Trích " Hồi ký Nguyễn Đăng Mạnh "
----------
Hồi kháng chiến chống Pháp, có lần tôi đã được thấy Xuân Diệu. Lúc ấy tôi đang học ở trường Trung học kháng chiến đóng ở Đảo Gia - Phú Thọ. Tôi đi khám bệnh ở một bệnh viện ở Đại Đồng. Hình như anh cũng đi chữa răng thì phải. Có người biết Xuân Diệu, chỉ cho tôi. Anh đi xe đạp, mái tóc lượn sóng, rất thi sĩ.
Từ ngày về Hà Nội học, rồi
công tác ở Đại học, tôi có dịp đến Xuân Diệu mấy lần cùng với Nguyễn Duy Bình
và Hoàng Ngọc Hiển. Vào cuối những năm 60, sang những năm 70 của thế kỉ trước, tôi
luôn viết cho tạp chí Tác phẩm mới do Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Tô Hoài thay
phiên nhau phụ trách, vì thể luôn có dịp tiếp xúc với Xuân Diệu.
Xem chừng anh rất tín nhiệm
tôi. Có lần tôi ngồi uống cà phê với anh ở 24 Điện Biên, bỗng anh nói: “Đây là
hai tài nhân nói chuyện với nhau (Anh không nói nhân tài mà lại nói tài nhân)
Khi tập thơ Những năm 60 của Huy Cận ra đời. Xuân Diệu
đặt tôi viết bài phê bình đăng Tác phẩm mới. Anh nói. Huy Cận đang đi Pháp, Mạnh
phải viết thẳng tay, nêu rõ nhược điểm cho cậu ta đỡ chủ quan. Tập thơ nhiêu
bài yếu lắm. Khi viết bài ấy, anh có trao đổi góp ý với tôi
Biết anh mến tôi, tôi đến
anh luôn.
Xuân Diệu là người rất chu đáo, thiết thực và tiết kiệm. Chu đáo, thiết thực, tiết kiệm đến tỉ mỉ, chi tiết. Thây tôi viết bản thảo kín cả hai mặt giây, anh cho tôi một cuốn giấy báo, bảo rọc ra, viết một mặt thôi (Hồi này đời sống khó khăn đến nỗi giấy trăng để viết văn, viết báo cũng thiếu thốn. Tôi thường phải dọc giấy để dùng làm bản thảo những tờ giấy bỏ thừa không viết hết ở cuối những bài tập làm văn của học sinh, vợ tôi thường thu về nhà để chẩm).
Những lần tôi đến anh vào buổi chiều, mài nói chuyện đến gần tối, anh thường giục tôi về, vì đường thì xa, đi lại nguy hiểm. Anh nói: “Có thể ở nhà vợ lo bị cướp xe đạp ấy chứ". Có lần trời nắng, đi qua nhà anh, tôi tạt vào mượn cái mũ. Anh cho mượn cái mũ lá đã cũ (hình như của Hà Vũ con Huy Cân), vậy mà vẫn dặn phải giữ cần thân, khi nào ra Hà Nội trả lại anh. Có lần đang ngồi với anh, thấy có người nhà đem sách báo cũ ra bán cho hàng đồng nát. Anh gọi với theo: “Này, những cái bìa sách các tông đẹp, nhớ lấy lại mà dùng".
Thấy anh có một u già giúp việc (U Khang), tôi tưởng mọi việc chợ búa, bếp núc, anh chăng phải quan tâm. Vậy mà không phải. Anh tỏ ra rất thao giá cả thực phẩm ngoài chợ, giá trứng, giá thịt. Có lần tôi đã được nghe anh tính toán rất tỉ mì Ba quả tring gà 33 đồng, 2 quả trứng vịt lộn giờ 18 đồng một quả, nhân 3 là 36 đồng, bổ hơn 3 quả trứng gà chủ, 3 lạng thịt bò nhiều hơn 3 lạng thịt lợn, vì thịt bò nhẹ hơn. Nhưng 3 lạng thịt bò có bộ hơn 2 quả trứng vịt lộn không thì chưa rõ. Nhưng cũng phải đồi món chứ... Còn thịt chỏ thì thịt lẫn xương 4 đồng rưỡi một lạng, thịt năm 6 đồng một lạng..." (Tính theo giá tiền đầu những năm 1980). Thấy tôi nhiều khi có vẻ lơ đãng, cẩu thả, anh thường nói giễu. “Cậu đúng là nhà văn lớn”, hoặc “cậu nghệ sỹ quá, nghệ sĩ hơn cả mình”.
Một lần tôi đến Xuân Diệu
với con trai tôi là Nguyễn Đăng Thanh. Nó sắp đi nước ngoài học. Tưởng tôi đưa
con đến chào anh trước khi đi Liên Xô, anh rất cảm động. Anh sôi nổi dặn dò
cháu đến nửa tiếng đồng hồ.
Xuân Diệu thỉnh thoảng có
một chuyến đi xa, như đi Liên Xô, Pháp hay Ấn Độ gì đó. Bao giờ anh cũng chú ý
mua quà về cho những người thân. Nhưng không tuỳ tiện mà lập danh sách hẳn hoi,
và tuỳ từng người mà tặng các món quà khác nhau. Tôi cũng được nằm trong danh
sách ấy. Khi thì một cái áo sơ mi, khi thì một bao thuốc lá ngoại, sang nhất là
một cái đồng hồ đeo tay Liên Xô hiệu Pơndốt.
Xuân Diệu làm việc rất cần
cù. Một tấm gương lao động quyết liệt: đọc sách, dịch sách, viết văn, làm thơ.
Mùa hè, tôi thấy anh xoay trần ra viết. Nghỉ ngơi cũng là học tập. Anh mở nhạc
cổ điển ra nghe. Anh nói, cứ nghe nhạc mãi, dù không hiểu nó cũng thấm vào người.
Vậy mà có ai đến chơi, anh vội vàng xếp cả lại, tiếp đón rất nhiệt tình. Kể cả
người anh không ưa. Có một lần đang nói chuyện với anh, thấy một người ghé vào.
Anh tiếp rất niềm nở. Khi người ấy về, anh nói với tôi: “Sao tôi ghét thằng cha
này thế!”. Ghét mà vẫn tiếp chu đáo? Đoán biết tôi thắc mắc thế, anh giải thích:
“không tiếp nó lần sau nó không đến nữa”. Tôi nhớ lại, có lần anh nói: “Người
ta yêu vờ yêu vịt còn hơn là lạnh như tiền. Người ta vỗ tay để lấy lòng mình
thôi còn hơn là không vỗ tay”. Lại nhớ câu thơ của anh:
Và
hãy yêu tôi một giờ cũng đủ
Một
giây cũng cam, một phút cũng đành.
Thì ra Xuân Diệu rất sợ
cô độc. Rất lo không có ai thương mình, không có ai nhớ mình, tìm đến với mình.
Xuân Diệu rất sợ chết. Có
lần tôi đến anh. Anh chỉ bức ảnh bà má của anh mắc vào giá sách, nói: “Bà má
mình đấy. Bà ấy mất rồi. Không có bằng chứng gì chứng tỏ bà đã từng sống ở trên
đời”
Lần khác tôi đến anh khi
Như Phong vừa chết. Anh nói, Như Phong chủ quan, cho là mình khoẻ lắm. Không có
doute méthodique về sức khoẻ của mình.
Anh lắc đầu, lè lưỡi: “cái chết ghê gớm thật, nó biến con người ta từ plus infini thành moins infini!”.
Lúc đó tôi không biết nói
gì. Nhớ đến cái chết của Nguyên Hồng, tôi nói: “Nguyên Hồng cũng chết một cách
đột ngột” (giống Như Phong)
Xuân Diệu ngẫm nghĩ một
lát rồi nói: “Không, Nguyên Hồng chết rồi, nhưng cái văn của anh ấy vẫn còn rên
rỉ. Còn Như Phong, chết là không còn dấu vết gì nữa. Mấy bài phê bình, ai đọc!”
Xuân Diệu ngay từ nhỏ đã
rất có ý thức giữ gìn mọi tài liệu, bút tích của mình. Anh còn giữ nguyên năm
cuốn vở học sinh hồi học ở Quy Nhơn, ghi chép linh tinh đủ thứ: nhật ký, những
dòng suy nghĩ tản mạn, dịch thơ, tập sáng tác... Trải qua bao biến thiên của cuộc
đời, rồi những lần sơ tán trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, vậy
mà vẫn giữ nguyên, không sờn không rách. Một con người có ý thức rất cao về bản
thân mình.
Đọc mấy quyển vở ấy, tôi
thấy có một bài thơ anh đặt tên là “Những người chết trẻ”. Chắc là một người bạn
học của anh chết, anh xúc động làm bài thơ này. Bài thơ khá dài, gồm nhiều đoạn,
đoạn nào cũng chỉ xoay quanh cùng một ý. Chẳng hạn, đoạn một nói về các bạn gái
rất thương bạn, khóc. Nhưng rồi yêu người này, người khác và quên. Đoạn hai,
nói về các bạn trai, đoạn ba nói về anh chị em ruột, ý vẫn thế thôi: lúc đầu
thương, khóc, sau cũng quên. Đoạn cuối cùng nói về cha mẹ. Cha mẹ thì không bao
giờ quên con, nhưng cha mẹ sẽ già và chết. Thế là hết, chẳng còn ai thương nhớ
mình nữa:
Nhớ
các anh hoài chỉ mẹ cha,
Song
tro tàn lạnh không còn lửa,
Rồi
đèn mờ tắt. Thế là thôi,
Không
một người thương ở cõi đời.
Cùng một ý ấy – “Những
người chết trẻ” – tôi còn thấy một bài thơ khác ở dạng một bản nháp:
Vẻ
đẹp và non và mạnh mẽ
...
yêu như điên
Biết
bao hình bóng đầy vẻ thơ
Biết
bao khuôn mặt còn ngây thơ
Biết
bao mái tóc còn như tơ
Biết
bao cặp mắt đầy ước mơ
Sau
cái màn quên đã mịt mờ!
.............................................
Biết
bao chàng thanh niên đã chết
Đã
chết! Tiếng sao mà gớm ghê!
Đã
chết! Đã đi không còn về.
Mang
theo lực, tài, xuân, hương, huê
Đã
chết, tiếng sao mà thảm thê!
...................................................
Biết
bao chàng thanh niên đã qua
Như
gió xuân đi không để vết
.................................................
Thế
đấy, biết bao chàng thanh niên
Đã
chết trước khi chưa được sống...
Té ra, từ tuổi thiếu
niên, Xuân Diệu đã nghĩ đến cái chết, đã lo đến khi phải từ giã cõi đời này. Và
điều đặc biệt là anh đã nghĩ cách chống lại cái chết, nghĩa là trở thành bất tử
– bất tử trong lòng người.
Chống lại cái chết bằng
cách nào? Bằng cách làm thơ, anh gọi là “Thơ trái tim”.
Trong quyển vở học sinh,
quyển thứ ba (đề tập III, 1934), tôi thấy anh, ngay từ tuổi học trò, đã có hẳn
một lí thuyết về sự bất tử của thi ca. Anh viết một đoạn văn dài, đặt dưới cái
đầu đề: “Một bài thơ với một tên người”. Lập luận của anh như sau:
“Thơ là đồ chơi, là đồ ru
ngủ, là đồ không thiết thực, nghĩa là – sao không nói hẳn?- đồ bỏ. Các nhà tận
tâm về sinh kế của xã hội, các nhà thiết thực, các nhà nghiêm khắc nói thế. Phải
hay không tôi chẳng cần biết. Với Fontenelle, tôi muốn cho rằng ai cũng phải cả
(tout le monde a raison). Tôi chỉ để ý mà thấy rằng: Ba ngàn năm qua chôn nắm
xương tàn của Homère. Nói về danh vọng và bất hủ, đã ba ngàn năm Homère vẫn được
tôn sùng... Cái gì rồi cũng qua đi. Đế quốc Lamã, đế quốc Charlemagne. Nhưng
cái chết không diệt được cái gì không phải là vật chất. Mà cái đầu tiên không
phải là vật chất chẳng phải là thơ sao? Thơ - cám dỗ của mơ màng...”
“Với những khúc anh hùng
ca (épopée) Jliade, Odyssée -- Homère sống đến nay... Song thiên tài thời bất hủ
là lẽ cố nhiên. Phải chăng thơ có cái ma lực siêu việt thời gian, mà đến những
người chỉ có tài (talent) cũng có thể sống ở trong thơ, hơn nữa, trong một bài
thơ?”
“Một bài thơ cứu một tên
người, vớt một tên người ở trong giòng thời gian nó lôi cuốn sự vật vào miền
quên lãng?... Phẩm hơn lượng, le sonnet sans défaut vaut, seul, un long
poème... Nhưng vài câu thơ trong ấy rung động những trái tim lại đáng giá bằng
mấy bài sonnet không nhầm lỗi... Ta để ý xem, những bài thơ cứu một tên người,
khá nhiều là thơ tình cảm, thơ trái tim. Tư tưởng có thể thay đổi, bây giờ còn
ai muốn nghe những lời biện thuyết của Luther, những bài thơ của Rousseau, bây
giờ ai ưa?... Nhưng trái tim người... khi nào cũng có những trẻ con, những bà mẹ,
những cô gái, những mẹ già, nghĩa là những con người, họ yêu thương, họ vui vầy,
họ đau xót... Cho nên tiếng kêu than của Trác Văn Quân vẫn còn tìm thấy tiếng
vang trong lòng những cô Bạch Lệ ảnh”.
“Ở đây tôi không nói những
danh sỹ như Ronsard, họ có dư thơ để mà sống trường cửu. Tôi chỉ nói những nhà
thi sĩ còn ở trong trí nhớ nhờ một bài thơ. Những nhà thơ ấy cũng có làm nhiều
bài, song chỉ được có một bài xuất sắc. Trên dòng thời gian vô cùng tận, họ chỉ
có một chiếc lá thả trôi đi. Tôi không biết thơ Tàu cho nhiều. Song tôi vẫn
nghe tiếng nàng Ban, ả Tạ. Tôi vẫn còn nhờ ý tứ bài thơ vịnh quạt của Triệu Yến
Phi. Có lẽ trong văn Tàu, người ta cũng còn nhớ đến nàng, nhờ bài thơ kia”. Còn
ai không biết đến bài “Hồi văn” của Tô Huệ? ở đây mới đúng cái trường hợp một
bài thơ với một tên người...
Như vậy là đối với Xuân
Diệu, điều quan trọng nhất không phải là chuyện văn chương thơ phú mà là chuyện
làm sao được sống mãi với đời, sống mãi với nhân loại. Văn chương thơ phú chỉ
là phương tiện để giúp anh sống mãi trong lòng người, một thứ vũ khí để chống lại
cái chết. Và tôi hình dung cả cuộc đời lao động nghệ thuật quyết liệt của Xuân
Diệu là một quá trình quyết đấu với cái chết.
Trong mấy quyển vở học
sinh ấy, tôi còn thấy điều đặc biệt này ở con người Xuân Diệu: luôn đòi hỏi
tình cảm cao độ, tình yêu mãnh liệt, yêu phải hết mình. Trong mấy quyển vở nói
trên, thỉnh thoảng lại thấy có một đoạn nhật kí.
Có một đoạn nhật kí như
thế này: anh ghi tâm trạng rất đau khổ của mình, đau khổ đến mức như là thất
tình vậy. Lúc đầu tôi cứ tưởng thế, chắc là một cô bạn gái nào đấy – vì anh viết
tắt tên cái người mà anh cho là không còn yêu anh nữa. Đọc tiếp mới biết không
phải. Đó là một anh bạn trai. Và lí do rất trẻ con: “Hôm ấy mình đến mượn B cái
quần đùi. B. nói, chốc nữa mình đi đá bóng, không cho mượn được”. Có thế mà đau
khổ! (Khi trả lại mấy quyển vở, tôi nói với Xuân Diệu như thế – Lúc đầu tưởng
là bạn gái, hoá ra là bạn trai - Xuân Diệu ngồi im một lát rồi bảo tôi: “Này, đừng
nói với ai nhé, người ta hiểu lầm!).
Mấy trang sau, tôi lại thấy
một đoạn nhật ký nữa. Cũng vẫn là nỗi đau khổ nói trên – Và vẫn là cái anh B.
nào kia. Lần này, lý do khác: có một gánh hát cải lương Nam kỳ ra biểu diễn ở
Quy Nhơn. Học sinh mua vé đi xem. B. không có tiền, vay một bạn nào đấy tiền
mua vé. Xuân Diệu biết được. Thế là lại đau khổ như là thất tình: bạn bè với
nhau, không có tiền, không nói với mình một tiếng, mà lại đi vay người khác.
Trong mấy quyển vở nói
trên, Xuân Diệu tập viết đủ loại văn thơ nhưng tôi để ý thấy, dù viết thể văn
nào thì chủ yếu cũng quay quanh tình bạn. Và dù là thơ hay văn xuôi, dù là dịch
thơ Pháp, thơ Tầu thì cũng thể hiện sự khao khát tình bạn đến cuồng si mà không
được đền đáp xứng đáng. Một cái tôi cảm thấy cô đơn, vắng người tri kỷ. Ví dụ,
đây là một đoạn văn như thế:
“Tôi là một đứa si, gặp bạn
thì yêu hết lòng, xa nhau một khắc thời lấy làm nhớ, thế mà giứt mối tình một
cách mau chóng như thế, làm sao mà chịu nổi phẫn uất, lòng hận sầu? Đêm hôm ấy
nằm mà thở dài một mình, sáng dậy viết cái thư thật dài, gửi cho bạn:
Ôi!
Nhân sự.
Trọng
của nỡ khinh người!
Vẫn
tưởng lòng son in một tấm
Đâu
ngờ dạ thế trắng như vôi!
“Bao nhiêu tình đem tặng
bạn tôi, bạn tôi đã không nhận mà quăng xuống đất bùn trả lại cho tôi. Tôi chỉ
xin nhặt lại, rửa cho tinh khiết như cũ, rồi đem chôn kỹ trong một góc quả tim
tôi vậy. Bây giờ tôi chưa quên được tình cũ, song ngày qua tháng tới, có một
ngày cũng sẽ quên. Than ôi! Vũ trụ mang mang, nước non rộng lớn, từ đây đến lúc
chết, suốt một đời há lẽ không kiếm được khách thân bằng ư?”
Luôn luôn đòi hỏi tình cảm
cao độ, nên Xuân Diệu thường dễ có mặc cảm người ta lạnh nhạt với mình. Có một
lần, lâu tôi không đến thăm anh. Khi gặp, anh nói dỗi: “Cậu bây giờ nổi tiếng rồi
nên chán mình chứ gì?”.
Tôi nhận thấy Xuân Diệu
có một cái gì như là có chất đàn bà vậy – hay hờn dỗi. Và khác hẳn với Nguyễn
Tuân, anh hay bộc lộ thẳng tình cảm với những người mà anh quý mến.
Thực tình tôi không hiểu
sao Xuân Diệu lại có thể thân với Huy Cận. Họ quả cũng có những chỗ hợp nhau.
Nhưng Huy Cận đâu phải hạng người tử tế, ngay cả trong tình bạn với Xuân Diệu.
Hai ông bạn, có chỗ này
quả là giống nhau: cùng ăn rất khoẻ và chỉ thích thịt cá, trứng vịt lộn, nghĩa
là những thứ nhiều prôtit.
Hồi khoa văn Đại học sư
phạm Việt Bắc đưa sinh viên về Hà Nội (đóng ở Cổ Nhuế) để mời các nhà văn đến
nói chuyện, tôi có được nhờ tiếp khách hộ. Tôi thấy Xuân Diệu rất thích uống
bia và húp trứng sống. Anh còn nói, tối nào, cần viết một cái gì thì buổi chiều
thế nào cũng phải mua ba lạng thịt chó để bồi dưỡng. Có thế mới có sức viết
(Xuân Diệu chết vì bị nhồi máu cơ tim, tức là máu nhiễm mỡ, cần kiêng ăn nhiều
thịt, trứng. Khi anh mất, Vũ Tú Nam nói, Xuân Diệu đã bồi dưỡng nhầm là vì thế).
Huy Cận cũng vậy. Phải nói là tham ăn.
Nhưng điều rất vui là,
tuy cùng ăn khoẻ mà Huy Cận thì được khen là bình dân, còn Xuân Diệu thì bị chê
là tham ăn. Nguyễn Khải thấy như thế, khi tháp tùng hai cây bút đàn anh này vào
tham quan Nam Ngạn, Hàm Rồng, mừng thành tích bắn máy bay Mỹ (năm 1965). Họ
chiêu đãi các vị. Quan ăn tham (Huy Cận) thì gọi là bình dân, còn dân (Xuân Diệu)
thì gọi là tham ăn. Đúng là một dân tộc chỉ trọng quan lại.
Hai ông bạn còn có chỗ
này cũng giống nhau: có ý thức giữ đầy đủ những bản thảo các tập thơ làm trước
cách mạng tháng Tám. Giữ nguyên cả những bản nháp từng bài một. Một bài thơ có
thể có tới ba bốn bản nháp, từ bản này sang bản khác, sửa chữa thế nào cho đến
bản cuối cùng khi bài thơ được hoàn thiện. Chẳng hạn như bài Nguyệt Cầm của
Xuân Diệu (lúc đầu đặt tên là Đàn trong trăng sáng). Trước khi trở thành một
thi phẩm tuyệt tác mà ta đều biết, bài thơ đã trải qua nhiều bản nháp, trong đó
có những câu còn rất thô sơ vụng về như:
Nhỏ
giọt vào trăng, đêm thuỷ tinh
Linh
lung bóng sáng bỗng run mình
Vì
nghe tới đoạn giai nhân chết
Xanh
ngắt không mây nguyệt một mình.
Riêng câu kết, có tơi bốn
lần nháp khác nhau:
...
Đàn ơi, người đẹp đến tê mê
...
Thôi mà! âm nhạc giết tôi đi!
...
Dịu dàng âm nhạc giết tôi đi!
...
Đàn ơi! Âm nhạc giết ta đi!
Cuối cùng mới tới được
câu kết tuyệt vời này:
Nghe
sầu âm nhạc đến sao Khuê
Tài liệu này rất quý. Từ
những bản nháp này, có thể nghiên cứu viết được những công trình khoa học rất
hay về ngôn ngữ thơ ca, về lao động nghệ thuật... Xuân Diệu sẵn sàng cho tôi mượn.
Rất tiếc hồi ầy chưa có photocopy dễ dàng như sau này. Chép tay thì biết đến
bao giờ, nhất là lại chép cả những chỗ dập dập xoá xoá, viết đi, viết lại, rất
ngại.
Bây giờ Xuân Diệu mất rồi.
Tất cả ở trong tay Huy Cận.
Có lần tôi định dùng mẹo
để lấy ra từ tay Huy Cận. Tôi hướng dẫn một cô sinh viên làm luận văn cao học,
tên là H T H, về Lửa thiêng. Cô này khá xinh đẹp, lại khôn ngoan. Tôi giới thiệu
cô đến Huy Cận để hỏi han, trao đổi, dần dà thân mật, sẽ mượn cho tôi tập bản
thảo kia, lúc đầu là bản thảo Lửa thiêng của Huy Cận, sau đến bản thảo Thơ thơ,
Gửi thương cho gió của Xuân Diệu. Bây giờ sẵn photo rồi, chỉ cần mượn ra nửa tiếng
đồng hồ là có thể chụp được hết.
Tôi đã thất bại. Huy Cận
tìm cách lợi dụng cô này mà không chịu mất gì. Thái độ gạ gẫm lộ liễu, rất tởm,
đại khái đặt tập bản thảo bên cạnh, cầm tay cô và nói: “Phải thế nào mới cho mượn
chứ!”. Sau này tôi mới biết, đừng hòng lấy không một cái gì ở ông ta. Anh Hà
Minh Đức đã bị một vố rất đau: trả ông ta mấy triệu để lấy bút tích và bức ảnh
của ông thời trẻ. Anh chỉ nhận được một bản photo! ảnh cũng photo!
Tôi không hiểu sao Xuân
Diệu lại có thể tin cậy Huy Cận đến thế. Ông bạn này đã gây khó khăn cho người
ta nghiên cứu Xuân Diệu, lại định dùng tài liệu của Xuân Diệu để kiếm chác. Cái
phòng ở của Xuân Diệu, dù cho vốn thuộc quyền sở hữu của Huy Cận, lẽ ra cũng
nên giữ nguyên để làm bảo tàng ông bạn. Huy Cận đã xoá hết dấu vết, dọn dẹp đi
hết. Rồi hai bố con tranh nhau. Vậy là người có tội lớn nhất đối với Xuân Diệu
lại chính là ông bạn thân thiết số một của anh. Xuân Diệu muốn sống mãi trong
lòng người. Đó là điều anh tha thiết nhất lúc sinh thời. Vậy mà chính ông bạn
“quý” kia đã phản lại anh ở chính cái điều anh vô cùng tha thiết ấy.
Tuy nhiên tìm hiểu quan hệ
giữa Huy Cận và Xuân Diệu, thấy tình bạn thân thiết giữa hai người là có thật.
Năm 1940, sau khi đỗ tú tài, Xuân Diệu học luật một năm rồi thi vào ngạch tham
tá nhà đoan và được điều vào làm việc ở
Mỹ Tho cho đến 1943. Thời
gian này Huy Cận vẫn đi học. Khi Huy Cận đỗ kĩ sư canh nông, có việc làm, Xuân
Diệu liền xin thôi việc trở lại Hà Nội ở với Huy Cận, sống nhờ vào lương Huy Cận.
Nguyễn Công Hoan nghe nói chuyện này, hỏi: “Thế không sợ Huy Cận nó đá đi à?
Lúc ấy thì sống bằng gì mà bỏ việc?” Xuân Diệu nói: “Lúc bấy giờ tôi không hề
nghĩ đến tình huống đó”.
Đúng là lãng mạn! Tôi biết,
thời Tây, tham tá (commis) thuộc loại viên chức cao cấp, lương khá lắm. Bỏ đi dễ
dàng như vậy quả là rất lãng mạn và tỏ ra tin tưởng tuyệt đối ở tình bạn. Tuy
nhiên tình huống “Huy Cận đá”, tôi nghĩ khó xảy ra. Vì Huy Cận nhà nghèo, tuy
có học bổng nhưng còn phải nuôi hai em đang học ở Thanh Hoá. Xuân Diệu thường
giúp đỡ bạn rất cụ thể. Thời gian làm tham tá đoan ở Mỹ Tho, anh cứ đều đều gửi
ra cho Huy Cận mỗi tháng 10 đồng. Khi Huy Cận tham gia cách mạng, Xuân Diệu còn
vào tận quê Hà Tĩnh, lo thu xếp gia đình cho Huy Cận để bạn an tâm công tác. Mặt
khác, trong hoạt động sáng tác, Huy Cận cũng cần một chỗ dựa là Xuân Diệu. Xuân
Diệu sớm có chân trong Tự lực văn đoàn, như vậy là có thanh thế lắm (Huy Cận
tha thiết xin vào Tự lực văn đoàn nhưng không được chấp nhận).
Tôi đã được chứng kiến
Huy Cận sẵn sàng quy phục và tỏ ra phụ thuộc vào Xuân Diệu như thế nào: Hôm ấy
tôi đến Xuân Diệu, thấy Huy Cận ở trên gác xuống, ăn mặc chỉnh tề, cứ loanh
quanh ở căn phòng của Xuân Diệu. Thấy tôi, Huy Cận khoe vừa dịch bài thơ tình của
Arvers (Sonnet d’Arvers): “Mon âme a son secret, ma vie a son mystère”. Bài này
đã có một bản dịch rất được truyền tụng của Khái Hưng “Lòng ta chôn một khối
tình, Tình trong giây lát mà thành thiên thâu...”. Huy Cận đã đọc cho tôi nghe
bản dịch của anh và lấy làm đắc ý: “Tôi dịch sát nghĩa hơn bản dịch của Khái
Hưng chứ!”
Xuân Diệu mắng luôn: “Dịch
sát nghĩa mà là hay à?”
Xuân Diệu rót nước ra cốc
mời tôi uống. Huy Cận hỏi: “Nước mơ hả?”.
Lại bị Xuân Diệu mắng:
“Mơ mơ cái gì, làm gì có mơ!”
Thấy Huy Cận cứ nói chuyện
với tôi, Xuân Diệu lại mắng nữa: “Anh Mạnh anh ấy đến chơi với tôi chứ, sao cứ
nói mãi thế!”.
Tôi rất lấy làm lạ: Sao
Xuân Diệu cứ mắng Huy Cận như mắng con nít mà toàn chuyện chẳng đáng gì cả!
Thì ra sáng hôm ấy, Huy Cận
hẹn với Quang Huy ở Nhà xuất bản Văn học tới làm việc về một tuyển tập thơ của
mình, cho nên ăn mặc chỉnh tề và cứ loanh quanh ở tầng một, phòng Xuân Diệu.
Một lát, Quang Huy đến.
Huy Cận ra làm việc với Quang Huy ở phòng ngoài. Xuân Diệu giải thích với tôi:
“Dạo này làm được mấy bài thơ, cứ hoắng lên. Mình phải mắng cho cụt hứng đi, đỡ
chủ quan. Cứ tưởng bở!”
Làm việc với Quang Huy một
lát, Huy Cận chạy vào báo cáo với Xuân Diệu, đại khái nói, Huy đề nghị bỏ mấy
bài nào đấy và Cận thấy cũng phải.
Xuân Diệu nổi nóng:
“Không bỏ! Sợ mất ghế thứ trưởng à?”
Huy Cận nhăn nhó: “Khổ
quá, sợ gì đâu. Thấy Huy nó nói cũng có lý”.
Thì ra tuyển thơ của mình
như thế nào, Huy Cận cũng phải báo cáo với Xuân Diệu.
Xuân Diệu đúng là chỗ dựa
của Huy Cận trong đời và trong sáng tác. Nhưng khi ông bạn chết rồi thì còn cần
gì nữa. Máu tham và thói ích kỉ, bần tiện liền trỗi dậy và giết chết luôn tình
bạn.
Xuân Diệu không chỉ cần
cù đọc sách, làm thơ, anh còn rất chăm chỉ đi nói chuyện. Đâu mời cũng đi. Đối
tượng nào cũng nói. Các bà cấp dưỡng, các nông trường viên mời cũng đi ngay. Lại
còn gợi ý cho người ta mời nữa. Anh thường nói với tôi khi lâu lâu tôi không mời
anh nói chuyện với sinh viên: “Phải khẩn trương khai thác mình đi chứ!”. Đối với
mỗi đối tượng, anh đều rút kinh nghiệm nói sao cho hấp dẫn. Anh tính toán rất tỉ
mỉ, từ sự sắp xếp nơi nói chuyện ra sao, cự li người ngồi nghe thế nào, mùa hè
khác, mùa đông khác, thỉnh thoảng lại phải xen vào một câu chuyện vui cho không
khí đỡ tẻ. Đặc biệt anh hay kết hợp phổ biến “sinh đẻ có kế hoạch” (không hiểu
sao Xuân Diệu luôn luôn lo lắng đến chuyện này). Anh nói một hồi mà không thấy
vỗ tay, rất dễ mất hứng. Nhiều khi không kiên nhẫn được nữa, anh hỏi thẳng người
nghe: “Sao, có thích không? Thích thì phải vỗ tay lên chứ!”
Xuân Diệu rất sợ thái độ
lạnh nhạt, dửng dưng. Anh cho có nhiều thằng đàn ông rất ngu, vợ nấu cho món ăn
ngon, cứ chén hùng hục mà không biết khen lấy một câu. Tôi nhớ câu thơ của anh:
Em
có tài nấu nướng
Anh
có tài ngợi khen.
Xuân Diệu thích nói chuyện
với giáo viên nhất.
Đầu năm 1985, Hữu Thỉnh,
sau đại hội nhà văn lần thứ III, là uỷ viên chấp hành phụ trách nhà văn trẻ.
Anh mời chúng tôi đi Tuyên Quang bồi dưỡng một lớp nhà văn trẻ ở các tỉnh miền
núi phía Bắc. Đoàn có Xuân Diệu, Chính Hữu, Lê Lựu, Nguyễn Thành Long, Vương
Trí Nhàn và tôi.
Giáo viên trường Cao đẳng
Sư phạm Tuyên Quang, nhân dịp này, mời Xuân Diệu đến nói chuyện. Hôm sau họ lại
mời tôi. Xuân Diệu bảo tôi: “Giáo viên họ mời thì nên đi. Nói chuyện với giáo
viên lợi lắm. Nói với người khác, một người nghe là chỉ một người. Nói chuyện với
giáo viên, một người nghe bằng hàng trăm người. Vì các thày cô giáo lại nói lại
với học sinh của mình”.
Đi nói chuyện là một yêu
cầu tự thân của Xuân Diệu. Anh có nhu cầu được tiếp xúc và trò chuyện với nhiều
người, thật nhiều người. Cho nên ở mấy ngày với anh ở Tuyên Quang, tôi thấy anh
đi nói chuyện liên miên. Nói sáng, nói chiều, nói tối, khản cả cổ. Được có thêm
một người biết đến mình, anh sướng lắm. Cho nên anh thường nhắc đi nhắc lại câu
chuyện về một anh hàng nước mía nào đấy ở Tuy Hoà (Phú Yên) biết anh là nhà thơ
Xuân Diệu và đãi anh một cốc nước mía bốn đồng: “Thi sĩ cỡ như tôi có thể được
tổng thống mời tiệc ấy chứ. Nhưng được một anh hàng nước mía biết đến, khó lắm!”
Xuân Diệu nói một cách đầy tự hào.
Xuân Diệu luôn luôn có ý thức bảo vệ Thơ mới và văn học lãng mạn. Ai đụng đến Thơ mới là không xong với anh. Anh ghét Vũ Đức Phúc, Phạn Cự Đệ, Lê Đình Kỵ là vì thế. Anh không ưa cả Hoài Thanh vì tác giả Thi nhân Việt Nam vốn rất mê Thơ mới là thế mà nay lại quay ra phê phán Thơ mới quá gay gắt (Tố Hữu cũng phải nói: “Hoài Thanh tát mình quá đau”). Anh cũng luôn luôn đấu tranh cho sự tồn tại chính đáng của cái tôi cá nhân và thơ tình. Vấn đề này, ngày nay chẳng ai còn thắc mắc. Phải là kẻ gàn dở hoặc ngu tối lắm mới phủ định cái tôi cá nhân và thơ tình. Nhưng sinh thời Xuân Diệu, nghĩa là khoảng đầu những năm 1980 trở về trước, đấu tranh cho sự khẳng định cái tôi cá nhân và thơ tình là cả một thái độ dũng cảm.
Tôi nhớ thời chống
Mỹ, có lần anh nói với tôi: “Mỗi lần in một tập thơ, mình phải đưa ra trước
hàng loạt bài chống Mỹ như một cái đầu tầu xe lửa, sau đó, xen vào những “toa”
thơ chiến đấu, lén lút mắc vào một cái “toa” thơ tình cho nó kéo ào đi”. Nhưng
thơ tình của anh lúc bấy giờ nhiều khi không hẳn là thơ tình, không dám là thơ
tình thật sự. Đó nhiều khi chỉ là thơ của cái nghĩa vợ chồng (Anh chờ em về ăn
cơm, Đứa con của tình yêu, Em làm bếp... Tôi gọi thế là thơ về “giai đoạn văn
xuôi” của tình yêu) hoặc phải gò theo khẩu hiệu “vui duyên mới không quên nhiệm
vụ” thường thấy giăng lên ở những phòng cưới thời chiến tranh...
Ngoài ra, về tình yêu,
trái tim anh cũng không còn cái cuồng nhiệt, cái mãnh liệt như thời trước. Mà
không say đắm cuồng nhiệt thì làm sao tạo được thơ tình thật sự!
Vào những năm 60, 70, 80
của thế kỉ trước, Xuân Diệu bỗng làm rất nhiều thơ tình. Số lượng gấp bội so với
thơ tình trước cách mạng. Vào năm 1961, ở anh dường như có một sự thức tỉnh trở
lại về tình yêu. Anh nói: “Năm 1961, do một mối tình đến với mình mà mình cảm
thấy tình yêu thật sự sống lại mạnh mẽ. Hoá ra “Đáy chĩnh vét rồi, hãy còn hạt
gạo” – giống như như câu thơ của Baudelaire “Un brin de paille brille encore
dans l’étable”. Anh định làm một cuốn từ điển về đủ các trạng thái của tình
yêu: nhớ, ghen, hờn – dỗi, rồi lúc thức, lúc ngủ, khi ăn, khi uống...
Nhưng dư luận không đánh
giá cao thơ tình của anh sau cách mạng. Tôi cũng thấy như vậy. Nguyễn Kiên nói
đúng, thơ tình Xuân Diệu sau cách mạng dùng kỹ thuật nhiều hơn là có tình yêu
thật với một đối tượng có thật. Cách làm thường là thế này: dựa vào một chi tiết
có thể có rồi phóng đại lên, ngoa ngôn lên cho thành say đắm. Chẳng hạn, em gửi
cho anh một bức thư, nói nhớ anh. Thế là như đang đi giữa sa mạc bỗng thấy nhân
loại quanh mình. Hoặc là, em có vẻ lạnh nhạt, anh buồn quá. Nhưng một bữa cơm,
em gắp cho anh một miếng thịt bằng ngón tay, thế là:
Anh
ăn như miếng ngọc
Dạ
vui sướng nghẹn ngào
Nghĩ
tình em vô tận
Khi
bỏ vào bát anh...
Đúng thế, bản thân kỹ thuật
không bao giờ tạo ra thơ. Trước cách mạng, anh có dùng kỹ thuật gì đâu mà đúng
là thơ tình:
Anh
nhớ bóng, anh nhớ hình, anh nhớ ảnh,
Anh
nhớ em, anh nhớ lắm em ơi!
Dù sao thì cũng có một thời,
Xuân Diệu cũng đã từng là nhà thơ tình số một ở nước mình. Và đến bây giờ, liệu
đã có ai vượt được?
Có một hồi, người ta cứ đồn
Xuân Diệu ái nam ái nữ. Không rõ hư thực thế nào. Rồi anh cưới Bạch Diệp. Ái nam
ái nữ sao lại lấy vợ? Nhưng được mấy tháng, Bạch Diệp bỏ luôn. Vậy là sao?
Thực ra Xuân Diệu chỉ mắc
chứng đồng tính luyến ái và bất lực trong quan hệ tình dục, chứ không ái nam ái
nữ.
Hồi kháng chiến chống
Pháp, tôi công tác với anh Lã Hữu Quỳnh ở Sở Giáo dục Liên khu Việt Bắc (Anh Quỳnh
là một nhạc sĩ, sau 1954, về Hà Nội làm Hiệu phó trường nhạc trung cấp). Anh
quê ở Bắc Giang. Trong thời gian kháng chiến, các văn nghệ sĩ đi công tác qua,
thường ghé vào nhà anh ngủ nhờ. Một lần, Xuân Diệu và Trần Văn Cẩn vào ngủ nhờ.
Nửa đêm, anh thấy Cẩn đùng đùng dậy chửi mắng Xuân Diệu thậm tệ.
Anh Xuân Tửu một lần cùng
Xuân Diệu ở trong một đoàn văn nghệ sĩ đi thăm đảo Cô Tô. Chiều hôm trước họ
nghỉ lại ở Móng Cái để hôm sau đáp tàu ra đảo. Xuân Tửu muốn tắm truồng nên một
mình lang thang ra biển tìm chỗ vắng người. Nhưng rất phiền là cứ thấy Xuân Diệu
lẽo đẽo đi đằng sau. Đi một chập, Xuân Diệu biết ý Xuân Tửu, nói: “muốn tắm truồng
phải không? Thì cùng tắm”. Xuân Tửu mừng quá không phải vì được tắm, mà vì nhân
dịp này, biết đích xác Xuân Diệu có ái nam ái nữ hay không. Anh giương mục kỉnh
để nhìn cho rõ – Té ra rất đẹp! – Xuân Tửu nói với tôi như vậy.
Sau khi Bạch Diệp bỏ Xuân
Diệu, anh Huỳnh Lý có một lần cùng ăn với Xuân Diệu ở khách sạn Phú Gia. Huỳnh
Lý gạ chuyện: “Mình có học với cậu từ nhỏ (cấp II Quy Nhơn), mình biết chứ. Người
ta cứ nói cậu ái nam ái nữ, nhưng có phải đâu (trẻ con thằng nào ái nam ái nữ,
nó vật ra khám ngay, dấu sao được)
Xuân Diệu im lặng một lúc
rồi nói: “Cái con Bạch Diệp trắng trợn! Để rồi mình uống thuốc, sẽ khá lên dần.
Nó bỏ luôn”.
Người làm mối Bạch Diệp
cho Xuân Diệu là Nguyễn Đình Thi và Hằng Phương. Hôm cùng đi vào Đà Nẵng, Nguyễn
Đình Thi nói với tôi: “Tôi cứ bị cô Bạch Diệp chửi mãi”
Thực ra, chuyện Xuân Diệu
có vấn đề về sinh lý, Bạch Diệp cũng có ngờ ngợ trước khi nhận lấy Xuân Diệu-
Chị cẩn thận đi hỏi Tô Hoài là bí thư Đảng đoàn văn nghệ – Tô Hoài nói, không
biết và mách đi hỏi Huy Cận. Huy Cận nói không có chuyện gì. Nhưng Bạch Diệp vẫn
cảnh giác: Cưới rất to nhưng không đăng kí kết hôn. Thành ra khi biết chuyện, bỏ
luôn, không phải ra toà lôi thôi.
Khi Xuân Diệu mất, Bạch
Diệp viếng một vòng hoa trắng.
Hôm giỗ đầu Xuân Diệu
(tháng 12 – 1986), người ta tổ chức một cuộc hội thảo khoa học lớn ở câu lạc bộ
lao động. Tôi được mời đọc báo cáo. Tôi đọc bài: “Tư tưởng và phong cách một
nhà thơ lớn: Xuân Diệu”. ở bài này, lần đầu tiên tôi đưa ra mấy ý được hoan
nghênh: tư tưởng nghệ thuật (idée poétique) của Xuân Diệu là niềm khát khao
giao cảm hết mình với cuộc đời trần tục, trần thế này; Xuân Diệu là người đầu
tiên đưa vào thơ ca Việt Nam, tình yêu thật sự là tình yêu, nghĩa là sự giao cảm
tuyệt đối từ nhục thể đến tâm hồn (khác với thơ tình của Huy Cận, chỉ là tình
yêu platonique); một cách tân quan trọng của Xuân Diệu về thi pháp: coi con người
giữa tuổi trẻ và tình yêu là chuẩn mực của cái đẹp.
Chị Xuân Như, em Xuân Diệu,
có mặt hôm ấy, đến gặp tôi, nói: “Anh viết rất đúng về anh tôi”
Rất tiếc, giá mà Xuân Diệu
đọc được!