Ngày 24 – 5 – 1982, 24 Điện Biên
Tôi đến Xuân Diệu đúng
lúc anh tiễn khách ra cổng. Anh nói với tôi: “Nào vào mà nghe người ta khen!
Nguyễn Cao Luyện khen lắm (bài Thương tiếc nhà văn Nguyên Hồng, đăng trên báo
Nhân dân).
Anh vội đưa tôi vào nhà.
Anh bóc bánh bích quy. Pha cà phê. Mời thuốc lá đầu lọc: “Người ta đến tuổi nào
đấy cũng phải có lúc ung dung mà hưởng lạc một chút chứ, ăn miếng ngon, ngắm
bông hoa đẹp. Đời Nguyên Hồng chỉ là một rêve (C’est un mauvais rêve, một ác mộng!).
Nguyên Hồng là tài và
tâm. Trí thì yếu. Tác phẩm hay hơn cả là gì nhỉ? Những ngày thơ ấu? Nguyên Hồng
chết đột ngột quá - Xuân Diệu lắc đầu, lè lưỡi.
Anh chỉ tập bản thảo viết
dở trên bàn: “Mình viết văn như người bị đòi nợ. Đến hẹn mà không có xu nào trả.
Bụng rỗng không! ấy thế mà rồi cũng viết được đấy. Tập trung suy nghĩ mãi vào một
điểm rồi nó bật ra. Lúc đầu tản mạn linh tinh, tưởng không sao viết được. Sau tập
trung vào một điểm thì viết được.”
Bỗng anh chuyển sang nhận
xét mấy nhà thơ đương thời như Tế Hanh, Lưu Trọng Lư, Giang Nam: “Tế Hanh cái
gì cũng có cả, nhưng chả đọng lại cái gì. Như giao hợp đánh xoạch một cái, chưa
kịp thấy gì, đã mặc quần áo rồi (anh cười to). Lưu Trọng Lư tản mạn quá, rồi chạy
theo tiền để nuôi vợ con. Đời có những nhân tố rất tầm thường mà hoá ra chi phối.
Do thế mà viết ẩu. Lư yếu vì vợ đẹp, yêu cầu sinh lý cao. Lư còn sống được như
thế là giỏi rồi đấy. Lư quanh quẩn rút lại chỉ có một mô hình: hát giặm, năm tiếng
có vần giữa xen vào. Thế thôi! Khi làm thơ thất ngôn thì có thay đổi tí chút. Tế
Hanh, thơ như là cuộc đời sẵn có cái gì thì lấy luôn làm câu thơ. Thơ không có
xác, có chất, không có gia công sáng tạo gì cho sâu sắc. Paul Valéry, câu thơ
có xương cốt, đứng vững lắm. Anna de Noailles là grande poétesse, vậy mà câu
thơ cũng dàn trải, không vững chãi. Lamartine cũng thế. Nhà thơ lớn thế mà câu
thơ chưa thật kiên cố. Thơ Verlaine vững lắm. Câu chữ không sao thay thế được,
không bỏ được chữ nào. Nhà văn phải đẻ ra chữ. Câu, chữ là của mình. Mình đẻ ra
câu chữ mới là nhà văn thật sự”.
Thơ Thanh Hải còn kém hơn
thơ Giang Nam. Nhưng Giang Nam ngay ở bài hay nhất là bài Quê hương cũng không
có xác. Tình yêu không có xác. Như câu chuyện kể ra thế thôi.
Hàn Mạc Tử đúng là đẻ ra
chữ. Chữ của Hàn Mạc Tử vững chắc lắm, cứ vọt ra. Thơ Tế Hanh như thứ trạm nổi
nông, loại phù điêu. Cái gì cũng có nhưng không sâu sắc, không nổi góc cạnh, hời
hợt, nông choèn, tự nhiên nhi nhiên, trời đất, đời sống cho thế nào thì nói thế,
không gia công đào xới, nhào nặn.”
Anh lại trở lại chuyện đời
sống và phàn nàn: “Mình cứ viết hết bài nọ đến bài kia, luôn luôn phải ở tình
trạng phải cố sức. Như hòn bi phải có sức tác động vào mới viết được. Thành ra
lại phải quay ra lo chuyện ăn. Rất mệt!
Nhưng mà rất mừng là có một
số người hiểu mình: Huy Cận, Nguyễn Đình Thi, Hoàng Trung Thông, Nguyễn Đăng Mạnh.
Phải tăng cường tìm hiểu nhau, tăng cường tri âm tri kỷ.”
Anh mời tôi uống nước,
hút thuốc lá. Anh nói: “Không phải ai mình cũng mời thế đâu!”. Anh hạ giọng:
“Này chuyện tình với bạn trai ngày xưa của mình, Mạnh có nhận xét đấy, đừng viết
ra làm gì, người ta hiểu sai đi không lợi. Mạnh thân với Hoàng Ngọc Hiến, lúc
nào nói với Hiến phải giữ mồm giữ miệng. Người ta phản ánh đến anh Tố Hữu rồi đấy.
Anh Lành anh ấy biết rồi đấy. Khéo rồi họ lại thắt lại thì chết. Bây giờ đang
có chiều hướng mở ra, khá. Trường hợp Tuyển tập Nguyễn Tuân là thế. Ta cứ lặng
lẽ mà ăn, mà ngoạm từng miếng, nhưng đừng có nhai rau ráu ồn lên làm gì. Không
phải sợ, không phải hèn đâu, nhưng mà không cần phải thế”.
Xuân Diệu lại mời tôi hút
thuốc lá: “Cứ hút đi! Biết rồi đến lúc nào mình không còn nữa để đưa thuốc lá
cho mà hút”.
Anh lại giục làm việc khẩn
trương lên. Cái chết nó thúc đẩy mình.
Tôi ra về. Trời mưa. Thấy
tôi không có mũ, anh cho mượn cái mũ lá cũ: “Mũ cũ nhưng đừng vất đi đấy”.
Anh lại lấy cái cặp nhựa,
cặp mép cái túi xách của tôi cho khỏi ướt sách vở bên trong: “Mình như người vợ
chăm sóc chồng. Thế mới biết người đàn bà là cần”.
Ngày 8 – 4 – 1983, 24 Điện Biên.
Xuân Diệu mở cổng. Tôi
nói, lâu quá không gặp anh. Xuân Diệu nói: “Mạnh mà cũng biết sốt ruột kia à?
Tưởng bây giờ đang lên, không thích mình nữa?”. Anh cười: “Ấy người ta có cái
ghen chẳng có fondement gì cả như thế đấy!”.
Tôi đến Xuân Diệu sau khi
gặp Lưu Công Nhân ở Sài Gòn.
Tôi hỏi: “Anh có biết Lưu
Công Nhân?”.
Xuân Diệu: “Có biết,
nhưng không thân thiết lắm. Thế hắn sống bằng gì? Có mấy con?”. Tôi nói, không
biết, chỉ thấy giầu lắm. Xuân Diệu: “Cậu đúng là nhà văn lớn, không để ý cái gì
cụ thể cả”.
Tôi lại nói về chuyện vừa
gặp Chế Lan Viên ở Sài Gòn. Xuân Diệu nói: “Chế Lan Viên giờ buồn lắm. Sắc sảo,
thông minh, song trong quan hệ với nhau còn phải có tình người, chứ đâu chỉ
chuyện tìm tòi chân lý. Chế Lan Viên hay lấy lý át người ta, dồn người ta vào
thế bí. Người ta ít gần. Sợ. Văn tiểu luận của Chế Lan Viên có từng đoạn sắc sảo,
hay. Nhưng nhìn toàn bộ thì không vững, xộc xệch lắm.
Anh lại quay ra nói về
Thơ mới. Anh cho rằng: Nói Thơ mới thoát
thai từ hát nói là ngu. Thơ mới đến độ kết tinh ổn định nào đấy thì gặp hát
nói. Vả lại câu tám tiếng, câu mở rộng của hát nói vẫn khác câu tám tiếng của
Thơ mới.
Còn song thất lục bát thì
là thể ngâm, réo rắt, không hợp với Thơ mới.
Thơ mới có nhu cầu kéo
dài câu thơ, vì nó phong phú, tràn đầy, nó cần nói nhiều.”
Bỗng anh quay ra phê phán
Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức: “Hết thời Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức rồi. Họ làm xong nhiệm
vụ lịch sử rồi. Đệ viết về Thơ mới, ca ngợi Thơ mới xong, bảo nó là con đĩ.
Chơi gái mãi rồi bảo nó là con đĩ. Đệ cứ dẫn ra những câu tương tự của Thơ Pháp
và Thơ mới để tỏ ra là đọc nhiều. Kỳ thực có sự gặp gỡ tự nhiên chứ không phải
bao giờ cũng là mô phỏng - Đối chiếu thơ Bác với thơ xưa nhiều khi cũng thế.”
Huy Cận đi làm về. Anh
nói với tôi: “Ta phải gặp nhau nữa chứ. Tôi mới nói sơ sơ thôi, còn nhiều điều
chưa nói (trước đây ít lâu, tôi có một cuộc trò chuyện với Huy Cận). Anh Đệ,
anh Đức là nhà phê bình officiels. Tôi đã đọc anh viết về Nguyên Hồng, Nguyễn
Tuân, thấy có cái gọi là suy nghĩ. Còn nhiều người viết chẳng có giá trị gì”.
Xuân Diệu tiếp tục nói về
thơ mình. Càng nói càng sôi nổi: “Xuân Diệu là individu. Cái day dứt nhất ở
Xuân Diệu là cái “moi” và “non – moi”. Và căng cho hết mình. Làm thơ để thực hiện
cái le moi của mình là Xuân Diệu.
Tình yêu thực hiện được
sâu sắc nhất cái cá nhân. Tình yêu gắn với cuộc sống vật chất, trần gian, bản
năng, lại rất cá nhân trong conscience.
Xuân Diệu không làm thơ
“anh anh em em”, mà thực sự làm thơ trong phạm trù tình yêu. Xuân Diệu thách với
cả thế giới về thơ tình yêu. Xưa sôi nổi thanh niên, nay sâu lắng, suy nghĩ
hơn.
Vấn đề thời gian trong thơ
Xuân Diệu lớn lắm: day dứt nhớ lại cái phút ấy, phút thần tiên ấy, cái chỗ ấy,
cái lúc ấy trong cả cuộc đời – cái phút thật là yêu, của phạm trù tình yêu. Về
sau chỉ là nghĩa, có nhiều cái ân tình khác, nhưng thật sự là yêu chỉ có cái
phút ấy. Thơ tình là vĩnh cửu hoá cái phút ấy.”
Anh chuyển sang giọng tâm
tình thân mật: “Thơ tình Xuân Diệu có một sự trỗi dậy, sống dậy vào khoảng sau
Riêng chung, tức khoảng 1961 gì đó. Bỗng anh xoè bàn tay ra khoe: “Đấy, mont de
Vénus của mình cao thế này (anh chỉ chỗ bàn tay gồ lên gần ngón cái). Mont de
lune của mình cũng rõ, giầu mơ mộng, rất lãng mạn (anh chỉ phía gần ngón út),
còn mont de soleil là danh vọng cũng rất nổi (anh chỉ khoảng giữa bàn tay phía
giáp các ngón).
Thực ra anh người mập,
bàn tay múp míp, chỗ nào chả đầy, chả mọng lên.
Anh lại khoe nhận được một
lá thư nhờ làm hộ một bài thơ tình để tặng người yêu. Anh cười: “Làm thơ tình
thuê! Giá mấy hào một bài đây! Đấy, nhu cầu thực tế của đời sống về thơ tình là
thế đấy”
Tôi nói: “Anh Tố Hữu nói
làm thơ tình rất khó”.
Xuân Diệu: “Khó ở chỗ phải
chân thật, phải yêu thật”.
Chiều ngày 12 – 4 - 1985, 24 Điện Biên
Thấy tôi, Xuân Diệu mừng
lắm: “Vài ba tháng gặp nhau một lần là quý rồi. Cứ đi dép cho đỡ lạnh chân”.
Anh mời tôi uống cà phê, hút thuốc lá như thường lệ. Anh nói Như Phong chết làm
anh hoảng quá. Như Phong chủ quan, tự cho là khoẻ lắm. Cái chết! Thế là từ plus
infini thành moins infini.
Tôi nói Nguyên Hồng chết
sớm hơn và cũng đột ngột. Xuân Diệu nói: “Nhưng mà Nguyên Hồng chết rồi, cái
văn của anh ấy vẫn còn rên rỉ. Còn Như Phong mất là không thấy dấu vết gì nữa”.
Anh xoay ra nói về giá cả
đắt đỏ mà nhuận bút thấp quá: “Nhuận bút tập sách viết 10 năm chỉ bằng một chỉ
vàng. Nhận nhuận bút mà buồn. Đi một chuyến lại hơn là nhuận bút. Quãng Ngãi chỉ
có 180 đồng một cân thịt bò. Đời sống hơn ngoài Bắc. Trong Nam đời sống cao
hơn, khí hậu dễ chịu hơn. Nhưng mà không được quên cái gốc. Trong Nam họ suốt
ngày lo kiếm tiền thôi. Sống ở Sài Gòn không chịu nổi. Không ai biết anh là ai.
Con người lọt thỏm mất hút đi trong cái biển người mênh mông”.
Anh lại xoay ra tính toán
cụ thể giá thực phẩm: 3 quả trứng gà 33 đồng, 2 quả trứng vịt lộn 18 đồng một
quả, nhân 3 là 36 đồng...
Bỗng anh ngắm nhìn tôi,
nhận xét: “Mạnh để tóc thế này hay hơn. Mặt Mạnh nhỏ, để tóc thế này nó ôm lấy
mặt, đỡ gầy.” Tôi nói, nhiều người cũng khen như thế. Xuân Diệu cười: “Hoá ra
mình nhận xét thế mà đúng với ý kiến mọi người, “chúng khẩu đồng từ”.
Tôi nói, hình như Nguyễn
Tuân vào Quảng Nam viết một bài được trả nhuận bút cao lắm. Xuân Diệu nói:
“Đúng là Quảng Nam Đà Nẵng nó trả Nguyễn Tuân 10.000 đồng một bài. Bài có hai
trang. Không hay lắm. Nguyễn Tuân viết khó. Bây giờ viết khó hay lắm!”
Tôi hỏi anh có nghĩ gì về
khái niệm phong cách.
Xuân Diệu nói: “Style là
bút pháp và cũng là phong cách. “Khen rằng bút pháp đã tinh. Nghe bút pháp có vẻ
nặng hơn”.
Tôi nói, phong cách có lẽ
rộng nghĩa hơn, toàn diện hơn, sâu hơn. Anh đi tra từ điển: “Style: manière.
Manière d’ exprimer sa pensée. Ừ, phong cách đúng hơn”.
Anh chê Nguyễn Xuân Nam,
cho là không thật, không tốt. Tôi nghĩ bụng chắc lại là cái chuyện Xuân Nam viết
về Huy Cận. Xuân Nam bị ngờ là bới móc Huy Cận. Xuân Diệu đã nói với tôi một lần
rồi. (Xuân Nam viết một bài về Huy Cận, anh ca ngợi sự chuyển biến tiến bộ về
tư tưởng của Huy Cận, đại ý: ngày xưa Huy Cận làm thơ thường đề tặng các nhà
văn trong Tự lực văn đoàn và cả con cái họ, nay anh làm thơ tặng nhân dân lao động,
như tặng một cô thợ mỏ, một anh thợ hàn chẳng hạn... Nhưng Xuân Diệu lại hiểu
là Xuân Nam có ý nói móc, xỏ xiên người bạn của anh ngày xưa từng nịnh hót cánh
Tự lực văn đoàn (Thực ra hồi ấy, Huy Cận từng tha thiết xin vào Tự lực văn đoàn
mà không được chấp nhận)).
Anh chê Phan Cự Đệ, Hà
Minh Đức viết không có nội dung: “Nội dung là tình cảm. Không có tình cảm,
không có nội dung. Tôi cứ ném thia lia, bắn tin về Phan Cự Đệ. Tôi nói với Hà
Xuân Trường: Đệ làm tổng biên tập Nhà xuất bản Văn học thì chúng tôi sẽ đánh du
kích 5 năm cho phải đổ. Nói với Việt cộng phải nói bằng cách nói của Việt cộng
họ mới sợ”.
Anh đọc tôi nghe bài thơ:
“Nếu anh cứ thương nhớ em thì sao”. Bài thơ ba khổ. Khổ đầu hay.
Tôi khen bài thơ hay.
Xuân Diệu nói: “Những câu
thơ như thế phải đọc cho Mạnh nghe. Mình đọc được cho Mạnh nghe cũng thấy
thích. Bài “Hoa anh ơi!” là một lời thơ đi suốt. Cả bài thơ là một lời đi suốt”.
Anh nhắc tôi về kẻo muộn.
Đi về, ra ngoại thành, sương xuống, chắc là thấy cô đơn, buồn. Tôi nói, có lần ở
nông trường 1 – 5 Nghệ An, thấy con bò đi một mình buổi chiều, buồn quá! Anh
nói: “Con bò nó cũng thấy buồn – và thế là nó trở thành thi sĩ, trở thành người”.
Anh tiễn tôi ra cửa, nhắc
thỉnh thoảng gặp nhau. ít ra một quý một lần, hai tháng một lần càng tốt.
Tôi nói, có lúc ngửi một
mùi hương, thấy nhớ một cái gì ghê quá. Anh nói, thế là Marcel Proust. Hương và
vị nữa.
Anh hỏi tôi về kết quả cuộc
chấm thi truyện ngắn tôi có tham gia. Tôi nói không có bài thật trội. Sàn sàn cả.
Anh nói chủ nghĩa xã hội chỉ tạo ra cái moyenne trung bình, bonne moyenne,
không có bon talent.
Anh nói, trong cuộc thi
thơ, Lâm Thị Mỹ Dạ thắc mắc sao không có giải A. Tôi viết một bài lôi ra có bài
loại B cũng không đáng. Lạm phát thơ. 150 nhà thơ! Sao nhiều thế! Phải dọn bớt
lại.
Anh động viên tôi: “Dù
sao chúng mình còn có chỗ họ mời. Có người không được thế. Mạnh và mình giữ được
vị trí do thực lực. Cần gì giám đốc, phó giám đốc. Rồi đổ ngay ấy mà! Cứ viết
cho tốt. Nghệ Tĩnh Tết vừa qua Tỉnh uỷ đi thăm Minh Huệ tuy Minh Huệ chưa bằng
Trần Hữu Thung. Song biết thăm ai? Thế là họ có chuyển”.
-------------------
Từ 1966 đến 1985, năm
Xuân Diệu qua đời, tính ra tôi có tới vài chục lần được trò chuyện với Xuân Diệu.
Càng tiếp xúc càng thân, và anh càng cởi mở hơn.
Chỉ riêng năm 1985, tôi gặp
anh tới 5, 6 lần.
Nhưng tôi nhớ nhất ba lần
sau đây:
1. Đầu năm 1985 cũng đi với
anh lên Tuyên Quang bồi dưỡng những cây bút trẻ ở vùng núi phía Bắc. Tôi nhớ đi
qua đền Hùng đúng vào dịp hội. Xe dừng lại, các anh trong đoàn (Chính Hữu, Lê Lựu,
Nguyễn Thành Long, Hữu Thỉnh, Vương Trí Nhàn và tôi) đều có đảo lên đồi xem một
lát. Riêng Xuân Diệu không lên. Anh ngồi lại trong xe. Chắc mệt, ngại leo dốc. Ở
Tuyên Quang, chúng tôi nghỉ ở nhà khách của Tỉnh uỷ. Đêm, tôi để ý thấy Xuân Diệu
thở rất nặng nhọc, lắm lúc như hộc lên. Tim có vấn đề.
2. Lần thứ hai là ngày 5
– 10 – 1985. Tôi đến mời anh nói chuyện với lớp sinh viên đặc biệt (gọi là lớp
5C) do tôi làm chủ nhiệm. Anh giữ tôi lại, tặng tôi cái đồng hồ.
3. Lần thứ ba là ngày 10
– 10 1985. Tôi đưa 14 sinh viên đến phòng anh ở 24 Điện Biên để nghe anh giảng
thơ.
Đây là cuộc gặp cuối cùng
với anh. Hai tháng sau, anh qua đời (ngày 18- 12 – 1985)
Cả ba cuộc gặp này, tôi đều
đã đưa vào mấy bài chân dung viết về anh nên không thuật lại nữa.
Quan
Hoa 5 – 12 – 2006.