12 thg 10, 2014

Những thay đổi đã đến với Hà Nội từ sau 1954: Tính nghiệp dư trong quản lý.

     Sau Cải cách ruộng đất, nhiều nông dân được chia quả thực, có khi là cả một phần những cơ ngơi nhà cửa và những đồng đất bờ xôi ruộng mật của địa chủ.
    Nhưng nhiều người trong họ, nhất là những người được chia đậm, lại là những người chưa có của cải bao giờ, họ không biết làm chủ.
    Không những dốt nát kém cỏi, không biết làm cho của cải sinh sôi nẩy nở, mà có khi một số người này còn rơi vào cảnh rượu chè cờ bạc, đến mức bán cả nhà cửa và đẩy vợ con vào cảnh nghèo khó như cũ.
    Nếu sự phá sản nói trên không phải là phổ biến đi chăng nữa (?), thì có điều chắc là những người mới phất lên này không sử dụng nhà cửa ruộng đồng -- mà họ được chia --- một cách hiệu quả,  như những người đã đổ mồ hôi sôi nước mắt mới có được những tài sản ấy.
    Với chúng ta, những người  chủ của Hà Nội sau 10-10-54, cũng vậy.
       Trong đoàn quân tiếp quản thủ đô 60 năm trước, có nhiều chiến sĩ là con em  của Hà Nội. Từ 10-10-54, người chủ tịch Ủy ban hành chính cũ của Hà Nội 1945-1946 là Trần Duy Hưng lại quay về lãnh  chức vụ cũ.
     Thế nhưng, đó chỉ là xét về bề ngoài. Trung đoàn thủ đô không còn mấy người là dân cũ Hà Nội, mà có còn chăng nữa, họ đã bị nông dân hóa.
      Còn với bác sĩ Trần Duy Hưng. Sự tồn tại của ông chỉ là trên danh nghĩa,  bởi toàn bộ bộ máy dưới quyền ông và nhất là cái tinh thần chỉ đạo hoạt động của bộ máy  đã hoàn toàn thay đổi, nếu không nói là lật ngược lại.
     
Từ các ghi nhận của Ph. Papin và Nguyễn Huy Tưởng
     Dịp kỷ niệm ngàn năm Thăng Long, nhiều tài liệu nghiên cứu về Hà Nội của người nước ngoài đã được dịch ra tiếng Việt. Chính đọc những cuốn sách ấy người ta lại hiểu về Hà Nội hơn tất cả các sách vở mà các nhà nghiên cứu Việt Nam đã viết.
       Lịch sử Hà Nội của Philippe Papin là một trường  hợp như thế. Mô tả lại việc quản lý đời sống Hà Nội sau 10-10-54,  nhà nghiên cứu này viết:
 Thành phố giờ đây được điều hành  theo tư tưởng của những cán bộ lãnh đạo từ chiến khu trở về.
Họ không được người Hà Nội nể phục, vì lẽ người dân ở đây quá hiểu về con đường đi tới cái vai quản lý của các quan chức này.
 Họ vốn chỉ là những nông dân thô lỗ được thăng quan tiến chức quá nhanh, những quan chức nhỏ nóng tính dốt nát song lại ưa sử dụng  những ngôn từ to tát, những khái niệm mác xít chưa thuần thục.                 
         (Philippe Papin Lịch sử Hà Nội  Mạc Thu Hương dịch từ tiếng Pháp, nhà  xuất bản Mỹ thuật 2010, trang  293-294 )
      
      Nguyễn Huy Tưởng vốn là một nhà văn sinh ra và  lớn lên ở Hà Nội, sau 10-1954 lại trở về  với tư cách chủ nhân của cái thành phố thân yêu.
      Ngay từ 1956 - 57, trong nhật ký của mình, tác giả Sống mãi với Thủ đô đã ghi lại những hiện tượng báo trước một tình trạng băng hoại lâu dài. Đây cũng là những bằng chứng xác nhận cho nhận xét tổng quát nói trên của Ph.Papin.
--(21-6-1956) Mậu dịch tham ô lãng phí. Sữa để với muối, hỏng hết. Bơ để mốc. Máy gửi đi thiếu các bộ phận. Peniciline hỏng hàng loạt, có đến triệu viên. ( Nhật ký Nguyễn  Huy Tưởng bản của nhà  Thanh Niên 2006, ba tập, tập 3, Tr 106 )
-- (11-9-1956) Đại biểu khu phố Hà Nội là một con sen. Đi vận động các nhà làm sao. Than ôi! Thành phần chủ nghĩa, cứ nhắm mắt mà làm.
   Tư sản làm tốt không dùng. Sợ đề cao tư sản  (sđd Tr 138 )
 ---(13-4-1957) Cái láo xược của cơ quan Bưu điện Bờ Hồ. Chẳng coi trọng gì quần chúng cả. Guichet Bưu điện máy bay sáng 11-4 đề biển Vì bận học nên nghỉ từ 7 giờ đến 9 giờ.  Và sáng hôm nay, khi khách đã đứng đầy ngoài cửa, bọn công nhân viên vẫn ngồi  thảo luận, mặc kệ khách. Một người thấy chướng quá, bảo, họ vẫn cứ ngồi thảo luận (như trên tr 241).

 Tính nghiệp dư thành xu thế kéo dài 
      Tạp chí Nghiên cứu Huế --- do nhà sử học Nguyễn Hữu Châu Phan chủ trương --- tập một 1999 có đưa lại một tập bài giảng của một chuyên gia người Anh ông Patrick J. Honey trên BBC từ 1961; tập bài giảng này có cái tên khá dài 
Việt Nam  vào thế kỷ 19, qua các hồi ký của John White John Crawfurd George Gibson
do Trương Ngọc Phú dịch ra tiếng Việt
Ở tr 220 cuốn tạp chí này,  tôi  đọc được một nhận xét tổng quát  của Crawfurd về Nguyễn Ánh Gia Long thế kỷ XIX: "tài cán của nhà vua thích hợp  cho việc  chiếm lại đất nước hơn là việc cai trị đất nước."
      Gia Long là nhân vật lịch sử quan trọng bị nền sử học chính thống ở miền Bắc sau 1945 bôi nhọ một cách thậm tệ, đến mức không thể xấu hơn. 
       Thế nhưng qua cách miêu tả như trên, hóa ra -- trong cái sứ mạng chủ yếu làm nên tính chính đáng của quyền lực trong lịch sử -- giữa ông và các bậc tiền bối ở các thế kỷ trước cũng như chúng ta hôm nay, có sự giống nhau rõ rệt, đến mức từ đó có thể khái quát nên thành một đặc điểm chung của những người quản lý xã hội Việt.

     Từ những quan  sát của Nguyễn Huy Tưởng nêu ở trên , tôi thử  bình luận thêm về cách  quản lý của chúng ta đối với Hà Nội những năm ấy.
-- Có của trong tay cũng không biết giữ. Trao cho những người chỉ quen trông nom và làm chủ mấy cái chợ quê "dăm miếng cau khô mấy lọ phẩm hồng"( thơ Hoàng Cầm) ra quản lý một thành phố hiện đại.  
-- Mang cách sống cách làm việc của cuộc chiến tranh nhân dân dầm dề chậm chạp vào việc quản lý cuộc sống năng động trong hòa bình. Phá vỡ nhịp điệu bình thường của một thành phố hiện đại.
-- Không quan niệm rằng quản lý là một công việc cần phải học hỏi, và phải có trình độ như thế nào đó mới làm nổi. Các loại công việc liên quan đến đời sống hiện đại muôn vàn phức tạp  bị đặt vào tay những người không có hiểu biết gì về xã hội.
   
   Cần nói thêm rằng cái chuyện nghiệp dư chúng ta nói ở đây tự nhiên hoành hành và sống khá dai dẳng đến vậy bởi lẽ:
-- nó là cái tinh thần chi phối từ đào tạo con người, sử dụng nhân tài, tổ chức guồng máy nói chung.
-- nó cũng là nguyên tắc có mặt trên tất cả mọi phương diện đời sống, cả trong sản xuất, kinh doanh lẫn trong sáng tác văn hóa nghệ thuật và các hoạt động tinh thần.
-- nó được áp dụng ở tất cả các địa phương miền Bắc lúc ấy và Hà Nội không được coi là ngoại lệ.

     Sở dĩ một người như Nguyễn HuyTưởng không chịu được vì nó xa lạ những nguyên tắc chi phối xã hội hiện đại mà ông tiếp nhận được từ  văn hóa phương Tây.


      Nhưng rồi cũng như mọi người dân Hà Nội khác, ông phải chấp nhận. 
      Từ 1960 Nguyễn Huy Tưởng đã qua đời, nhưng nếu sống thêm ông chỉ chứng kiến sự thắng thế của những nguyên tắc quản lý cổ lỗ, xa lạ với tinh thần hiện đại, khiến cho Hà Nội có nhiều nét trở lại như các thành phố quê mùa thời trung đại. 
    Rõ nhất, nó đang có cái nhịp sống tận trong hồn cốt chẳng khác bao so với cái kinh thành Đông Đô hồi vua Lê chúa Trịnh thế kỷ XVIII mà chúng ta biết được qua Hoàng Lê nhất thống chí của các tác giả trong Ngô gia văn phái  Vũ trung tùy bút của Phạm Đình Hổ.