Đã đưa trê blog này ngày 10 tháng 12 2014
https://vuongtrinhan.blogspot.com/2014/12/may-cam-nhan-ve-su-khac-biet-giua-giao.html
Đã in tạp chí NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN
số 7-8
(114-115).2014,
số chuyên đề GIÁO DỤC
MIỀN NAM VIỆT NAM (1954- 1975)
Tôi vốn là người làm nghề nghiên cứu văn học.Trong cái nghề thuộc loại công tác
tư tưởng này, những năm trước 1975, tôi chỉ được phép đọc các sách báo miền
Bắc, còn sách vở miền Nam bị coi như thứ quốc cấm.
Có điều, không phải
chỉ là sự tò mò, mà chính lương tâm nghề nghiệp buộc tôi không thể bằng lòng
với cách làm như vậy.
Tôi cho rằng, muốn
hiểu cặn kẽ văn học hiện đại, phải hiểu văn học cổ điển; muốn hiểu văn họcVN
phải hiểu văn học thế giới. Thế thì để hiểu văn học miền Bắc làm sao lại lảng
tránh việc nghiên cứu văn học miền Nam được.
Đối với giáo dục
cũng vậy. Từ sau 30-4-75, tôi vẫn sống ở Hà Nội. Sự tiếp xúc với giáo dục miền
Nam (dưới đây viết là GDMN), chỉ dừng ở mức sơ sài bề ngoài.
Tuy nhiên, do
việc tìm hiểu chính nền giáo dục miền Bắc (GDMB) ở tôi lâu nay kéo dài trong bế
tắc, trong khoảng mươi năm gần đây tôi tìm thấy ở GDMN một điểm đối
chiếu.
Lúc cảm nhận được phần
nào sự khác biệt giữa hai nền giáo dục Bắc-Nam 1954-1975 cũng là lúc tôi hiểu
thêm về nền giáo dục mà từ đó tôi lớn lên và nay tìm cách xét đoán. Tôi không
chỉ muốn nêu một số đặc điểm mà còn muốn xếp loại nền giáo dục tôi đã hấp
thụ.
Bài viết này có thể
được đọc theo chủ đề khác đi một chút: Nhận diện giáo dục Hà Nội
từ 1975 về trước qua sự đối chiếu bước đầu với giáo dục Sài Gòn.
KHÁC
BIỆT NGAY TỪ HOÀN CẢNH HÌNH THÀNH
Chỗ khác nhau
giữa GDMN và GDMB xuất phát trước tiên từ hoàn cảnh xã hội mỗi nền giáo dục đó
được đặt vào, từ đó mà nó lớn lên là cái điểm đích mà nó hướng tới phục vụ.
Ngay từ những năm 1948
- 50, nền giáo dục tự phát trước tiên đã hình thành ở các vùng hồi trước gọi là
vùng tự do; không chỉ Việt Bắc, những vùng tự do này tồn tại ở cả Nam bộ, rồi
nam và trung Trung bộ, rồi tập trung và có ý nghĩa nhất với tương lai
giáo dục là những quan niệm, những cách hình thành, các trường sở… về sau.
Cái mà ta gọi là giáo
dục miền Bắc chỉ là sự kéo dài của lối phát triển giáo dục trong chiến
tranh.
Nhờ có tinh thần yêu
nước và những bài bản đã học được trong các nhà trường Pháp thuộc, nên ban đầu,
nền giáo dục này có tạo được một số hiệu quả nào đó.
Việc kéo nhau lên Việt
Bắc lúc đầu ai cũng nghĩ là chỉ một hai năm. Sống tạm bợ ít ngày cần gì. Nhưng
rồi đường lối trường kỳ kháng chiến tiếp thu được từ Trung quốc được quán triệt
khiến mọi mặt hoạt động được đặt lại trong đó có công tác giáo dục. Làm theo ý
chí hơn khả năng thực tế. Quan niệm giáo dục chưa hình thành cũng phải làm.
Giáo dục chiến
tranh, do dó, luôn luôn là một nền giáo dục dở dang chắp vá, mà lại vẫn phải
khoác cho mình cái chức danh lớn lao của một nền giáo dục mới mẻ, cách mạng .
Trong khi ở khu vực
kháng chiến hình thành nền giáo dục như trên thì, ngay từ trước 1954, một nền
giáo dục do người Pháp mở từ trước cũng đã tồn tại ở Hà Nội, Hải Phòng, Huế, và
rõ nhất là ở Sài Gòn, và sau này chuyển giao, phát triển trở thành giáo dục
miền Nam.
Đối tượng của
những so sánh đối chiếu dưới đây là hai thực thể quá khác nhau, còn phải nghiên
cứu công phu, ý kiến của chúng tôi chỉ mới là những phác thảo sơ
bộ.
CHUẨN VÀ PHI CHUẨN
Đáng lẽ khi hòa bình
lập lại những người kháng chiến đã trở về Hà Nội cái tinh thần giáo dục
phi tiêu chuẩn hôm qua cần phải vượt qua, thì -- như một thói quen và kết
quả của một hiểu biết thiển cận -- nó lại ăn sâu vào mọi mặt, chi phối cách
hình thành và những định hướng lớn của GDMB
Nói quá lên thì có thể
bảo, như một cơ thể, GDMB thuộc loại tiên thiên bất túc, tức sinh ra đã
không đủ các bộ phận cần thiết, sinh ra đã bất thành nhân dạng.
Phương châm ở
đây là làm lấy được, tức là chưa đủ điều kiện, nhưng thấy cần, vẫn cứ làm --
rồi để yên lòng nhau, sẽ viện ra đủ lý lẽ để chống chế, để lấp liếm và xa hơn
nữa, sẵn sàng tự ca tụng.
Ví dụ
một trường đại học trước tiên phải có đủ bộ phận giảng viên đảm nhiệm việc
giảng dạy theo những quy định quốc tế. Ở các nước gọi là đang phát triển, một
trường đại học chỉ được thành lập khi có một bộ phận nòng cốt là những giáo sư
đã học tập ở những Sorbone, Oxford hoặc những trường tương tự… trở về.
Đâu
người ta cũng hướng tới những yêu cầu này để noi theo, nay chưa làm được thì
mai làm. GDMN cũng theo, GDMB thì không.
Trên
danh nghĩa đại học VN cũng có những người gọi là giáo sư hay tiến sĩ đấy, nhưng
đó là ta phong với nhau để làm việc, chứ thực tế thấp hơn hẳn chuẩn mực
quốc tế “một cái đầu”.
Rộng hơn câu chuyện giáo viên là chuyện cơ
sở vật chất và không khí học thuật của một trường đại học.
Rồi
rộng hơn câu chuyện của riêng ngành đại học là chuyện của mọi cấp
học.
Tính
phi chuẩn bao trùm trong mọi lĩnh vực, từ trường sở, sách giáo khoa, cách
cho điểm, cách tổ chức thi cử…, cho tới chất lượng dạy và học.
Sau mấy chục năm
chiến tranh, cái sự làm lấy được làm theo ý chí đã thành chuẩn mực duy nhất, nó
chi phối tất cả, khiến giáo dục VN có cách tồn tại, cách vận hành riêng chẳng
giống ai. Các trường mới lập ra phải theo trường cũ, sau giải phóng thì miền
Bắc buộc miền Nam phải theo.
Tạm ví một cách thô thiển: như trong
khi người ta đi thì mình phải bò phải lết, vậy mà vẫn tự hào rằng mình cũng
đang đi, chứ đâu có đứng yên.
KHÁC
BIỆT TRONG QUAN NIỆM
Về bộ máy giáo dục
Có dịp tìm hiểu lại
nền giáo dục trước 1945 và nền giáo dục ở Sài Gòn trước 75, tôi nhận ra một sự
thật -- hồi đó, bản thân giáo dục là một hệ thống quyền lực. Nó có nguyên tắc
tổ chức riêng và những con người riêng của nó.
Nhà thơ Chế Lan
Viên có lần nói với Nguyễn Khải và Nguyễn Khải về kể lại cho tôi một nhận xét.
Ông Chế bảo, ở xã hội cũ, một viên tri huyện tuy vậy vẫn phải nể nhà sư trụ trì
mấy ngôi chùa lớn, hay các vị đỗ đạt cao nay không làm gì chỉ về mở trường
trong vùng.
Còn các chức danh đốc
học, giáo thụ, huấn đạo – các học quan tương ứng với tỉnh, phủ, huyện -- là
người do triều đình cử, chứ không phải do chính quyền địa phương cử, hoặc nếu
địa phương cử thì triều đình cũng phải duyệt.
Tôi cảm thấy điều này được GDMN tiếp tục.
Nền giáo dục ở đây do những người thành thạo chuyên môn quyết định.
Còn ở miền Bắc thì hoàn toàn ngược lại.
Nhiều vị sư do địa phương phân công vào
chùa hoạt động, hoặc sau khi vào chùa, lấy việc cộng tác với chính quyền làm
niềm vinh dự, nghĩa là trong hệ thống sai bảo của chính quyền theo nghĩa đen.
Còn người phụ trách giáo dục các cấp hoàn toàn do Ủy ban cử sang.
Cả những hiệu trưởng cũng vậy, phải do Ủy ban thông qua.
Bộ máy tổ chức cán bộ địa phương thường hoạt động theo nguyên tắc là ai tài
giỏi cho đi phụ trách các ngành chính trị kinh tế. Còn văn hóa giáo dục sẽ phân
công cho những người kém thế lực và kém năng lực.
Đánh đấm ở chiến trường hay vật lộn với sản xuất với thị trường mới khó, chứ
việc quản mấy ông thầy với đám học trò ranh, ai làm chẳng được – người ta hiểu
vậy.
Một người bạn già có hiểu nhiều về giáo dục ở thời Việt Nam dân chủ cộng
hòa kể với tôi là Bộ trưởng Bộ giáo dục trong chính phủ liên hiệp thành lập
2-1946 là Đặng Thai Mai.
Nhưng về sau, do sinh viên trường đại học
Đông dương đề xuất thắc mắc, Đặng Thai Mai chỉ tốt nghiệp Cao đẳng Sư phạm, nên
phải thay bẳng Nguyễn Văn Huyên có bằng tiến sĩ Sorbone Đại học số một của
Pháp.
Việc chọn người tham gia chính phủ thời kỳ 1945-46 có thể có nhiều nguyên nhân
khác nhau, nhưng tôi tin chắc rằng thời ấy việc cử Bộ trưởng Bộ giáo dục buộc
phải tuân theo nhiều chuẩn mực nghiêm khắc, chứ không phải à uôm hoặc phe cánh
chạy chọt, như hiện nay.
Vả chăng vấn đề không phải chỉ riêng ông
bộ trưởng, mà là mọi cấp quan chức của giáo dục.
Một trong những chuyện vui vui xảy ra với nền giáo dục hôm nay là chỉ thị
của Bộ gíáo dục khoảng cuối 2013 cho các tỉnh, khuyên cơ quan chính quyền
tỉnh nên cẩn thận và ráo riết trong việc kiểm soát các tin tức tiêu cực từ các
cuộc thi.
Nó là bằng chứng cho thấy giáo dục đã nát như thế nào và người ta cố tình che
giấu như thế nào.
Nhưng nó cũng tố cáo
sự phụ thuộc hoàn toàn của nhà trường vào nhà cầm quyền. Giáo dục trở thành
việc nhà của địa phương rồi, người ta cho biết cái gì thì dân được biết cái đó.
Một kỷ niệm nữa có liên quan tới việc giáo dục phụ thuộc chính trị một cách thô
thiển. Những năm 55 – 58, tôi học cấp II Chu Văn An. Trường ở ngay cạnh
Chủ tịch phủ. Hễ có các vị quan khách nước ngoài tới thăm, xe đưa từ sân bay
Gia Lâm về Ba Đình, là bọn tôi được lệnh bỏ học, ra đứng đường để hoan nghênh
các vị khách quý.
Ở các địa phương việc huy động thầy trò vào các công việc gọi là công ích, là
công tác chính trị của địa phương, càng phổ biến.
Người ta tự coi mình đương nhiên có quyền can thiệp vào mọi việc của nhà
trường. Còn những việc như thế, làm hại đến chất lượng giáo dục ra sao, thì
không ai cần biết.
Những nguyên tắc căn bản của giáo dục
Mấy năm gần đây hoạt
động của GDMN được nhắc nhở nhiều trên báo chí, nhất là trên mạng.
Nhờ thế, bọn tôi có
thêm dịp để nghĩ lại về nền giáo dục mà đến nay ít được biết tới.
Trong một bài mang tên
Nền giáo dục ở miền Nam 1954-75, một nhà giáo dục đồng thời trước đây là
một quan chức trong nghề (như trên đã nói, quan chức giáo dục ở miền Nam
khác hẳn quan chức miền Bắc), ông Nguyễn Thanh Liêm, đã nhắc lại
những nguyên tắc căn bản của nền giáo mới là nhân bản khai phóng dân tộc
những nguyên tắc này đã ghi trong Hiến pháp VNCH 1967.
Đối chiếu với giáo dục
miền Bắc, sơ bộ tôi thấy đại khái thấy hai nguyên tắc đầu cũng thường được Hà
Nội nhắc tới, nhưng được giải thích khác đi, và nguyên tắc thứ ba thì hoàn toàn
người làm GDMB không có một ý niệm gì hết.
Về tính dân tộc
Ta hãy đọc lại
cách giải thích của các nhà giáo miền Nam. Ở đây, bảo đảm tính dân tộc, phát
triển tinh thần quốc gia của học sinh có nghĩa
giúp học sinh hiểu
biết hoàn cảnh xã hội, môi trường sống, và lối sống của người dân; giúp học
sinh hiểu biết lịch sử nước nhà, yêu thương xứ sở mình, ca ngợi tinh thần đoàn
kết, tranh đấu của người dân trong việc chống ngoại xâm bảo vệ tổ quốc; giúp
học sinh học tiếng Việt và sử dụng tiếng Việt một cách có hiệu quả; giúp
học sinh nhận biết nét đẹp của quê hương xứ sở, những tài nguyên phong phú của
quốc gia, những phẩm hạnh truyền thống của dân tộc; giúp học sinh bảo tồn những
truyền thống tốt đẹp, những phong tục giá trị của quốc gia; giúp học sinh có
tinh thần tự tin, tự lực, và tự lập.
http://hocthenao.vn/2013/10/16/nen-giao-duc-o-mien-nam-1954-1975-trich-nguyen-thanh-liem/
Các nhà giáo
miền Bắc, trên đại thể, cũng nói thế. Nhưng điểm nhấn thì khác. Trong cách giải
thích của người làm giáo dục Hà Nội, tính dân tộc trước tiên là việc dân mình
tự làm lấy giáo dục của mình. Chúng tôi thường tự hào đây là một nền giáo dục
riêng của người Việt, một nền giáo dục không có dây dưa gì nhiều với nền
giáo dục mà thế kỷ trước, người Pháp đã mang lại. Chúng tôi làm lấy và
đôi khi cố ý làm ngược với những bài bản thời thuộc địa.
Đây là cách hiểu
về tính dân tộc mà giới văn hóa tư tưởng đề xuất và được coi là tư tưởng chỉ
đạo. Thì cũng là cách hiểu trong giáo dục.
Một khía cạnh
khác trong cách hiểu về tính dân tộc của miền Bắc. Không phải là những người
làm giáo dục không biết chỗ yếu kém vốn có. Để tự trấn an, người ta biện hộ
rằng trong cái vẻ luộm thuộm nhếch nhác, hình như GDMB đang trở lại với nền
giáo dục của ông cha ta ngày xưa thời trung đại, chỉ cốt phát huy tinh thần
hiếu học của con người.
Dân tộc trong trường
hợp này, dân tộc đồng nghĩa với “ta về ta tắm ao ta”, từ chối những đổi mới
hiện đại.
Cũng chính là
những lý do được viện dẫn khi, trong đời sống văn hóa, người ta kéo nhau trở
lại với các phong tục cổ hủ và khuếch trương mê tín đến một mức độ người
xưa không thể tưởng tượng.
Trong khi đó, như vừa
dẫn ở trên, tính dân tộc được các nhà GDMN hiểu là phải hướng về một thứ dân
tộc hiện đại.
Về tính nhân bản
Trên giấy tờ văn
bản, chẳng bao giờ giới văn hóa giáo dục miền Bắc phủ nhận tính nhân bản, tuy
là trong thực tế người ta rất ngại nói tới.
Phần thì xã hội
ở đây đã xem đấu tranh giai cấp là động lực phát triển; phần nữa thì đang trong
thời chiến tranh, không thể nói nhiều đến tình người, nó xâm hại ý chí chiến
đấu.
Khi cần phải nói
chuyện với thế giới, các nhà tư tưởng miền Bắc cũng công nhận nhân đạo chủ
nghĩa là lý tưởng tốt đẹp và giáo dục phải có nhiệm vụ hướng tới.
Nhưng trong thực
tế, cách lý giải nghĩa về chủ nghĩa nhân đạo thường giản đơn và cổ lỗ. Lại
thường giải nghĩa rất mới: “chủ nghĩa nhân đạo cao nhất là chủ nghĩa nhân đạo
chiến đấu chống lại mọi áp bức bất công”.
Trong bài Đế
quốc Mỹ phải là kẻ thù riêng của mỗi trái tim ta của Chế Lan Viên, người ta
còn thấy những câu thơ mà có lẽ con người ở các xã hội khác không sao hiểu nổi:
--Miền Nam ta ơi
Cái hầm chông là điều
nhân đạo nhất
– Ngọn súng trường ta
ơi ngọn súng rất nhân tình
Giới giáo dục miền Bắc
cũng theo sự chỉ đạo đó.
Cách giải thích về
nhân bản của các nhà giáo miền Nam ngược hẳn. Theo tôi hiểu , nó gần với cách
hiểu của phạm trù này ở các xã hội hiện đại.
Hãy thử đọc một
số sách thuộc tủ sách giáo dục của nhà xuất bản cũng tên là Trẻ,
in ra ở Sài Gòn khoảng mấy năm sau 1970.
Lúc này, một
nhóm các nhà giáo dục, có lẽ mới đi học Anh Mỹ về, lập nhóm và đã công bố nhiều
tài liệu mới viết có, vừa được dịch có.
Khi bàn về
mục đích giáo dục, Nguyễn Hòa Lạc viết:
Mục đích tối
thượng của giáo dục là làm thế nào giúp con người đạt được nhân cách, các
bản ngã đích thực của mình, hầu có thể sống trọn kiếp nhân sinh […]
nghĩa là giúp họ thể hiện được con người của mình trong ý nghĩa
“con người là một hiện hữu tại thế, một hữu thể có lý trí và tự do, vừa
suy tư vừa hành động”.
Lê Thanh Hoàng Dân-
Trần Hữu Đức..Các vấn đề giáo dục nxb Trẻ,1970 tr 209
Cách
hiểu như thế này cố nhiên không bao giờ được đề lên như mục đích của GDMB.
Với các nhà giáo Hà Nội, nhất là vào thời kỳ sau khi Hà Nội được tiếp quản từ
tay người Pháp (10-1954), không làm gì có những con người chung chung.
Mỗi con người đều thuộc về một giai cấp do đó họ phải sự chỉ đạo của các đảng
phái đại diện giai cấp của họ. Cách hiểu của GDMN:
chấp nhận có sự khác
biệt giữa các cá nhân, nhưng không chấp nhận việc sử dụng sự khác biệt đó để
đánh giá con người, và không chấp nhận sự kỳ thị hay phân biệt giàu nghèo, địa
phương, tôn giáo, chủng tộc… Với triết lý nhân bản, mọi người có giá trị
như nhau và đều có quyền được hưởng những cơ hội đồng đều về giáo dục.
http://hocthenao.vn/2013/10/16/nen-giao-duc-o-mien-nam-1954-1975-trich-nguyen-thanh-liem/
dù có được coi
là đúng đi nữa, cũng không bao giờ được ứng dụng. Mà trong thực tế, lại làm
ngược.
Trước sau, với nền
GDMB, chấp nhận nhân bản theo nghĩa hiện đại, và đặt vấn đề tôn trọng cá
tính của mỗi cá nhân, bao giờ cũng là một chuyện quá phiền phức, giá có công
nhận là đúng nữa thì hoàn cảnh hiện thời không cho phép người ta tuân
thủ.
Vào khoảng những năm
1960, có cả một cuộc vận động chống chủ nghĩa cá nhân.
Thế thì làm sao
có thể tính chuyện nghiên cứu về con người cá nhân, và giúp lớp trẻ thực hiện
bản thể cá nhân vốn có trong họ được!
Cái luận điểm từng
được thống nhất nêu ra trong các văn bản miền Nam
Triết lý nhân bản chủ trương con người có
địa vị quan trọng trong thế gian này; lấy con người làm gốc, lấy
cuộc sống của con người trong cuộc đời này làm căn bản; xem con người như một
cứu cánh chứ không phải như một phương tiện hay công cụ phục vụ cho mục tiêu
của bất cứ cá nhân, đảng phái, hay tổ chức nào khác.
Giáo dục Việt Nam cộng hòa http://vi.wikipedia.org/wiki/
phải được coi là xa lạ
và nếu có ai nghĩ vậy thì cần phê phán.
Chúng tôi không dẫn
lại đây các văn kiện có tính chỉ đạo đối với GDMB trong đó việc đào tạo con
người thành những công cụ đắc lực cho cuộc chiến đấu trước mắt được nhấn
mạnh. Chỉ xin lưu ý một điểm, đó không phải là phát minh của các nhà chỉ
đạo GDMB nói chung mà còn là nguyên lý chỉ đạo giáo dục ở một nước mà
miền Bắc lấy làm mẫu như giáo dục Nga xô viết.
Trong cuốn Các vấn
đề giáo dục thuộc tủ sách giáo dục nxb Trẻ đã nói, có một phần
lớn điểm sơ lược về giáo dục nước ngoài, cả phương Đông lẫn phương Tây, chắc là
do kê cứu các sách nghiên cứu của Anh Mỹ và Pháp mà viết lại. Phần viết
về giáo dục Nga kết lại như sau:
--Xét chung thì nền
giáo dục ở Nga rất thực tiễn và khoa học, nhưng nó chỉ là thứ giáo dục
một chiều, nhăm biến con người thành một công cụ sản xuất [và ở VN là chiến đấu
- VTN] tới mức tối đa. Một khi con người đã trở thành công cụ của guồng máy cộng
sản thì mất hết nhân tính. Do đó chúng ta có thể kết luận rằng giáo dục xô viết
tuy thực tiễn và hữu hiệu nhưng lại phi nhân tính. (Sđd tr. 228)
Có thể mượn để nói về
GDMB.
Về tính khai phóng
Trong mấy chữ gọi là
nguyên tắc căn bản trong các tài liệu GDMN, đối với bọn Hà Nội chúng tôi,
chữ khai phóng là hơi lạ.
Mở Hán Việt tân từ
điển của Nguyễn Quốc Hùng ( Khai trí S.1975), thấy
ghi khai phóng tức mở mang và buông thả, ý nói làm cho tốt đẹp hơn;
không kìm giữ, mà trái lại, muốn giúp đỡ cho tiến xa hơn.
Thoạt đầu tôi thấy là
trong một mức độ nào đó, khai phóng có vẻ gần với khái niệm hiện đại tiên
tiến của miền Bắc, mấy chữ này thường dùng cả trong kinh tế lẫn giáo dục.
Về sau đặt khai phóng
vào cái nền chung của các nguyên tắc căn bản của GDMN, tôi mới hiểu khai phóng
gần với khái niệm cơ bản của nhân học hiện đại là tự do – và do đó quá
mới mẻ với chúng tôi.
Trong cuốn Chân
dung những nhà cải cách giáo dục tiêu biểu trên thế giới, do tổ chức Unesco
bảo trợ biên soạn và chi phí xuất bản (bản dịch tiếng Việt của nxb Thế giới,
H. 2004), phần viết về Thái Nguyên Bồi (1868-1940), có đoạn dẫn lại mấy ý
của vị Hiệu trưởng sáng lập Đại học Bắc Kinh có liên quan tới phương
hướng phát triển giáo dục của nước Trung Hoa thế kỷ XX.
Chúng ta phải
được tự do tư tưởng và tự do ngôn luận và không để cho một trường phái triết
học hay bất kỳ một loại hình tôn giáo nào giam hãm tư tưởng chúng ta. Trái lại
chúng ta phải hướng tới những tư tưởng cao cả mang tính nhân loại, những
tư tưởng sẽ tồn tại mãi, bất kể không gian và thời gian. Đó là nền giáo dục
xứng đáng với tên gọi nền giáo dục toàn cầu.(sđ d tr138 )
Giáo dục giúp
cho thế hệ trẻ có cơ hội phát triển trí lực và hoàn thiện tính cách cá nhân,
đóng góp cho nền văn minh nhân loại. Bởi vậy giáo dục không hể trở
thành công cụ đặc biệt giúp cho những kẻ muốn thao túng xã hội theo đuổi
những mục đích xấu xa. Việc dạy dỗ tại nhà trường phải hoàn tòan trao cho
các nhà giáo độc lập không bị ảnh hưởng bởi bất cứ đảng phái chính trị hay tôn
giáo nào (sđ d tr 143).
Tinh thần khai phóng
như vậy đã trở thành một khía cạnh chủ yếu của quan niệm nhân bản như trên đã
nói.
Tinh thần khai
phóng này cũng chi phối cách các nhà GDMN hiểu khác đi về tính dân tộc,
so với nội dung được GDMB chấp nhận.
Các nhà GDMN từng hào
hứng nói về xu thế hội nhập đến rất sớm của mình. Cách nói của Nguyễn Thanh
Liêm:
Tinh thần dân tộc
không nhất thiết phải bảo thủ, không nhất thiết phải đóng cửa. Ngược lại, giáo
dục phải mở rộng, tiếp nhận những kiến thức khoa học kỹ thuật tân tiến trên thế
giới, tiếp nhận tinh thần dân chủ, phát triển xã hội, giá trị văn hóa nhân loại
để góp phần vào việc hiện đại hóa quốc gia và xã hội, làm cho xã hội tiến bộ
tiếp cận với văn minh thế giới.
http://hocthenao.vn/2013/10/16/nen-giao-duc-o-mien-nam-1954-1975-trich-nguyen-thanh-liem/
là theo tinh
thần khai phóng vừa nói.
Với GDMB, nói
dân tộc là để từ chối khai phóng. Còn với GDMN, chính là cần khai phóng thì mới
giải quyết vấn đề dân tộc một cách triệt để.
Nhìn theo cách nào thì
khai phóng mà các nhà giáo dục ở Sài Gòn đã nói cũng bao hàm một
ý nghĩa mà GDMB không thể chấp nhận được. Thậm chí phải nói là GDMB đã làm
ngược lại.
Hẳn là không xa
sự thật lắm nếu kết luận trong khi giáo dục thế giới và GDMN là khai phóng thì
GDMB là khép kín. Trong khi GDMB chỉ hướng tới các mục đích trước mắt – một
tinh thần thiển cận sát mặt đất--, thì tinh thần khai phóng mà GDMN muốn xây
dựng bao giờ cũng giúp cho người ta hướng tới tương lai.
Trong cuốn Các vấn
đề giáo dục đã nói, ở tr 204 tập I, tôi còn thấy các tác giả dẫn lại
một câu của Kant:
Mục đích của giáo dục
là huấn luyện trẻ không phải chỉ nhằm vào sự thành công của chúng trong
tình trạng xã hội hiện tại mà nhằm một tình trạng có thể tốt đẹp
hơn, hợp với một quan niệm lý tưởng của nhân loại (sđ d tr 204).
GD MN nhằm vào những
mục đích như thế mà GDMB thì không.
ĐOẠN
KẾT
Giống như xã hội nơi
đây, sự phát triển giáo dục ở miền Bắc đi theo một cái mạch phải nói là không
bình thường.
Nếu GDMN tiếp nối cái
mạch giáo dục của nhiều nước trên thế giới và trực tiếp là nền giáo dục VN
trước 1945 thì GDMB, xét theo cả chặng đường dài năm sáu chục năm, trong khi cố
tìm cốt cách riêng của mình, hóa ra lại chẳng tuân theo quy luật nào cả.
Nếu GDMN được
triển khai theo một đường hướng khoa học của thế giới hiện đại thì GDMB lại có
những khía cạnh như trở lại thời tiền hiện đại.
Cần nói thêm là
trong khi phải làm giáo dục một cách mò mẫm, những người làm giáo dục ở miền
Bắc trước 1975 đã luôn luôn tự nhủ rằng chúng ta đang làm một cuộc cách mạng
trong giáo dục và giáo dục ta đang là một nền giáo dục tiên tiến.
Đó là một ý
nguyện chính đáng.
Trong chiến tranh, Hà
Nội hoàn toàn khép kín. Muốn thì cũng muốn lắm, nhưng trong hoàn cảnh đóng cửa
cách ly với thế giới, làm gì có chuyện hội nhập theo đúng nghĩa của nó.
Cuộc sống trì trệ kéo
dài.
Đối chiếu
với những điều bọn tôi được dạy bảo từ nhà trường phổ thông và sau
này từng coi là phương hướng suy nghĩ, với các tài liệu mới đọc được, càng
thấy trong khi khác biệt với GDMN, thì GDMB cũng khác nhiều so với thế giới.
Đủ hiểu tại sao sau khi đào tạo trong nước, ra tiếp xúc với xã hội hiện đại,
cánh học sinh sinh viên miền Bắc bọn tôi thường ú ớ, lạc lõng, trong khi những
người được GDMN đào tạo thì hội nhập rất tự nhiên và hiệu quả.
Mươi năm gần đây, tình
hình có chút đổi khác, nhưng là chỉ đổi khác trên bề mặt. Cựa quậy mấy
thì nền giáo dục này cũng không khác được so với chính mình. Nó đã cạn kiệt
năng lực tự cải hóa. Ngay cả những người trong bộ máy quyền lực cũng đều tính chuyện
cho con em mình qua nhiểu nước phương Tây, nhất là sang Mỹ để học. Nhưng họ chỉ
lo được cho gia đình riêng của họ thôi. Ở trong nước, những bài bản của miền
Bắc cũ được tân trang lại chút ít vẫn ngự trị trong toàn bộ nền giáo dục, và
trong thâm tâm, nhiều người đã bắt đầu nghĩ rằng hình như có một bãi lầy đã
được tạo ra và chúng ta không bao giờ ra thoát.