29 thg 1, 2015

L. Aragon và những đau xót của một nhà thơ khi thay đổi niềm tin chính trị

Nói tới Eluard, thì ngay lập tức người ta phải nghĩ tới L.Aragon (1897-1982).
Trên trang blog ngày 1-1-2015, tôi đã nhắc tới nhà thơ một phần, nay sẽ nói tiếp về ông.
Trước hết xin giới thiệu một bài thơ của Aragon  thường trở lại trong đầu óc tôi, mỗi khi nghĩ về sự vận động tư tưởng của bản thân và  một số bạn bè văn nghệ trong những năm này.
Tiếp đó là một số  suy nghĩ có liên quan tới bài thơ.
Sau cùng là một bài viết ngắn về Aragon tôi đã viết từ 1997 .

****   [Không đề ]
Cuộc sống tôi trôi qua  như những luống cày  bốc lửa trên bầu trời
Tôi nghe tận đáy sâu tiếng bước chân mình vọng vang xa ngái
 Tiếng hát tôi tưởng đã hỏng rồi đã xếp xó rồi  lại ngân lên lần nữa
Trên đầu ngón tay tôi lặng lẽ tính những ngày những tháng những năm

Đối với tôi vượt lên sự dối gian tràn đầy cuộc sống 
Chỉ có tình yêu tôi như một cây sồi đơn độc 
Chỉ có tình yêu tôi run rẩy một trò chơi
 Trên đời này, ngoài nó ra chẳng còn gì, chỉ có nó mà thôi

 Tất cả những gì tôi làm hướng tới em, là để cho em
Người làm vườn mỹ lệ đây lá cuốn cả vào phòng
Những bài thơ tôi viết, vẻ dại điên mỗi ngày lại hiện ra khuôn mặt mới
Tất cả để em yêu và mãi mãi  yêu em.

Từ sự tồn tại của tôi, như một chiếc gai cây, sự thất vọng lớn bật lên
Em làm quà cho tôi một mặt trời ngữ ngôn sáng chói
Tất cả những gì tôi gọi lên, có em trong từng bước
Em hồi phục trái tim tôi, em nặn lại nó rồi

 Chuyện thật lạ lùng hãy nhớ lại xem
Hầu như vào những năm lớn khôn ai cũng ra đi lần nữa
Để  ghi lại những chuyến đi, có thể vẽ cây vẽ cỏ
 Nhưng cần vẽ hơn cả  chính là thế  giới bên trong của mỗi con người

Tất cả sự  ví von đều vô hiệu, hình ảnh cần thiết chẳng tìm ra
Nung nóng mọi chữ nghĩa lên vẫn không đủ nói về ngọn lửa
Trong những đôi mắt thẳm sâu, hạnh phúc và ngọn lửa chập chờn nhảy múa
 Có thể kể làm sao với ai chưa thấy nó bao giờ

Hình như nhiều lúc tôi quên mình nhiều đau khổ
 Thật đau điếng đi, khi bẻ gẫy tay mình
Tôi ruồng rẫy thơ, như với bạn bè dứt  mọi mối quan hệ
Nhưng con đường rồ dại đời nào tôi chịu là chẳng có em

Tôi đã nói rằng thế giới này chẳng có gì kỳ diệu
Cái đích mà tôi đi tới thì không có tôi mọi người khác cũng đủ lo toan và công việc
Mỗi người trong họ nhìn tôi như một kẻ bề trên
 Vâng tôi đã khóc vì không có gì khác họ, nhưng là khóc trong tay em

Người ta nói với tôi khi không có bánh mì câu chuyện về hạnh phúc chỉ chuyện huyên thiên
Bầu trời thấp xuống kia buồn bã trong những giờ u ám
Và mỗi chúng ta sẽ sống sao trong những năm cay đắng
Thế đấy
Nhưng tôi  nhìn thấy một bầu trời khác rồi khi ở giữa tay em

Những đau xót của một nhà thơ
khi buộc phải thay đổi niềm tin chính trị
Số phận của phần lớn các nhà thơ hiện đại là phải dính tới chính trị. Aragon lại có cả một mảng thơ lớn  liên quan đến sự dấn thân của ông trong chính trị.
Đảng đã cho tôi sáng mắt sáng lòng –để ca ngợi cái tổ chức mà mình có mặt, còn câu thơ nào hay hơn câu ấy.
Nhưng rồi, như rất nhiều người cùng chí hướng của mình trong thế kỷ XX, sau đó, niềm tin của ông đã thay đổi.
Luôn luôn ông là người của sự quá đáng. Lúc tin ông cũng tin quá đáng,  mà sau đó không tin cũng quá đáng. 
Về lý trí, ông chấp nhận mọi sự thay đổi, trong khi  về tình cảm, ông như  muốn kêu trời, ông như chết lặng đi vì  sự thay đổi đó với ông là quá sức.
Tôi vốn thích các nhân vật đương thời coi là phức tạp, nên cứ để ý theo dõi ông mãi.
 Từ thời điểm của thế kỷ XXI này nhìn lại, chúng ta có thể bảo là ông đã rất dũng  cảm. 
Con tim của ông đã được một trí tuệ sáng suốt mách bảo để dám vượt qua lòng tin của mình thời trẻ, mà làm một cuộc đảo ngược thiết yếu.
Nhưng hồi ấy, người ta đã gán cho các ông đủ thứ tội lỗi, nào là suy đồi nào là phản bội, những cái tội tầy đình  mà một người yếu bóng vía không chịu đựng nổi . 
  Run rẩy đớn đau, nhưng Aragon đã thay đổi. Quá trình dằn vặt của ông được miêu tả  trong cái công thức sau đây  mà tôi nghe được qua  lời kể của Nguyễn Thành Long một nhà văn đàn anh hay đọc văn học Pháp đương đại “tối nào cũng tính tới chuyện ra đảng, mà sáng nào lại cũng phải nghĩ lại là phải ở lại đảng để đấu tranh cho niềm tin mới của mình”.
Từ trước 1975, đọc thơ Aragon  trong giai đoạn ông có những chuyển biến trong niềm tin chính trị mà bài thơ trên diễn tả, quả thật là tôi -- với tư cách một con người đang sống ở Hà Nội,  cái xứ sở bị bịt kín mọi thông tin đa chiều  -- cũng không biết là ông đúng hay những người chê trách ông đúng nữa.
Nhưng, những năm đó tôi đã mang máng cảm thấy có lẽ chuyện chính trị ở một nhà thơ chẳng mấy quan trọng như chúng tôi hằng nghĩ. Mà cái  cần được chia sẻ đặc biệt là người nghệ sĩ đã thể nghiệm sự thay đổi ra sao. Tức là tôi  thích  tìm trong những vần thơ  ấy ở cái khía cạnh tâm trạng của người đã tiêu hóa  sự thay đổi của mình, cái dấu ấn nó để lại trong tâm trí nhà thơ. Đây mới  chính là những bài học.

 Được viết ngay từ 1942, vở kịch Vũ Như Tô của Nguyễn Huy Tưởng được đặt sau một câu đề từ:
Than ôi! Như Tô phải hay những kẻ giết Như Tô phải? Ta chẳng biết. Cầm bút chẳng qua cùng một bệnh với Đan Thiềm.
Câu nói nổi tiếng tới mức nhiều người không đọc và không thích vở kịch nữa vẫn cứ hay đọc lại nó.
Vả chăng sinh thời Nguyễn Huy Tưởng, ông là một người phụ trách chủ yếu của Hội văn nghệ VN, nên người ta cũng không bới ra làm gì.
 Chứ thử nghĩ kỹ sẽ thấy, đây là một thứ tuyên ngôn nhấn mạnh tính chất phi tư tưởng của văn chương. 
Nhà nghệ sĩ không buộc phải bao giờ cũng đúng; nhiều khi họ đáng yêu đáng đọc lại ngay ở chính cái phần lơ mơ, kể cả cái gọi là sai lầm của họ. 
Họ vẫn đáng trọng hơn những kẻ đúng, trung thành, nhất quán nhưng không có một thứ mùi vị gì .

Trong một lần trò chuyện với nhà nghiên cứu thông thạo văn học phương Tây hiện đại Đặng Anh Đào, tôi nghe chị nói khẽ, nhưng  tha thiết như một lời tâm niệm:
-- Với các nhân vật lớn, chính nhân cách lại quan trọng hơn tư tưởng rất nhiều.

Đối chiếu với những vận động trong tư tưởng của những người trong giới cầm bút chung quanh, tôi chỉ thấy người ta hoặc là ù lì trơ tráo, bị ép chết trong những niềm tin hồi trẻ, hoặc là chuyển sang cái trận thế đối ngược một cách quá dễ dàng, dễ dàng như người ta quay ngoắt một chiếc xe đạp.
 Aragon, như trong bài thơ trên đã  bộc lộ ông cho thấy một tâm thế khác.
Rồi ông cũng vượt lên trên cái sức ép bão bùng cuả chung quanh đối với một người thay đổi.  Ông tìm thấy một chỗ dựa cuối cùng ở tình yêu. Ông bảo tình yêu sẽ cứu rỗi tất cả. Trong khi bảo mình như kiệt sức như tuyệt vọng, thì ông lại cảm thấy mình mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Con người nhân bản trong ông đã thay thế con người chiến sĩ. Mà cái phần nhân bản ấy mới là tinh chất làm nên một nhà thơ.

1-2015


Louis Aragon , con người của những đam mê và lầm lạc
Ngay cả trong thời kỳ kháng chiến 1946-54, nhiều văn nghệ sĩ Việt Nam theo tiếng gọi của kháng chiến vẫn chuyền tay nhau báo chí sách vở viết bằng tiếng Pháp, để tiếp thêm cho mình hiểu biết  và nghị lực.
Và trong những ngày đó, bên cạnh những Maurice Thorez, Jolio Curie, Paul Eluard v.v... có tên một người Pháp nữa, trở đi trở lại trong tâm trí nhiều văn nghệ sĩ và trí thức Việt Nam, đó là Louis Aragon: một Aragon từng nát lòng vì Paris đang rên xiết dưới gót giày phát xít khi "suối đã đục dòng chỉ lệ còn trong"; một Aragon có thơ được in bí mật, được người dân trong vùng địch hậu chuyền tay nhau và một Aragon ca ngợi Đảng của mình bằng những lời đẹp nhất:
Đảng đã cho tôi sáng mắt sáng lòng
Trước như tuổi thơ tôi nào biết được
.,.
Đảng đã cho tôi màu sắc nước non nhà...
Lời thơ có gì gần gũi, như chính nó được viết bằng tiếng Việt.
Nhưng đó không phải là hình ảnh duy nhất về Aragon mà chúng tôi được biết. Từ sau 1956, khi mà nhiều trí thức châu Âu trải qua những xao động lớn lao về tư tưởng, hoặc nói như chính Aragon, khi mà gió đã xoay chiều, thì một Aragon khác lại hiện ra với những người cầm bút nơi đây, Aragon của tiểu thuyết Tuần lễ thánh, những tiểu luận như Tôi lật con bài của tôi, Phải gọi sự vật bằng cái tên của nó, và tập thơ Quyển truyện bỏ dở với bao đớn đau day dứt:
Tôi chờ đợi một trùng dương hạnh phúc
Một tình ái không vướng dây trần tục
Suốt bình minh đến chiều xẩm mơ hồ
Nhưng cuộc đời thực tại chẳng nghe cho
Đời tạo những diệu kỳ theo kiểu khác
Đào Xuân Quý dịch
hay:
Hạnh phúc là một tiếng vô cùng chua chát
Ma quái nào che giấu nghĩa làm chi
Tóc ảo mộng và bàn tay huyền hoặc
Những cặp tình nhân ngày xưa đã mất
Hạnh phúc như vàng kia ôi tiếng dị kỳ
Nó lăn trên sàn như chiếc nhẫn lăn đi

Ai nói đến hạnh phúc mắt thường buồn da diết
Như tiếng than dài nỗi tuyệt vọng chua cay
Dây đàn dứt trong tay người đánh nhịp
Nhưng tôi cho hạnh phúc con người là có thật
Không phải trong mơ không phải trong mây
Mà nơi bến lạ bờ xa trên quả đất này
Tế Hanh dịch
Cũng may là ngay từ 1960, một tập thơ riêng của Aragon, đã được in ra với sự đóng góp của một lớp nhà thơ Việt Nam thạo tiếng Pháp. Đó là những Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Huy Cận, Tế Hanh, Đào Xuân Quý, Nguyễn Viết Lãm...
Nói may vì từ đó trở đi, nhất là từ sau 1965, ở Hà Nội chúng tôi, Aragon chỉ được nhắc tới một cách nhỏ giọt, và so với con người thật, và khối lượng tác phẩm đồ sộ của Aragon, thì chúng tôi được biết là rất ít, quá ít nữa.
Song cái lạ là ở chỗ ấy, có khi cái mà người ta không biết lại gần gũi hơn cái mà hàng ngày người ta vẫn thấy: từ đó cho đến khi nhà thơ qua đời, và ngay cả những năm về sau, Aragon trong một người như tôi đồng nghĩa với cả sự kiên trì làm người chiến sĩ lẫn sự dằn vặt trăn trở tìm đường mà bất cứ ai, sống với nghề cầm bút, từng có lúc trải nghiệm. Nhà thơ từng nói về mình, qua sự phân biệt với những người khác ở việc đi tìm chân lý.
"Tôi biết có những người sinh ra với chân lý, từ trong nôi họ đã không bao giờ lầm lạc, vì họ đã đến nơi rồi từ lúc còn thò lò mũi xanh. Họ biết điều gì là tốt, từ trước đã luôn luôn biết như thế... Tôi không giống họ. Chân lý không được phát hiện với tôi vào lúc chào đời. Tôi không được cha tôi, cũng chẳng được giai cấp của gia đình tôi chỉ bảo cho. Tôi học hỏi được điều gì đều phải do lao tâm tổn trí, tôi biết được điều gì đều từ kinh nghiệm xương máu mà ra. Không có một niềm tin chắc chắn nào đến với tôi mà không phải qua con đường hoài nghi lo âu, đau đớn của từng trải".
Thêm vào đấy, một Aragon hào hoa phong nhã, Aragon trong mối tình điên dại với Elsa Triolet, Aragon và cuộc tìm tòi một thứ văn xuôi ảo, trong những tiểu thuyết Giết chết, Blanche hay lãng quên, bấy nhiêu hình ảnh nối tiếp nhau để làm nên Aragon của một tình yêu không dễ dãi.
             Có một mẩu chuyện tuy nhỏ mà khiến tôi nhớ mãi, mỗi khi nhắc đến cái tên Aragon. Đây là câu chuyện liên quan đến nhà văn Nguyên Ngọc. Tác giả Đất nước đứng lên thuộc loại cán bộ quân đội được điều động trở lại chiến trường miền Nam rất sớm, từ 1962, và ông cũng thuộc loại ở đó kiên trì bậc nhất. Từ trước 1975, nhiều lần cấp trên tỏ ý sẵn sàng để ông ra Bắc chữa bệnh, Nguyên Ngọc vẫn xin phép được ở lại, chỉ yêu cầu thỉnh thoảng gửi vào cho ít sách. Trong số những cuốn sách mà Nguyên Ngọc nhờ người bạn mình ở tạp chí Văn nghệ quân đội  là Hà Trì gửi vào năm ấy (trước khi đi chiến trường, có gì Nguyên Ngọc bó lại đem gửi Hà Trì cả), có một cuốn sách tiếng Pháp. Cuốn này Nguyên Ngọc mua được ở Moskva trong một chuyến thăm Liên Xô khoảng 1957-58 gì đó. Ấy là cuốn Le Roman innachevé (Quyển truyện bỏ dở) trong đó có cả những câu mà ở trên tôi vừa trích, và những câu khác, đại loại:
Tôi nghe tiếng gà trong cùng tận đau thương
Trong đổ nát tôi vẫn mang chiến thắng
Dù xé rách những vì sao xa vắng
Trong đêm dài tôi vẫn chói vừng dương
Aragon trong chúng tôi là thế. Có lẽ chính vì những vết thương mà thế kỷ đã để lại trong tâm hồn ông và cả những vết thương ông gây ra cho chúng tôi - từ chỗ là một con người cuồng nhiệt, đã có lúc ông trở thành tượng trưng cho một Juda phản bội (người ta cố nhét vào đầu chúng tôi như vậy), -- mà Aragon càng trở nên gần gũi.
Sau này tôi còn được biết thêm một vài nhà văn nhà thơ Pháp khác cũng sống trong thế kỷ XX lớn lao và đau đớn này.
 Có người tỉnh táo hơn, chắc chắn là nhiều người sâu sắc hơn, một số khác trong sáng và thuần nhất hơn Aragon.
Nhưng đối với riêng tôi, tác giả Quyển truyện bỏ dở vẫn là nhà văn Pháp thân thiết bậc nhất. Hơn cả một giá trị tự thân, ông đã trở thành một điểm đối chiếu.
Khi giở các trang bách khoa toàn thư văn học hoặc các bộ lịch sử văn học Pháp, thường tôi tìm ngay xem trong cuốn sách ấy người ta viết về Aragon như thế nào, dài hay ngắn và lấy đó làm thước đo để xác định những chuẩn mực mà tác giả cuốn sách tra cứu ấy theo đuổi.
Trong sinh hoạt văn học, đôi khi tôi cũng hùa theo mọi người để tìm tới những nhà văn được coi là mốt, để khỏi mang tiếng tụt hậu. Nhưng lúc cần suy xét về đường dài, tôi thường chỉ đọc đi đọc lại những người mà tôi cảm thấy gần gũi, họ ở phía trước của tôi và có vẻ như cách tôi không xa, nếu cố gắng tôi có thể theo họ, đó cũng là con đường để tôi tìm ra chính mình.

1997