VƯƠNG-TRÍ-NHÀN

TẠM PHÁC RA NHỮNG VIỆC CẦN LÀM


Tôi dừng viết Fb từ 4/8/2025 và bắt đầu ghi những trang nhật ký này từ 22/9/2025

22/9

Ngày 20/9/2025, tôi mất bốn tiếng đồng hồ để đi từ Sài Gòn về núi Bà Đen ở Tây Ninh, rồi lại mất bốn tiếng quay về, chủ yếu là phải đi qua mấy huyện ngoại thành Sài Gòn – Hóc Môn, Củ Chi… Càng đi chung quanh Sài Gòn, càng thương thành phố. Dân ngoại thành đa số là nông dân phải từ bỏ ruộng đồng để ra sống gần thành phố cho được an toàn. Nếu không có chiến tranh, chắc thành phố không trở thành một mớ hỗn độn như vậy. Giá không có chiến tranh chắc từ trước 1975 Sài Gòn đã có Metro. Tội hơn nữa là năm mươi năm nay, Sài Gòn chịu tô thuế, làm ra mười đồng thì phải nộp cho Hà Nội khoảng trên dưới tám đồng, như vậy thì còn lấy đâu để xây dựng thành phố và mở mang mạng lưới giao thông của mình. Sài Gòn hôm nay vẫn là một thành phố chiến tranh, lộn xộn, tạp nham. Từ ngoại thành vào ban đêm đi trên con đường Võ Văn Kiệt hơn mười cây số còn thấy tự hào. Ban ngày thì thành phố hiện ra vẫn lộn xộn nhếch nhác.

-

Suốt tháng chín, những trang mạng dòng ngược đều tập trung vào hai việc, cuộc mít tinh và phim “Mưa đỏ” làm theo tiểu thuyết của Chu Lai. Hồi 30/4 ở Sài Gòn cũng có duyệt binh nhưng không thấy có mấy lời chê trách, còn hôm nay ở Hà Nội, những trang mạng như của Hoàng Quốc Dũng (đang sống ở Paris) đã miêu tả cả cái đời sống tinh thần thảm hại của kẻ sống lạc lõng so với thời đại và sự hư hỏng của cả xã hội thông qua lớp người mà Hà Nội vẫn tự hào và gọi là công chúng.

Văn chương Chu Lai thì từ lâu tôi đã biết là một thứ văn chương lính tẩy, nay được Điện ảnh Quân đội chuyển sang những thước phim gọi là hoành tráng thì lại càng thấy tởm. Nhưng điều kì lạ là phim lại được người đi xem (chủ yếu là dân Hà Nội) cực kì tán thưởng, tính đến hạ tuần cuối tháng chín đã đạt doanh thu khoảng 700 tỷ. Bọn tuyên huấn rất lấy làm mát ruột. Trên các trang facebook, hễ có ý kiến chê trách là lập tức bọn bò đỏ (những dư luận viên được trả tiền) xông vào phản bác – tất nhiên là người tử tế nhưng dại dột vẫn còn rất nhiều.

Nếu được mở một trang fb chuyên đề, tôi muốn lập một nhóm thu thập bài vở theo chủ đề “Năm mươi năm miền Nam giải phóng miền Bắc”. Quả thật hiện nay những tiếng nói của miền Nam trước 1975 bao gồm những con em các gia đình được giáo dục nay còn ở trong nước lẫn những anh em vốn dân miền Bắc nhưng còn trẻ và tiếp nhận được đầy đủ văn hóa miền Nam, những anh em ấy mạnh mẽ lên tiếng làm lệch cả cái cán cân dư luận mà cả hai bên đối kháng đều nhận chiến thắng về phía mình.

Từ chỗ bị coi là tài liệu bất hợp pháp không đáng tin cậy, sách vở và cả báo chí miền Nam trước 1975 trở nên một thứ bằng chứng mà người ta có thể dựa vào để bác đi mọi tài liệu chính thống. 

-

24/9 

Đi Sài Gòn lần này, tôi định đến gặp nhiều bạn bè, Nguyễn Quân, Cao Tự Thanh, kể cả Huỳnh Như Phương (và Nguyễn Thị Thanh Xuân), và tất nhiên phải gặp Phan Cầm để bàn về cuốn “Nhật kí chiến tranh”. Chỉ nghĩ đến chuyện cùng một lúc mời được cánh Văn Việt, những Ý Nhi, Hoàng Dũng, Lê Học Lãnh Vân, Hoàng Hưng … đến một quán cà phê nào đó đã thấy vui rồi. Lúc cao hứng lên tôi còn nghĩ chuyện đến 82 Phan Kế Bính, bấm chuông xin gặp Bích Tiên để thắp hương tưởng nhớ Mai Liên, thấy cũng cảm động đấy chứ. 

Nhưng cuối cùng tôi chả gặp ai, chỉ tới Đường Sách, gặp anh Trần Văn Chánh khoảng gần một tiếng. Và sau hết tôi dành hơn một tiếng đến nhà Đoàn Công Tính, gặp Yến vợ Tính gầy đen xấu xí như một con ma già và Tính thì chỉ nằm đấy chứ không đủ sức ngồi dậy. Nghe Yến nói là Tính chỉ yếu hẳn đi do quá già (!) và bệnh sa sút trí tuệ chứ không có bệnh gì cụ thể. Quay trở về, tôi nghe bà Yến nhà mình bảo ông cũng cùng ấy tuổi mà lại còn tai biến, bây giờ còn bò được từ Hà Nội vào Sài Gòn thăm bạn thế là được quá nhiều rồi còn đòi hỏi gì nữa.

-

Hai tháng nay tôi bỏ hẳn viết fb, phần vì đời sống nhiều chuyện quá, tôi theo không kịp, phần vì trong đời sống tinh thần, xã hội đã chuyển hẳn sang một thời kì phân hóa rõ rệt, phần mới mẻ thì những anh em như Dương Quốc Chính, Sơn Hoàng Vũ, Đặng Thân… đã chuyển rất mạnh, phần vì bọn bò đỏ tức các dư luận viên cũng hoạt động quá mãnh liệt, hai bên quyết liệt cạnh tranh với nhau, giá kể tôi có muốn đọc hết cũng không đọc nổi. Tìm được bài viết nào hay – giờ đây các status trên fb nhiều khi cũng rất dài vài nghìn chữ – tôi đưa lại vào blog, mà cũng tự thấy rồi có lẽ phải bỏ thôi vì sức đâu mà theo kịp cả sự vận động đời sống hiện nay.

-

Đầu tháng tám 2025, đọc một cái tin, thấy nói ở Viện Văn học có cuộc hội thảo về nhà Tân Dân, tôi có viết một tham luận, dù sau này xem ra nó cũng chả đâu vào đâu, vì giới nghiên cứu bây giờ họ làm ăn bài bản lắm. Tuy nhiên tôi thấy hứng thú ở chỗ ông Vũ Đình Long hoạt động như một nhà văn hóa, và trong hoạt động của ông, tôi thấy toát lên một xu hướng làm văn hóa khác hẳn với cách làm văn hóa, của Trường Chinh, Tố Hữu về sau.

Một là ông VĐL không chính trị hóa văn chương, không giao cho nó những nhiệm vụ ghê gớm (hãy nhớ bài Là thi sĩ…) đặt nó làm đòn bảy xoay chuyển chế độ… Tuy vẫn nhớ tới những giáo lý của đạo Nho, nhưng do tiếp thu được nhiều quan niệm mới mẻ về văn nghệ của phương Tây, ông nhấn mạnh tới thứ văn chương giúp cho người ta nghỉ ngơi và sống cuộc đời vui vẻ. Bảo đó là “văn chơi” thì cũng được, tuy không bao giờ VĐL chấp nhận đẩy sự chơi đó đến tình trạng sa đọa. 

Hai là ông VĐL quan niệm văn chương là một thứ thương phẩm và sự sản xuất văn chương là năm trong chuỗi hoạt động thương mại. Trong khi TC – TH không thèm để ý tới hoạt động của tác phẩm văn chương trong lòng xã hội, thì ông VĐL lại rất chú ý. Ông tính toán làm sao để sách trở thành một thứ hàng hóa ngươi ta mua nó với một mức giá nhất định. Trong thời đại của lối làm ăn công nghiệp, VĐL cũng không quên tạo cho các cuốn sách một khuôn khổ, ra đời theo định kì, có thể sống mà cũng có thể chết tùy theo thời thượng.

Ba là ông VĐL có sự quản lý những người sáng tác ngược hẳn với những người cộng sản. Tuy gọi là có một nhóm nhà văn thuộc về nhóm VĐL, song thực tế là chẳng ai biết họ gồm những ai, tất cả có bao nhiêu người, những người ấy sinh hoạt ra sao, tư tưởng thế nào. Thậm chí những người được gọi là thuộc nhóm VĐL cũng chẳng ai biết ai. Họ làm việc trong cái xí nghiệp không có địa điểm, không có tên gọi, người nọ không hề biết người kia, hoặc có biết cũng là vì lí do khác chứ không phải là cùng thuộc nhóm VĐL. Trong khi ấy thì TC – TH đặt vấn đề phải quản lý các nhà văn như quản lý những người lính thuộc một đạo quân đặc biệt, giới lãnh đạo luôn luôn năm chắc tư tưởng cũng như mọi mặt sinh hoạt của từng người viết văn, các cấp bộ đảng gần như cầm tay chỉ việc cho họ và khen thưởng hay kỉ luật họ theo những tiêu chuẩn của đảng.  

https://baotiengdan.com/2025/09/21/tam-su-thang-chin

Nhưng những cuộc tranh luận quanh lễ duyệt binh, quanh bộ phim “Mưa Đỏ”, quanh chính sách “quà 100.000 VND cho mỗi người dân” lại cho thấy rằng: Việt Nam, từ trên xuống dưới chưa sẵn sàng bước vào “Kỷ nguyên mới”. Bất chấp những tiến bộ không thể chối cãi về kinh tế, về mức sống, về thay đổi trong nhận thức của giới trẻ, có những người vẫn tìm cách kéo níu xã hội trở về với cuộc sống tinh thần của thế kỷ trước. Từ trên chỉ đạo xuống vẫn là những hoạt động tuyên truyền rùm beng, ca ngợi những vinh quang của dĩ vãng. Từ phía dưới nổi lên là những lời khuyên chấp nhận “tập trung quyền lực” để công nghiệp hóa, để thoát nghèo.

 

Thực ra Việt Nam đã thay đổi rất nhiều từ khi không còn sống bằng viện trợ của Liên Xô vào cuối những năm 1980 (Đổi Mới). Bắt đầu từ “chấp nhận kinh tế đa thành phần”, rồi cho phép “phát triển kinh tế tư nhân dưới sự chủ đạo của kinh tế nhà nước”, đến coi “kinh tế tư nhân là thành phần quan trong nhất” mất gần 40 năm. Một quá trình chuyển biến tư tưởng rất chậm chạp.

-

8/10

Chuẩn bị cho Đại hội nhà văn, năm nay, ban chấp hành chỉ tính chuyện tổng kết theo kiểu gói gọn đời sống văn học trong năm mươi năm qua chứ không đặt vấn đề từ cách mạng tháng Tám, mà về mặt nội dung, cũng không xem những giai đoạn trước 1975 như văn học chiến tranh để rồi văn học sau 1975 sẽ là văn học hậu chiến. 

Khi xem xét năm mươi năm ấy, người ta cũng không tìm cách phân khúc, từ 1975 đến 1986, từ 1986 đến 1993 (theo Phạm Thị Hoài) và từ 1993 đến nay.

Cũng giống như bên chính trị, tất cả những lầm lạc, tìm tòi, chinh chiến, giành giật, … bị đẩy vào bóng tối và hiện lên trên sân khấu chỉ là những kẻ thắng trận.   

-

12/10

HAI MẢNG LỚN NGƯỜI VIỆT VÀ PHÊ BÌNH CỦA TÔI

Trong cơn bối rối tôi nghĩ rằng không chừng anh bạn Lê Thiếu Nhơn trong Sài Gòn có thể giúp tôi giải quyết chủ đề “Người Việt”.

Tôi đã viết lá thư sau đây:

“Chào bạn Lê Thiếu Nhơn. 

Còn nhớ có lần nhân đọc cuốn tiểu luận của nhà văn Văn Chinh, trong một bài báo, LTN đã có lời chê là mấy câu giới thiệu của VTN đặt ở đầu sách rất vô duyên. Phải nói thật là chính tôi cũng thấy như thế, và tôi cám ơn người đã nói ra điều tôi muốn nói. 

Hôm nay tôi xin nói với bạn LTN bằng những lời thành thật nhất của một ông già 82 tuổi (thật ra tôi sinh 1943 chứ không phải 1942, tuổi mùi chứ không phải tuổi ngọ, ngày xưa tính tuổi theo âm lịch nên mới có hiện tượng như vậy). 

Tôi thấy bạn bên cạnh văn thơ sáng tác và phê bình cũng có viết phiếm luận và bạn đã cho in một số đầu sách. Phần tôi gần như trong khoảng hơn chục năm cuối đời, tôi chỉ lo làm lo viết về đề tài người Việt cụ thể là những thói hư tật xấu của họ (mà gần nhất là tập "Cái vội của người mình", bạn đã có bài điểm sách trên báo Nông Nghiệp). Các bài này của tôi cũng chủ yếu đưa trên mạng, chứ không in báo nên lại càng hạn chế bạn đọc. 

Từ bảy năm nay, tôi bị tai biến sức khỏe ngày càng suy yếu, hiện những dòng trên thư này phải nhờ một bạn trẻ khác gõ máy hộ. Hôm nay đây, tôi muốn nhờ bạn LTN (nếu có thời giờ và thấy cùng một cách suy nghĩ) xem lại hộ tôi đống bài tôi đã viết, rồi nếu có thể, thì bổ sung bằng các bài viết của mình và biên soạn lại theo những chủ đề nhất định. Và như vậy chúng ta sẽ là đồng tác giả của một hoặc nhiều cuốn sách.

 Hôm nay buổi đầu làm quen tôi chỉ xin viết sơ sơ như vậy, nếu được sự đồng tình của bạn tôi sẽ viết tiếp. Chân thành xin lỗi. 

Tôi nhớ là đã có lần gặp LTN cùng với anh Tô Hoàng khoảng hơn chục năm trước. 

Chúc bạn khỏe viết đều”

Lê Thiếu Nhơn có vẻ muốn giúp tôi. Tôi sẽ gửi cho Nhơn hơn trăm trang “Bóng tối từ quá khứ”, tiếp đó là những bài nhỏ tôi viết về người Việt, rồi các sưu tầm bài vở của các tác giả trong nước cũng như có hẳn một phần “người nước ngoài nói về người Việt”.

-

CHỦ ĐỀ “PHÊ BÌNH VĂN HỌC” 

Từ cuối 2024, khi nhận được cuốn “Chân dung và lịch sử phê bình” của anh Sử, tôi đã nghĩ rằng cần có một cách hiểu về phê bình rộng rãi hơn. Tôi đã viết cho Ngô Văn Giá lá thư sau đây:

“Sau khi cuốn "Phê bình văn học Việt Nam - Lịch sử và chân dung" của anh Sử được in ra tôi đã nghĩ tới việc làm một thứ lịch sử phê bình văn học Việt Nam ở dạng phổ thông và dù là sơ lược, - rất sơ lược đi chăng nữa - nhưng bao quát hơn, ghi nhận được nhiều tên tuổi đã có mặt trong đội ngũ phê bình, dù là bây giờ không mấy người nhớ đến họ nữa. Người viết phê bình ở Việt Nam có cái số phận rất chán chường khi thì được đề quá cao rồi lại dìm xuống đất đen. Thời nay do nhiều người viết phê bình lại đồng thời là nhà giáo nên số phận của họ có khá hơn mặc dầu thật ra theo tôi đóng góp của số nhà phê bình này vào đời sống văn học đương thời là theo một kiểu khác hẳn. Tôi muốn nhắc tới số người viết phê bình đồng thời là nhà báo thỉnh thoảng viết, khi cần thì viết rồi cũng quên ngay cái đã viết. Trong đời tôi, số nhà phê bình loại này nhiều lắm và tôi cứ bùi ngùi nghĩ đến họ, dù chắc chắn rằng họ chẳng cần gì đến cái bùi ngùi của tôi và thực là họ đã đóng góp vào đời sống văn học một cách thường xuyên và vô tư nhất.

Đấy, đại khái đấy là cái lý do mà tôi đã viết cho VG chục ngày trước, tôi nghĩ đến cuốn giáo trình phê bình của bạn, và nhất là nghĩ tới bạn đã từng có nhiều học trò tham gia viết phê bình theo cái cách tôi nói ở trên, và nếu bây giờ bạn đứng ra làm chủ biên thì chúng ta sẽ có một bộ sách "người viết phê bình văn học trên báo chí Việt Nam thế kỷ XX". Theo tôi một cuốn lịch sử phê bình đại khái như thế này - và tiếp theo ta sẽ nghĩ thêm những đầu sách khác cùng chủ đề ví dụ như là "Hồi ức những người viết phê bình" - thì cũng đáng bỏ công ra mà làm, bạn Văn Giá ạ.

Nghĩ rằng bạn rất bận nên tôi xin phác ra nội dung chúng ta sẽ bàn khi gặp nhau như thế để bạn nghĩ trước và nếu thấy hào hứng thì chúng ta sẽ sớm gặp nhau để bàn tiếp.

Ngoài ra, tôi rất muốn bạn thử tìm xem trong số học trò của bạn, có em sinh viên nào có vẻ như là thích thú với những trang viết của tôi và nay muốn giúp tôi biên soạn lại (nghĩa là coi như đồng tác giả) những tập bài tôi đã viết và một số đang viết dở, thì xin giới thiệu với tôi một hai người để chúng tôi sớm làm quen với nhau. Văn Giá nhớ giúp tôi nhé”.

-

Đầu tháng 10 tôi mua ba quyển sách: 

“Lược sử văn học Đài Loan”, sách dịch 

“Nguyễn Đăng Mạnh – Chân dung và phong cách”, của nhóm Đỗ Ngọc Thống, Nguyễn Thị Bình 

“Lược sử văn học Việt Nam” do Trần Đình Sử chủ biên.

Cuốn thứ ba trên đây đúng là một cuốn lịch sử văn học mà có tính chất phổ thông. Nhìn qua tôi đã thấy nhiều điểm không ưng ý, phần viết về hiện đại quá dài từ tr.143 đến tr.273, còn lại là văn học cổ. Trong văn học đương đại, thì phần viết về văn học miền Nam của Huỳnh Như Phương có vẻ là một lối viết né tránh. Thực cũng là khó làm một quyển sách tổng hợp mà lại ngắn gọn, mặc dù rất thích nhưng giá có ai đề nghị tôi làm, riêng tôi thôi bao tất cả, thì tôi cũng không dám nhận.


Tôi đọc cuốn sách của các học trò làm về Nguyễn Đăng Mạnh một cách say sưa và lan man suy nghĩ như sau – 

- Anh Mạnh đúng là một tài năng nghiên cứu và phê bình. Riêng khả năng đọc của anh, đọc thật nhiều, đọc bao giờ cũng có thu hoạch riêng… thật là đáng sợ. Nhưng trong văn học Việt Nam anh chỉ biết văn học đương đại mà không biết văn học cổ, văn học cận đại (khi người Pháp mới sang). Anh cũng gần như không biết gì về văn học thế giới đương đại, cái xu thế phát triển của nó. Ngay từ khi đọc bản thảo cuốn hồi ký của anh, tôi đã nói đùa là hình như anh chưa đọc một cuốn hồi ký nào bao giờ, nhất là hồi ký của các tác giả nước ngoài.

- Anh Mạnh, rất mạnh trong khi tiếp xúc trực tiếp với các tác giả, vừa ghi chép được đầy đủ câu chuyện của đối tượng, vừa bắt được cái thần của họ. Gọi là chân dung văn học, nhưng các ghi chép mà anh công bố thực tế chỉ là những câu chuyện mà anh và nhà văn mà anh yêu quý đã trao đổi. Tôi nhớ tới những chân dung văn học của các tác giả nước ngoài và cả những tác giả trong nước (trong tủ sách của nhà xuất bản Kim Đồng). Tôi nghĩ các ghi chép của Nguyễn Đăng Mạnh cần được năng cao, bổ sung, khái quát hơn.

Giá kể còn đang tuổi thanh niên, tôi sẽ mở một trang fb chuyên về chân dung văn học và đăng lại các chân dung mà tôi coi là mẫu mực đáng để học theo. Quả thật đọc những trang Gorki viết về L.Tolstoi, Chekhov … tôi thấy bừng lên một nỗi khao khát viết về những đồng nghiệp đầy sức thuyết phục như vậy.

Cái thú vị khi đọc các ghi chép của Nguyễn Đăng Mạnh là ở vẻ mộc mạc của nó, bao giờ tôi cũng tin rằng đúng là anh Mạnh đã gặp Nguyễn Tuân như vậy, đã có những câu chuyện với Xuân Diệu như vậy. Anh là người biết nghe biết khai thác đối tượng. Nhưng tôi chờ đợi những phút xuất thần của anh, những khi trong việc giao tiếp với đối tượng, trong anh bừng lên một cảm giác, xuất hiện nhiều ý tưởng độc đáo kết quả của cả cuộc đời sôi nổi của anh. Thì tôi lại không bao giờ gặp. 


Please Select Embedded Mode For Blogger Comments

Mới hơn Cũ hơn