chùa Tây phương, chùa Thầy mà hồi còn học phổ thông, bọn tôi phải đi xe đạp mới tới được, thì ngày nay khách du lịch sợ hãi không dám tới, vì vừa tới đã gặp bao nhiêu người ép mua hàng, ép sử dụng các dịch vụ với chất lượng thấp. Hà Nội đã mất đi bao nhiêu di tích tốt đẹp chỉ vì việc xây dựng tràn lan hiện nay.

 

Dân Đông Hồ quê tôi, quá nửa sống ở làng (nay là phường) Yên Phụ. Kề đấy, đầu khu Quảng Bá có chùa Kim Liên.

Tôi đọc lịch sử biết rằng Kim Liên cỡ một kiệt tác về kiến trúc ngang trình độ với chủa Tây Phương. Nay thì Kim Liên đang bị quây quanh bởi hàng chục cao ốc, ngay những người dân vùng Yên Phụ bên cạnh cũng không còn biết có chùa Kim Liên nổi tiếng đến như vậy.

Đến chùa Thiên Mụ hôm nay, tôi vẫn bắt gặp nó như mấy chục năm trước.

 

CON NGƯỜI TRONG THÀNH PHỐ

Ở Huế, tôi không phải nghe giọng pha tạp đủ các miền.

Ở Huế, vào các quán hàng, tôi không cần phải tự đoán xem người phục vụ là dân của vùng nào về đây làm ăn. Chưa ở đâu như ở đây, tôi gặp nhiều con đường thẳng kéo dài đến vậy.

Tôi nhận ra sự hấp dẫn của Huế một phần là nhờ những con đường ấy thường lại vắng, tôi không bao giờ bị đám người lố nhố lấp đầy và che khuất.

Suốt dọc đường đi, tôi không gặp những con đường vừa làm đã hỏng, vừa làm đã mấp mô những ổ gà. Duy nhất làm tôi khó chịu khi đi trên đường Huế là thỉnh thoảng gặp những người lái xe ôm vẫy gọi, mời mọc, dân xe ôm ở đây khi nói bằng cái giọng dịu dàng vốn có của người cố đô, thì lại càng làm du khách xa tới thêm cám cảnh, nó là nét lạc lõng so với Huế.

 

ĐI TÌM

NHỮNG ẢNH HƯỞNG NƯỚC NGOÀI Ở HUẾ.

Với Huế, như tôi đã nói, tôi đã gặp lại những khu phố làm theo kiểu Tây phương.

Cái cầu thoáng đãng kia, hai bên bờ sông sạch sẽ và thanh lịch kia, là kết quả của sự đóng góp của văn minh, văn hóa Pháp. Nhiều phen đi dọc bên bờ sông Hương, tôi có cảm tưởng như đi lạc giữa một tỉnh lẻ nào của nước Pháp. Xin nói thêm là chỉ ở Huế tôi mới cảm thấy các vườn hoa cần thiết phải có những tác phẩm điêu khắc điểm tô cho cây cỏ những điểm nhấn chắc chắn.

Với Huế, tôi gặp lại nước Việt Nam cổ, là nước Việt Nam mang đậm dấu ấn Trung Hoa nhưng vẫn có được sắc thái riêng của mình.

Là triều đại phát triển nhất trong lịch sử Việt Nam, triều Nguyễn đã nâng những ảnh hưởng Trung Hoa vốn có từ thời Trần, Lê đến mức hoàn chỉnh. Điều cần nhấn mạnh là, những ảnh hưởng nước ngoài này đã được làm đến mức tinh xảo, kỹ chín, trong khi ngày nay ở các thành phố khác như Sài Gòn, Hà Nội sự có mặt của những ảnh hưởng nước ngoài là rõ rệt hơn, có tính chất thách thức hơn nhưng lại lổn nhổn cái được cái chăng và nhiều khi là sự sao chép sống sít.

Chất quý tộc là một khái niệm ngày nay ít người nhắc nhở nhưng tới Huế là trong đầu óc tôi cứ phảng phất nhớ lại.

Xóm Kim Long là một khu nhà vườn, trong đó nhiều nhà ghi cái bảng là Ancient Hue. Người dân trong các gia đình đó kể họ luôn luôn nhận được các đơn đặt hàng của những người nước ngoài hiểu sâu về Huế, muốn sống lại với Huế từ hồi chưa có chiến tranh.

Tôi thích nhất là khu nhà cũ của bà Nguyễn Đỉnh Chi, ở đó, tôi như gặp lại những viên lâm mà tôi đã thấy ở Tô Châu, Hàng Châu. Huế chứng tỏ cho chúng ta thấy là chúng ta không việc gì phải xấu hổ khi tiếp nhận những ảnh hưởng tốt của nước ngoài.

 

Không phải "ta vẫn là ta" là hay, mà ta phải khác đi so với những cái gì cổ lỗ, luộm thuộm, bẩn thỉu ngày trước. Vấn đề là ở chỗ ta phải làm chủ những ảnh hưởng tốt đẹp của nước ngoài, phải có khả năng tiêu hóa để đạt tới một cái gì nhuần nhuyễn của mình.

Please Select Embedded Mode For Blogger Comments

Mới hơn Cũ hơn