VƯƠNG-TRÍ-NHÀN

Tino Cao , về Trần Văn Thủy và 𝐂𝐡𝐮𝐲𝐞̣̂𝐧 𝐓𝐮̛̉ 𝐓𝐞̂́



Sưu tầm trên MXH
   
28-7-2026


28-7-
𝐂𝐡𝐮𝐲𝐞̣̂𝐧 𝐓𝐮̛̉ 𝐓𝐞̂́
Trước khi đăng tại đây, bài viết của tôi đã được gửi đến đạo diễn Trần Văn Thủy để ông đọc và góp ý về những chi tiết liên quan đến bộ phim tài liệu “Chuyện tử tế”. Nhằm trình bày tương đối đầy đủ bối cảnh lịch sử, hậu trường chính trị cùng các vấn đề nghệ thuật của tác phẩm, bài dài hơn một bài đăng thông thường. Anh chị và các bạn quan tâm xin lưu lại, đọc vào lúc thuận tiện. Nếu đề tài nằm ngoài mối quan tâm, xin bỏ qua.
•••••


 𝐂𝐡𝐮𝐲𝐞̣̂𝐧 𝐓𝐮̛̉ 𝐓𝐞̂́

Trước khi đăng tại đây, bài viết của tôi đã được gửi đến đạo diễn Trần Văn Thủy để ông đọc và góp ý về những chi tiết liên quan đến bộ phim tài liệu “Chuyện tử tế”. Nhằm trình bày tương đối đầy đủ bối cảnh lịch sử, hậu trường chính trị cùng các vấn đề nghệ thuật của tác phẩm, bài dài hơn một bài đăng thông thường. Anh chị và các bạn quan tâm xin lưu lại, đọc vào lúc thuận tiện. Nếu đề tài nằm ngoài mối quan tâm, xin bỏ qua.
•••••
Sau “Hà Nội trong mắt ai”, Trần Văn Thủy đi thêm một bước quyết liệt trong cuộc tự vấn về tư cách của điện ảnh trước đời sống của đất nước. Bộ phim trước mượn kí ức Thăng Long và nhân cách người xưa để soi xét hiện tại. “Chuyện tử tế” gỡ phần che chắn lịch sử, đặt máy quay ngay giữa xã hội bao cấp kiệt quệ và hỏi thẳng con người đang ăn ở với nhau ra sao. Lời bình mở đầu xem tử tế là phẩm chất có sẵn trong con người, gia đình và dân tộc, song cần được liên tục đánh thức. Câu hỏi luân lí mang sức công phá chính trị, bởi đạo đức công cộng gắn với cách xã hội tổ chức đời sống và cho phép sự thật cất lời. Sự tử tế, xét như một phạm trù đạo đức công cộng, chỉ có giá trị khi gắn với năng lực nhận diện đau khổ, truy nguyên những điều kiện xã hội sản sinh đau khổ và xác lập trách nhiệm đối với số phận của từng cá nhân. Một nền điện ảnh loại bỏ sự thật khỏi khuôn hình sẽ giản đơn hóa đạo đức thành diễn ngôn giáo điều. Khi con người bị quy thành chứng liệu minh họa cho thành tích, lời ca ngợi nhân dân thực chất tước khỏi họ quyền hiện diện với đầy đủ hoàn cảnh sống, tiếng nói và kinh nghiệm riêng.
Để hiểu đầy đủ sức nặng của “Chuyện tử tế”, cần trở lại số phận chính trị của “Hà Nội trong mắt ai”. Được thực hiện từ năm 1982, bộ phim sớm rơi vào một lệnh cấm bất thành văn. Ngày 18 tháng Mười 1983, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Văn Đồng xem phim và chỉ thị chiếu rộng rãi cho nhân dân. Tác phẩm xuất hiện trở lại trong thời gian ngắn rồi tiếp tục bị rút khỏi màn ảnh. Theo hồi ức của Trần Văn Thủy, lệnh cấm văn nghệ thời ấy thường tồn tại qua biên bản nội bộ, lời nhắn, cú điện thoại hoặc sự trì hoãn vô thời hạn. Cơ chế kiểm duyệt ấy phân tán trách nhiệm giữa nhiều cơ quan, khiến tác phẩm bị loại khỏi đời sống công cộng trong tình trạng thiếu một chủ thể công khai nhận quyết định. Mỗi khâu duyệt và phát hành đều có thể giữ phim lại bằng sự từ chối hoặc im lặng. Tính mơ hồ của thủ tục hành chính buộc nghệ sĩ tự suy đoán phạm vi được phép và tự kiểm duyệt ngay từ lúc hình thành ý tưởng.
Bầu không khí chính trị thay đổi sau Đại hội lần thứ sáu của Đảng Cộng sản Việt Nam, khai mạc ngày 15 tháng Mười Hai, 1986. Nguyễn Văn Linh được bầu làm tổng bí thư, còn yêu cầu nhìn thẳng, phản ánh đúng và đánh giá đúng sự thật đi vào diễn ngôn cải cách. Tháng Năm, 1987, ông trực tiếp xem “Hà Nội trong mắt ai”. Theo hồi ức của Trần Văn Thủy, nội dung thực tế của bộ phim khác xa những lời quy kết lưu truyền suốt nhiều năm. Nguyễn Văn Linh sau đó cho tổ chức một buổi chiếu tại hội trường Nguyễn Cảnh Chân, với sự tham dự của cán bộ phụ trách văn hóa và lãnh đạo các hội văn học nghệ thuật. Kết quả bỏ phiếu hoàn toàn tán thành việc phát hành. Ngày 26 tháng Chín, 1987, Văn phòng Trung ương Đảng ra văn bản yêu cầu các cơ quan hữu trách cho công chiếu bộ phim. Sự can thiệp của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh tháo gỡ thế bế tắc hành chính, trả tác phẩm về cho công chúng và cung cấp sự bảo chứng chính trị cho yêu cầu nói thẳng nói thật. Cuộc giải cứu đồng thời bộc lộ một nghịch lí trong cơ chế quản lí văn nghệ. Số phận tác phẩm vẫn lệ thuộc vào quyết định của một lãnh đạo cụ thể, trong khi thủ tục thẩm định thiếu tính minh bạch và ổn định. Sự cởi mở dựa trên bảo trợ cá nhân luôn có thể bị đảo ngược khi tương quan chính trị thay đổi.
Ngày 7 và 8 tháng Mười, 1987, Nguyễn Văn Linh gặp giới văn nghệ sĩ và trí thức tại hội trường Nguyễn Cảnh Chân. Trong giờ nghỉ ngày đầu, Lưu Quang Vũ gọi Trần Văn Thủy ra gặp Tổng Bí thư. Theo hồi ức của đạo diễn, Nguyễn Văn Linh nói đã hiểu lí do “Hà Nội trong mắt ai” bị ngăn cấm và đề nghị ông làm tập tiếp theo. Thực tế, “Chuyện tử tế” hoàn thành từ năm 1985 và đang được cất giữ. Lời đề nghị của Nguyễn Văn Linh mở ra một lối thoát chính trị cho tác phẩm. Ngay sau cuộc gặp, Trần Văn Thủy nhờ họa sĩ Trịnh Quang Vũ thêm dòng chữ “Tập 2” dưới nhan đề, tạo ấn tượng đây là phần tiếp theo được thực hiện theo đề nghị của Tổng Bí thư. Đạo diễn về sau thừa nhận đây là một cách ứng phó trước hoàn cảnh. Xét theo lí thuyết cận văn bản, dòng chữ ấy đảm nhiệm chức năng hành chính nhiều hơn chức năng tự sự. Hai bộ phim thiếu sự tiếp nối về nội dung; mối liên hệ được thiết lập nhằm đưa “Chuyện tử tế” qua khâu duyệt chiếu. Một chi tiết tưởng như thuộc về quảng bá đã kiêm nhiệm vai trò của giấy phép và lưu lại trên thân phim dấu vết của cơ chế kiểm duyệt.
Quá trình sản xuất “Chuyện tử tế” cho thấy kiểm duyệt tác động ngay từ giai đoạn chuẩn bị. Theo Trần Văn Thủy, đoàn phim khởi sự với một số ý tưởng rời, vừa đi thực tế, vừa tìm nhân vật và xác lập chủ đề. Để dự án được chấp thuận, Hồ Trí Phổ soạn đề cương tạm mang tên “Đi từ nỗi đau của con người”. Nội dung đề cương tập trung vào tình yêu, bất hạnh, quan hệ giữa thầy thuốc với bệnh nhân, người mắc bệnh phong và các nữ tu, những đề tài ít gây lo ngại cho bộ phận xét duyệt. Văn bản này cung cấp căn cứ hành chính để đoàn phim sử dụng nhân lực, thiết bị, phim nhựa và kinh phí. Nội dung thực sự của tác phẩm được xây dựng từ những con người, hoàn cảnh và nghịch lí xã hội mà đoàn quay gặp trong quá trình thực địa. Khoảng cách giữa đề cương được phê chuẩn và bộ phim hoàn chỉnh cho thấy người làm phim phải sử dụng hồ sơ sản xuất như một phương tiện tự bảo vệ. Sau khi dựng phim, đoàn tiếp tục trì hoãn việc nghiệm thu vì tác phẩm có thể bị giữ lại ngay tại hãng.
Điều kiện sản xuất ấy góp phần giải thích kết cấu tiểu luận ghép mảnh của “Chuyện tử tế”. Kết cấu này vừa mang giá trị thẩm mĩ, vừa ghi dấu một chiến thuật sáng tác dưới áp lực kiểm duyệt. Theo hệ thống khái niệm của Bill Nichols, tác phẩm kết hợp phương thức thuyết minh, tham dự và phản tỉnh. Giọng bình triển khai luận đề; lời nói cùng hoàn cảnh của nhân vật cung cấp chứng cứ xã hội; những cảnh đoàn quay bị phản đối hoặc chất vấn buộc bộ phim xem xét lại phương pháp và tư cách của người cầm máy. Để tồn tại, dự án phải duy trì hai lớp văn bản. Bản đề cương đáp ứng yêu cầu hành chính, còn bộ phim được xây dựng từ những gì đoàn quay thực sự chứng kiến trong đời sống.
Ngay lựa chọn Đồng Xuân Thuyết làm nhân vật cũng gây tranh luận trong cơ quan. Một số người cho rằng anh thiếu công trạng, danh hiệu, chức vụ và tư cách đảng viên, nên chưa đạt tiêu chuẩn của một nhân vật điện ảnh đáng kể. Trần Văn Thủy giữ quan điểm rằng một thân phận con người đã đủ tư cách bước vào phim. Xung đột nhỏ ấy chạm tới nền tảng mĩ học của điện ảnh tài liệu xã hội chủ nghĩa. Mô hình nhân vật điển hình thường yêu cầu cá nhân đại diện cho thành tích tập thể, phẩm chất giai cấp hoặc quỹ đạo tiến bộ. Đồng Xuân Thuyết chỉ có bệnh tật, tình bạn, nỗi sợ chết và mong muốn bạn bè làm được một tác phẩm có ích. Đưa anh vào vị trí mở đầu cùng kết thúc là hành động trả cá nhân về cho tính độc nhất của đời sống. Giá trị con người được tách khỏi bảng thành tích do thiết chế xác nhận. Phẩm giá không cần đợi lịch sử cấp giấy chứng nhận.
Cấu trúc phim được bao bọc bởi cái chết của nhà quay phim Đồng Xuân Thuyết. Từ cảnh viếng mộ trong ngày giỗ đầu, tác phẩm trở về những thước phim ghi Thuyết trên giường bệnh. Anh đọc “Quy luật của muôn đời” của Nodar Dumbadze, suy ngẫm về sức nặng của tâm hồn và sự tương trợ giúp con người chống lại nỗi cô độc do cái chết gây ra. Tiếng nói của người sống phủ lên đám tang của chính người ấy, phá vỡ thời gian tuyến tính và trao cho lời nói một đời sống hậu nghiệm. Thuyết dặn bạn bè làm phim bằng tình thương, biết “đi từ nỗi đau con người”, rồi đùa rằng nếu họ vô tích sự, anh sẽ đi trước và lôi họ xuống. Sự hài hước trong giờ phút cận tử cứu cảnh phim khỏi vẻ trang nghiêm giả tạo. Lời trăng trối lập ra giao ước đạo đức giữa người quay, người được quay và người xem. “Chuyện tử tế” mang dáng dấp một món nợ. Máy quay phải trả lời người chết bằng cách nhìn cho đúng giá trị của người sống.
Ngay sau lời ủy thác của Đồng Xuân Thuyết, một người thợ làm gạch xua đoàn quay ra khỏi lò. Ông yêu cầu họ ghi lại điều kiện sống thực tế và lên án thói quen dàn dựng những hình ảnh xa lạ với người lao động. Phản ứng ấy phá vỡ cảnh quay dự kiến, đồng thời thay đổi quan hệ giữa người quay và người được quay. Người thợ khước từ vai trò của một đối tượng thụ động, trực tiếp chất vấn cách điện ảnh mô tả đời sống của mình. Trần Văn Thủy giữ nguyên lời xua đuổi, tiếng chó sủa, bước chân rút lui của đoàn phim và lời tự nhận về nỗi xấu hổ nghề nghiệp. Việc đưa thất bại của đoàn quay vào tác phẩm tạo nên một thời điểm phản tỉnh quan trọng. Bộ phim công khai sự can thiệp của máy quay, thừa nhận di sản dàn dựng của điện ảnh minh họa và ghi nhận tâm lí mất niềm tin của người lao động đối với giới làm phim. Cảnh lò gạch xác lập một nguyên tắc đạo đức căn bản của phim tài liệu. Quyền ghi hình phải được xây dựng trên sự đồng thuận, niềm tin và trách nhiệm đối với người xuất hiện trước ống kính.
“Chuyện tử tế” sử dụng hệ thống biểu đạt quen thuộc của phim tuyên truyền rồi đảo chiều chức năng của hệ thống ấy. Giọng nam trầm, lời bình dày, phép dựng theo lối luận chứng và các trích dẫn danh nhân vốn phổ biến trong điện ảnh nhà nước. Trần Văn Thủy giữ hình thức quen thuộc nhưng chuyển mục tiêu phát ngôn từ ca ngợi sang chất vấn. Người thuyết minh xưng “chúng tôi” và gọi công việc làm phim là “nghề hèn, nghề mọn”. Cách tự nhận này bộc lộ khoảng cách giữa nhận thức nghề nghiệp và khả năng công khai những điều người làm phim nhìn thấy. Sau khi nhắc lại hàng loạt tác phẩm mô tả nhân dân chiến đấu, sản xuất, phấn khởi và tin tưởng, bộ phim đặt câu hỏi về đời sống vật chất cùng suy nghĩ thực tế của người dân. Phép dựng đặt các tên gọi nhà hát nhân dân, báo Nhân Dân, Ủy ban nhân dân và Tòa án nhân dân bên cạnh hình ảnh người dân chen chúc tại nhà ga, bán nước ven đường và gánh hàng kiếm sống. Sự đối chiếu ấy phơi bày khoảng cách giữa “nhân dân” trong danh xưng chính trị với con người cụ thể trong đời sống hằng ngày. Trần Văn Thủy dùng chính những chuẩn mực được nhà nước công bố để thẩm định thực tế do nhà nước quản lí.
Chuỗi phỏng vấn đường phố thiết lập một cấu trúc đa thanh hiếm gặp trong phim tài liệu Việt Nam thời điểm ấy. Một thanh niên thừa nhận việc xác định ý nghĩa của sự tử tế lúc bấy giờ rất khó. Một phụ nữ hỏi lại “Có được nói thật không ạ?” Sự ngập ngừng của người phụ nữ ghi lại tâm lí phải cân nhắc hậu quả trước khi phát biểu công khai. Chiếc máy quay thuộc một cơ quan nhà nước mời người dân lên tiếng, đồng thời nhắc họ về khả năng lời nói bị theo dõi hoặc quy kết. Những câu trả lời đưa ra nhiều cách hiểu khác nhau. Tử tế có thể là lòng nhân hậu, việc công ích, quan hệ nhờ vả, sự trao đổi lợi ích hoặc phẩm chất cần được giáo dục. Sự phân tán của các định nghĩa cho thấy chuẩn mực đạo đức chung đang bị xói mòn bởi tâm lí sợ hãi, quan hệ xin cho và nhu cầu sinh tồn. Bộ phim đưa vấn đề luân lí ra khỏi diễn đàn chính trị để xem xét trong ứng xử hằng ngày, đặc biệt qua cách cộng đồng đối đãi với những người yếu thế và thiếu khả năng tự bảo vệ.
Trường đoạn về người mắc bệnh phong kiểm chứng luận đề ấy bằng cách đảo ngược vị trí của người phán xét và người bị phán xét. Phim mở đầu bằng những thành kiến ngôn ngữ gắn bệnh phong với sự xấu xí, bẩn thỉu và lười biếng. Tiếp đó, Nguyễn Thị Hằng xuất hiện như một người mẹ bị chồng ruồng bỏ, đêm đêm dùng đôi bàn tay co quắp đóng mười tám nghìn viên gạch để dựng nhà cho con. Lao động của chị bác bỏ trực tiếp định kiến về sự lười biếng, còn câu hỏi trong lời bình chuyển sự phán xét đạo đức về phía những người lành mạnh từng khinh miệt chị. Bài thơ do Hằng sáng tác giúp nhân vật tự trình bày đời sống nội tâm bằng ngôn ngữ của mình. Cách thể hiện này vẫn đặt ra vấn đề về đạo đức biểu đạt. Những khuôn hình kéo dài trên đôi bàn tay tổn thương cùng việc thường xuyên nhận diện nhân vật qua căn bệnh có thể thu hẹp con người chị vào đau khổ thể chất. Bộ phim khẳng định nghị lực và tư cách chủ thể của Nguyễn Thị Hằng, đồng thời vẫn giữ dấu vết của cái nhìn thương cảm từ phía những người đứng ngoài kinh nghiệm bệnh tật.
Cuộc gặp các nữ tu tại trại phong Quy Hòa mở rộng cơ sở tư tưởng của “Chuyện tử tế”. Hàn Mặc Tử, lời thề Hippocrates, đức tin tôn giáo, đạo lí dân gian, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan niệm của Karl Marx được đặt trong cùng một hệ quy chiếu. Qua sự kết hợp ấy, tử tế được xác lập như một giá trị nhân bản chung, độc lập với mọi hệ thống tư tưởng riêng biệt. Dean Wilson nhận xét bộ phim tiến gần đến thái độ bất đồng, dù lập luận vẫn nằm trong diễn ngôn chính thống. Trần Văn Thủy dựa vào những tên tuổi được thừa nhận để tạo cơ sở chính trị cho sự phê phán. Các trích dẫn từ Hồ Chí Minh và Karl Marx giúp bộ phim nói về những nghịch lí xã hội bằng ngôn ngữ có khả năng vượt qua khâu kiểm duyệt. Ở phần kết, lời bình thừa nhận bộ phim đã dựa quá nhiều vào danh ngôn. Những người làm phim nói đùa rằng nhận xét do chính họ viết có thể bị người duyệt xem là tùy tiện hoặc vô giá trị, còn lời của một nhân vật kinh điển thường mặc nhiên được công nhận là chân lí. Từ đó, bộ phim dẫn câu được ghi dưới tên Karl Marx, “Chỉ có súc vật mới quay lưng lại với nỗi đau khổ của con người và chăm lo riêng cho bộ da của mình”. Cách kết thúc này cho thấy chiến thuật phát ngôn của Trần Văn Thủy. Ông dựa vào uy tín chính thống của Marx để đưa ra lời lên án sự vô cảm mà người duyệt phim khó bác bỏ. Đồng thời, bộ phim châm biếm một cơ chế thẩm định coi trọng tên tuổi của người phát ngôn hơn nội dung và sự thật của lời phát ngôn.
Tính luận đề mạnh tạo sức nặng tư tưởng cho “Chuyện tử tế”, đồng thời bộc lộ một số nhược điểm thẩm mĩ. Trường đoạn so sánh giáo dục Việt Nam với Nhật Bản chủ yếu minh họa cho một kết luận được chuẩn bị sẵn. Giọng bình phim định hướng cách hiểu trước khi hình ảnh và lời nói của trẻ em xuất hiện. Sự phê phán lối giáo huấn có lúc được triển khai bằng chính nhịp điệu giáo huấn, tạo ra nghịch lí giữa tinh thần phản tỉnh và hình thức thuyết minh. Một vấn đề phức tạp hơn xuất hiện trong trường đoạn thầy giáo dạy toán Lê Văn Chiêu đi bán rau. Thầy từ chối cho quay cảnh mưu sinh tại chợ vì lo hình ảnh ấy bị diễn giải như một lời bôi nhọ chế độ. Đoàn phim sau đó bố trí một người quay phim khác bí mật ghi hình. Trần Văn Thủy giữ cảnh quay và công khai phương pháp thực hiện, qua đó đưa chính hành vi ghi hình vào phạm vi tự xem xét của tác phẩm. Theo hồi ức của đạo diễn, thầy Chiêu về sau tìm xem phim và thừa nhận nội dung phản ánh đúng hoàn cảnh của mình. Trường đoạn cho thấy bầu không khí kiểm duyệt đã làm suy giảm niềm tin giữa người dân và người cầm máy. Nhân vật lo sợ hậu quả của việc xuất hiện trên màn ảnh, còn đoàn phim phải tìm cách ghi lại một thực tế xã hội có nguy cơ bị che khuất. Vấn đề đồng thuận vẫn là một nan đề đạo đức. Việc công khai phương pháp quay cho thấy tác giả ý thức về nan đề ấy và chấp nhận đưa tư cách của người cầm máy ra trước sự phán xét của khán giả.
Qua thầy Chiêu bán rau, cựu chiến binh Trần Thanh Hoài đạp xích lô và dũng sĩ Trần Xuân Tiến sửa xe, bộ phim tái hiện lịch sử hậu chiến từ sự suy giảm địa vị cùng điều kiện sống của những người từng được tôn vinh. Văn nghệ cách mạng từng đưa người nghèo vào vị trí trung tâm khi cần xây dựng tính chính danh cho cuộc đấu tranh. Sau chiến thắng, sự vắng mặt của họ trên màn ảnh phản ánh quá trình loại bỏ những thân phận không phù hợp với diễn ngôn thành tích. “Chuyện tử tế” trao lại cho họ nghề nghiệp, thương tích, lòng tự trọng và khả năng chất vấn. Câu hỏi của Trần Thanh Hoài về sự vắng bóng của người đạp xích lô trong văn nghệ giúp người lao động nghèo xuất hiện như một công dân có khả năng yêu cầu nghệ thuật giải trình. Nhận xét của một nhân vật về mối liên hệ giữa sự suy thoái nhân tính, cảnh đời nghèo khó và bất công xã hội tiếp tục mở rộng luận đề của phim. Khả năng sống đàng hoàng cần được bảo đảm bằng giáo dục, điều kiện vật chất, sự công bằng và niềm tin xã hội. Tử tế, theo cách đặt vấn đề ấy, vừa là phẩm chất cá nhân, vừa là kết quả của cách xã hội đối xử với con người.
Đám tang Đồng Xuân Thuyết hoàn tất cấu trúc vòng tròn của bộ phim, đưa tác phẩm về điểm xuất phát là cái chết của người đồng nghiệp. Người đào huyệt, đại diện cho một nghề thường bị xã hội xem nhẹ, thực hiện công việc cuối cùng cho mọi người, từ quan chức, học giả đến thường dân và kẻ phạm tội. Cái chết xóa bỏ cấp bậc xã hội; ảnh hưởng thiện ác của một đời người tiếp tục lưu lại trong cộng đồng. Lời bình mong mỗi người khi ra đi có thể để lại một thế giới tử tế hơn, với con người được chăm sóc chu đáo hơn. Giá trị của đời người được đo bằng những điều họ để lại cho người sống, đặc biệt qua phần đóng góp giúp giảm bớt đau khổ và sự hạ nhục. Khi thừa nhận hiểu biết của mình còn hữu hạn, người làm phim từ bỏ vị trí của kẻ nắm giữ chân lí cuối cùng và đưa chính phương pháp ghi nhận hiện thực ra xem xét. Sự thật trong phim tài liệu đòi hỏi chứng cứ cụ thể, thời gian tiếp xúc, mối quan hệ sâu sát với nhân vật và khả năng tự phê bình của người cầm máy.
Cuối năm 1987, “Chuyện tử tế” được chiếu rộng rãi cùng “Hà Nội trong mắt ai”. Các rạp Hà Nội đông kín khán giả, phim tài liệu lần đầu chiếm trọn một buổi chiếu và được bán vé như một tác phẩm độc lập. Sự chấp thuận trong nước vẫn đi kèm nhiều rào cản đối với việc lưu thông quốc tế. Tại Liên hoan phim Việt Nam lần thứ tám ở Đà Nẵng vào tháng Ba 1988, theo hồi ức của Trần Văn Thủy, ban tổ chức tránh chiếu phim công khai trước các đoàn nước ngoài. Yêu cầu từ những khách mời quốc tế, trong đó có nhà làm phim Cuba Santiago Alvarez, dẫn đến một buổi chiếu dành riêng cho các đại biểu. Khi Liên hoan phim Leipzig gửi thư mời, Trần Văn Thủy được phép xuất cảnh, còn bản phim buộc phải giữ lại trong nước. Một bản 35 mm sau đó rời Việt Nam qua các quan hệ cá nhân ngoài tuyến phát hành chính thức. Tại Leipzig, khi lời bình phê phán những nhà làm phim mải dò xét thái độ của cấp trên trước khi trung thành với hiện thực, khán phòng Đông Đức vang lên những tràng vỗ tay. Ban giám khảo sau đó trao cho “Chuyện tử tế” giải Bồ câu Bạc. Một bản phim từng bị ngăn cản ở khâu xuất ngoại lại được thừa nhận tại một liên hoan thuộc chính thế giới xã hội chủ nghĩa, tạo nên nghịch lí lịch sử giàu sức gợi. Hành trình ấy cho thấy kiểm duyệt can thiệp vào nội dung, đường lưu thông của tác phẩm và cả những nhóm công chúng được phép tiếp cận. Quan trọng hơn, sự hưởng ứng tại Leipzig đặt lời phê phán của Trần Văn Thủy trong cuộc khủng hoảng rộng lớn của nghệ thuật xã hội chủ nghĩa cuối thập niên 1980. Tại nhiều quốc gia cùng hệ thống, thẩm định hành chính lấn át phán đoán nghệ thuật, còn người sáng tác phải dự liệu phản ứng từ cấp quản lí trước khi đối diện với sự thật của đời sống. Tràng vỗ tay tại Leipzig mang ý nghĩa của một sự tự nhận diện. Qua câu chuyện Việt Nam, khán giả Đông Đức nhận ra kinh nghiệm văn hóa và tình thế tinh thần của chính xã hội mình.
Trên phương diện hình thức, Trần Văn Thủy chuyển khoảng cách giữa diễn ngôn chính thức và kinh nghiệm xã hội thành nguyên tắc dựng phim. Danh xưng chính trị được đặt cạnh thân phận nghèo khó, vinh quang chiến tranh cạnh cuộc mưu sinh hậu chiến, lời thề đạo đức cạnh cách con người thực sự đối xử với nhau, tiếng nói của Đồng Xuân Thuyết cạnh đám tang của chính anh. Giá trị hình thức của “Chuyện tử tế” còn nằm ở việc đưa vị trí của người làm phim vào chính quá trình lập luận. Giọng thuyết minh xưng “chúng tôi” xác nhận tác giả là một người tham dự, mang theo kinh nghiệm, lựa chọn và phần hiểu biết hữu hạn. Những lúng túng của đoàn quay, sự dè dặt của nhân vật cùng các quyết định phía sau ống kính đều được ghi nhận như một phần của hiện thực. Sự thật trong phim tài liệu qua đó được trình bày như kết quả của quá trình tiếp xúc, tìm hiểu và tự nhận thức giữa người quay, nhân vật và khán giả. Tính phản tỉnh ấy tạo khoảng cách rõ rệt với mô hình phim tài liệu minh họa, trong đó hình ảnh chủ yếu phục vụ cho kết luận được xác lập từ trước. Sức sống của tác phẩm bắt nguồn từ thái độ chịu trách nhiệm với điều được ghi nhận và sự khiêm nhường trước khả năng nhận thức hữu hạn của máy quay.
“Chuyện tử tế” đánh dấu một chuyển hướng quan trọng của phim tài liệu Việt Nam, từ chức năng minh họa các mệnh đề chính trị sang việc kiểm chứng chúng bằng kinh nghiệm sống của con người. Tác phẩm lấy những hậu quả mà lịch sử, chính sách và thành kiến để lại trên từng thân phận làm thước đo cho mọi lí tưởng được công bố. Trong quan niệm của bộ phim, sự tử tế là một chuẩn mực công cộng gắn lòng trắc ẩn với trách nhiệm, đạo đức cá nhân với công lí xã hội và lời nói về nhân dân với điều kiện sống thực tế của họ. Cách đặt vấn đề ấy giúp tác phẩm giữ nguyên sức nặng sau nhiều thập niên. “Chuyện tử tế” nhắc nhở hậu bối nhớ rằng phẩm chất của một xã hội phải được nhận biết qua cách xã hội ấy đối xử với người yếu thế, còn phẩm giá của điện ảnh được xác nhận qua khả năng ghi nhận trung thực những kinh nghiệm thường bị loại khỏi diễn ngôn chính thức. Bộ phim khép lại, câu hỏi về sự tử tế vẫn tiếp tục đặt ra như một yêu cầu đối với lương tri công dân và trách nhiệm của nghệ thuật.

Please Select Embedded Mode For Blogger Comments

Mới hơn Cũ hơn