VƯƠNG-TRÍ-NHÀN

Đọc lại “Không có vua” - bài sưu tầm

 

Nguyên là bài

“KHÔNG CÓ VUA” – CHẮT GẠN NHÂN TÍNH CON NGƯỜI

 từ tr fb 

Nguyễn Huy Thiệp đang ở Nguyễn Huy Thiệp.  · 

Theo dõi

rneSdpsotot g2fi4g67560370178u04mc28mtl2f02iu39u351miltmmờ6f

 

--

Nhà văn Nguyễn Minh Châu đã từng giãi bày tâm sự trong cuốn nhật kí của mình: “Hôm nay chúng ta chiến đấu vì quyền sống của cả dân tộc, nhưng sẽ đến một ngày chúng ta phải chiến đấu cho quyền sống của từng con người… Chính cuộc đấu tranh ấy mới là lâu dài”.

 

 Dự cảm sáng suốt của “người mở đường tinh anh” ấy đã được minh chứng khi văn học có một sự chuyển mình mạnh mẽ từ quỹ đạo chiến tranh sang quỹ đạo hoà bình năm 1975. Các văn nhân nghệ sĩ dành tất cả tâm lực của mình cho một cuộc đổi mới toàn diện văn chương: đổi mới quan niệm về nhà văn, đổi mới cách viết, đổi mới đề tài và đặc biết nhất là đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người với nội dung dân chủ và nhân bản sâu sắc.

 

 Từ năm 1945 đến năm 1975, vì phát triển trong điều kiện chiến tranh nên văn học nhìn con người bằng cái nhìn lý tưởng cũng như “lấy lịch sử làm điểm quy chiếu con người”. Con người xuất hiện trong giai đoạn văn học này chủ yếu là con người cộng đồng, con người giai cấp, con người dân tộc. Nhưng từ sau 1975, yêu cầu “cởi trói” cho văn học nghệ thuật đã đòi hỏi người nghệ sĩ phải lia sâu ngòi bút vào từng góc cạnh xù xì của hiện thực đời sống vật chất và đời sống tinh thần của con người.

 

Trên hành trình cách tân mạnh mẽ của văn học dân tộc, nửa sau thập kỉ 80 của thế kỉ XX, văn đàn Việt Nam chứng kiến sự xuất hiện của một hiện tượng gây nhiêu tranh cãi: hiện tượng Nguyễn Huy Thiệp. Ông là kẻ được “trời chọn: đi giữa lằn ranh buổi giao thời để nói một tiếng nói đầy khác biệt.

 

Đọc những tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp có thể thấy một “cõi người ta” xù xì, gân guốc, góc cạnh lẫn lộn giữa tốt và xấu, thật và giả, đen và trắng, cao thượng và thấp hèn, Cái “cõi người ta” ấy thể hiện một cách nhìn rất thật, rất sâu sắc của nhà văn về những kiếp người.

 

Người ta biết đến Nguyễn Huy Thiệp không chỉ là một nhà văn đương đại, mà ông còn là một nhà thơ, nhà viết kịch và một nhà phê bình văn học. Ông xuất hiện khá muộn trên thi đàn văn học Việt Nam với một vài truyện ngắn được đăng trên báo Văn nghệ năm 1986. Có người từng nhận xét Nguyễn Huy Thiệp là nhà văn của “những cái trớ trêu”, là “một hiện tượng lạ của văn học sau 1975” bởi cách xây dựng nhân vật cũng như tư tưởng mà ông truyền tải đến độc giả.

 

 Với sự mẫn cảm đặc biệt của một nhà văn có đủ tâm tài, Nguyễn Huy Thiệp đã đưa những tác phẩm của mình thoát ra khỏi những chuẩn mực đạo đức, những luân lý thuông thường để vạch trần diện mạo thật của cuộc sống: cuộc sống đâu chỉ có cái đẹp, cái cao cả như một thời văn đàn ca ngời, cuộc sống còn là một cõi tục hoàn sơ, trì đọng, một thế giới hỗn tạp xô bồ “đất không có vua và biển không có thuỷ thần”.

 

“Không có vua” được đánh giá là một trong những truyện ngắn tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật của Nguyễn Huy Thiệp. Với ngòi bút tỉnh táo, sắc lạnh đến bất ngờ, ông đã đi sâu đến tận cùng sự mất chuẩn mực của cả một gia đình nhưng bề sâu là phản ảnh cả một thời đại. Những hổ lốn đến khó chấp nhận được cái gia đình nhìn vẻ bề ngoài có vẻ cao sang và lịch sự kia chỉ là một bức màn về sự giả tạo nhân nghĩa.

 

“Không có vua” làm ta nhớ đến từ “loạn cờ” được nhân vật Thuỷ - cô con dâu trong “Tướng về hưu” sử dụng khi nghe ông Thuấn ngỏ ý muốn giúp ông Cơ và cô Lài dọn đỡ việc nhà, cô Thủy liền phản đối: “Cha là tướng, về hưu cha vẫn là tướng. Cha là chỉ huy. Cha mà làm lính thì dễ loạn cờ". “Không có vua” hay “loạn cờ” là trạng thái nhân thế đảo điên, không tôn ti trật tự, không chuẩn mực giá trị, không điểm tựa tinh thần. Nói như Nietzsche: Thượng đế đã chết, con người ta không muốn/thể sắp xếp lại thế giới.

Truyện ngắn “Không có vua” viết về một gia đình gồm bảy người: lão Kiền (làm nghề chữa xe đạp), Cấn (cậu con trai cả là thương binh làm thợ cắt tóc), Sinh (vợ của Cấn), Đoài (cậu con trai thứ hai làm công chức ngành giáo dục), Khiêm (cậu con trai thứ ba làm nhân viên lò mổ), Khảm (cậu con trai thứ tư là sinh viên đại học) và Tốn (cậu con trai út bị bệnh thần kinh người teo tóp dị dạng). Mọi thành viên trong gia đình đối xử với nhau “cạn tàu ráo máng” dù đều mang trên mình cùng dòng máu. Một gia đình đáng lẽ phải mang không khí ấm cúng thì nay chỉ là một không gian giữa những người đồng loại sống với nhau - một không gian sa đoạ, mạt thế và không có người cầm cương như nhan đề của truyện ngắn.

 

 

Những nhân vật hiện lên khiến người đọc rợn người bởi sự “mất nhân tính”.

Lão Kiền là cha, người vốn dĩ phải giữ lề lối cho gia đình thì lại trở thành người đầu tiên phá vỡ chúng bằng những lời nói và hành động cục cằn, thô tục. Mọi chuẩn mực truyền thống của một gia đình Việt dường như bị triệt tiêu hoàn toàn khi lão ta bắc khế xem con dâu tắm: “Lão Kiền loay hoay dưới bếp, nghe tiếng dội nước ở trong buồng tắm, thở dài, bỏ lên nhà. Đi vài bước, lão Kiền quay lại, vào trong bếp, bắc chiếc ghế đẩu, trèo lên nín thở ngó sang buồng tắm. Trong buồng tắm, Sinh đứng khỏa thân”. Khi những người con trong nhà mâu thuẫn với nhau, lão Kiền thản nhiên mà nói rằng: “Chúng may giết nhau đi, ông càng mừng”. Hay khi nói chuyện với các con, lão dùng những lời lẽ độc địa: “Mày ấy à? Công chức gì mặt mày? Lười như hủi, chữ tác chữ tộ không biết, chỉ giỏi đục khoét!”, “Đồ ruồi nhặng! Học với chả hành! Người ta dạy dỗ mày cũng phí cơm toi”… Và đương nhiên “gieo nhân nào, gặp quả nấy”, với những gì lão Kiền cư xử với chính những đứa con của mình chỉ đổi lại là sự bất kính và sự mỉa mai.

 

Ở những tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp xuất hiện hàng loạt những nghịch lí: ở hiền thì gặp chuyện bất trắc; đi tìm cái đẹp thì gặp cái xấu xa, bỉ ổi; đi tìm điều thiện thì gặp toàn điều ác; và đặc biệt, những kẻ học thức thì dâm ô dối trá, bịp bợm…

 

Trong “Không có vua”, Đoài và Tốn là hai người có học thức nhưng những gì họ thể hiện khiến ta phải lạnh sống lưng. Trước hết là Đoài, tuy anh ta là công chức ngành giáo dục nhưng từ lời nói đến hành động lại thể hiện sự vô giáo dục!

 Đặc biệt là đối với chị dâu của mình, gã ta đã bị Nguyễn Huy Thiệp “lột truồng con người ra và phơi bày toàn bộ sự đớn hèn”: Trong bữa cơm: “Đoài nhìn chăm chú vào khoảng lõm ở ngực chị dâu, nơi chiếc khuy bấm vừa tuột ra, bâng quơ: Tình ơi tình, mình ơi mình, tình hở hang lắm cho mình ngẩn ngơ”; Sau bữa cơm: khi Sinh cất nồi dưới bếp, “Đoài đi theo, lấy cơm vào cặp lồng. Đoài đưa tay chạm vào lưng Sinh, Đoài bảo: Người chị tôi cứ mềm như bún”; Ngày giỗ, khi soạn mâm, Sinh bảo Khảm: “Thiếu cái gì thì gọi”, đợi Khảm đi khuất, Đoài bảo: “Thiếu một tý tình thôi, Sinh cho tôi xin một tý tình”, Sau đó, mặc Sinh xua đuổi, Đoài đã cả gan “xán lại, hôn chút lên má Sinh” rồi hổn hển nói: “Tôi nói trước, thế nào tôi cũng ngủ được với Sinh một lần”; Đêm giao thừa, Đoài dám buông lời với chị dâu: “Tối nay tôi vào buồng Sinh nhé!”;…

 

Ở “công chức ngành giáo dục” ấy còn toát ra đậm đặc “mùi của sự bất hiếu”. Khi lão Kiền chuẩn bị mất, Đoàn vẫn có thể thốt ra những câu nói vô nhân tính: “Tôi nghĩ bố già rồi, mổ cũng thế, cứ để chết là hơn”, “Mất thì giờ bỏ mẹ, Ai đồng ý bố chết giơ tay, tôi biểu quyết nhé”, “Ông cụ không viết di chúc mới gay, sau này tài sản biết chia thế nào?”, “Ông cụ đi rồi. Thật may quá. Bây giờ tôi đi mua quan tài”....

 

Đúng thật là khi “Không có vua” thì con người ta chỉ có thể suy nghĩ và hành động cho lợi ích của mình và bỏ quên cái gọi là “sự chuẩn mực đạo đức” và ý nghĩa của hai chữ “Con Người”. Tiếp đến là Khảm, cũng là người có học thức như Đoài, tưởng như tương lai sẽ xán lạn thì lại chấp nhận lối sống thấp hèn, sẵn sàng đánh giá và trao đổi cuộc hôn nhân bằng tiền.

 

 

Truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp không chỉ nói về cái ác, cái xấu, cái ti tiện. Bức tranh nhân thế trong tác phẩm của ông không chỉ toàn màu đen. Nhà văn còn phát hiện ra những nhân cách rất đẹp, những tâm hồn thánh thiện và sáng trong như suối nguồn: “Trong bức màn tối, ông nhìn thấy và chăm chút cho những mầm thiện nhỏ bé, những đốm lửa kì diệu của thiên lương, những thứ ông tin rằng sẽ có đủ sức mạnh cần thiết để đương đầu với bóng tối đang ngự trị trên thế giới, cải tạo và làm trong sáng cuộc sống con người”.

 

Lão Kiền - tuy suốt ngày cau có, chực cơ hội để xổ toẹt vào con cái những lời độc địa; bỉ ổi khi nhìn trộm con dâu tắm khỏa thân; nhẫn tâm khi đồng lõa, hợp tác với con cả nhốt con út bệnh hoạn vào buồng cạnh nhà xí để “giữ thể diện” với khách khứa...

Nhưng ẩn chứa bên trong con người tưởng chừng như xấu xa ấy vẫn có tình yêu với con và trách nhiệm với gia đình: Khi Đoài hỏi: “Thế sao không lấy vợ lẽ?” lão liền chửi “Mẹ cha mày, tao chỉ nghĩ thân tao, thì lũ chúng mày được thế này à?” Và rồi lão trở nên đáng yêu khi Rằm tháng Chạp, đi ngân hàng rút lãi tiết kiệm, mua cho Tốn cái áo sơ mi, mua cho Sinh đôi bít tất, còn lại tiền đưa cả cho Cấn,…

 

Đoài - một công chức của Bộ Giáo dục nhưng lại là kẻ vô giáo dục nhưng có lúc gã ta cũng tỏ ra tử tế “Con xin lỗi bố” (vì thông cảm cho con người đàn ông của bố, vì biết ơn sự hy sinh của bố sau khi nghe bố “nói chuyện đàn ông”). Đoài còn tỏ ra nghĩa khí bênh vực kẻ yếu “Anh mà đụng vào cô ấy là tôi chém liền!” khi anh trai sắp giở trò vũ phu với chị dâu. Đoài cũng biết giúp Tốn dọn nhà đón mẹ con Sinh về.

Trong bữa tiệc mừng thành viên mới, Đoài rót rượu ra cốc, đứng lên nói: “Cốc rượu này tôi dâng cuộc sống (…) Vì đứa trẻ mới sinh ra kia, vì tương lai của nó”...

 

Khiêm - tuy là một tay đồ tể “ngoại hạng”, mắt “vằn tia máu đỏ”, một năm “ăn cắp đến nửa tấn thịt” (theo thống kê của Đoài) và “hai trăm sáu mươi bộ lòng (theo thống kê của Khảm) nhưng lại sòng phẳng đến tàn nhẫn với anh trai khi ép anh trai nhận tiền công cắt tóc: “Không phải người ngoài, anh không nhận thì thôi, tôi đi hàng khác, tôi bắt thằng khác ngoáy tai cho tôi”. Anh còn rất mực tử tế với chị dâu: Trước mâm cỗ đêm giao thừa, Khiêm bảo: “Chị là bề trên, chị cứ vái ba vái trước còn đâu tôi khấn”, “Năm mới, chúc chị Sinh sức khỏe, may mắn. Mừng tuổi chị một nghìn, chị cầm lấy để cho có lộc” khiến Sinh rớm nước mắt.

 

Hay Khiêm rất mực tử tế với đứa em tật nguyền là Tốn: Khi biết sự thực là Cấn đã nhốt Tốn trong cái buồng ở cạnh nhà xí vì “Nhà có việc, để nó ra vào bất tiện", Khiêm đã “cầm cái gạt tàn thuốc lá trên bàn ném vào mặt Cấn. Cấn kêu “ối” một tiếng rồi ngã lăn ra. Khiêm xô vào đạp túi bụi”. Khiêm đã “tặng” cho Sinh và Tốn một buổi tối giao thừa vô cùng “cảm động”.

Khiêm cũng tử tế rất mực với bố. Bên giường bệnh của bố, khi đêm đã khuya, mọi người đã đi ngủ, “Khiêm vẫn ngồi đọc. Đọc đi rồi lại đọc lại. Đại ý bài kinh xin đức Phật giải tội cho người sắp chết, để nghiệp chướng cho người sống chịu, lời lẽ khó hiểu. Suốt đêm Khiêm ngồi đọc, lạc cả giọng”...

 

Tốn - con út của lão Kiền “bị bệnh thần kinh người teo tóp, dị dạng”. Khi được Khiêm giải phóng khỏi buồng cạnh nhà xí, Tốn “chân tay mặt mũi đen nhẻm nhe răng cười” rồi “lết đôi chân què đi lên nhà”. ...

 Nhưng phải chăng ở nhân vật này lại tồn tại nguyên sơ tất cả bản năng thiện của loài người khi loài người chưa được “văn minh hóa”: Tốn “không chịu được bẩn” lúc nào cũng lau sàn hay là lau đi cái bạc ác của thế gian?; “hay giúp đỡ Sinh, nó cư xử với Sinh bằng lòng tốt vô bờ bến”, “Những ý thích nhỏ nhặt của cô, nó thực hiện với lòng tận tụy cầm thú”; hay khi bốn ông anh biểu quyết để bố chết thì Tốn bật khóc hu hu...

 

Đọc “Không có vua” ai cũng ngán ngẩm cái rệu rạc, đen tối của gia đình lão Kiền. Trong cái thế giới "loạn cờ" ấy, sự tận thiện tận mĩ của Sinh trở nên lạc loài, chẳng khác nào “bông hoa lài cắm bãi cứt trâu”. Song, sự lạc loài ấy lại “tựa như cơn mưa rơi xuống đất nẻ” giúp cho không khí gay gắt của ngôi nha dịu lại: “Vài tháng đầu, lão Kiền không gây sự gì với con cái. Cấn là người hạnh phúc nhất. Anh cầm kéo cắt tanh tách, đối xử với khách hết sức nhã nhặn.” Khi được Khiêm hỏi: “Chị Sinh ơi về làm dâu họ Sĩ nhà này chị có khổ không?”, cô cười và đáp lại: “Cứ thế này thì không thấy khổ”. Cấn lại hỏi: “Thế ngày thường thì thấy khổ à?” cô liền bảo: “Khổ chứ. Nhục lắm. Vừa đau đớn, vừa chua xót. Nhưng thương lắm.

Tốn mỉm cười ngô nghê nhắc lại: Thương lắm!”. Ba chữ “nhưng thương lắm” khiến người đọc thực sự nhói lòng!

 

Nguyễn Đăng Điệp đã từng viết trong “Cuốn theo chiều văn Nguyễn Huy Thiệp”: “Cuộc sống như một dòng sông, có cả sự trong veo tinh khiết đến ngỡ ngàng của nước, có cả rác rưởi đang trôi”, văn chương của Nguyễn Huy Thiệp đã “giúp ta hiểu hơn về nước, về rác bằng một cái nhìn tỉnh táo và sâu sắc. Từ đó ông thức tỉnh một khát khao, bỏ rác đi ta sẽ gặp sự trong trẻo của dòng sông”. Quả thực, những trăn trở của nhà văn về con người, những suy tư của ông về thiện và ác, sáng và tối, cao thượng và thấp hèn, người và quỷ… bên trong con người khiến chúng ta có thể kết luận rằng Nguyễn Huy Thiệp đã viết được những áng văn “giản dị và trung thực về con người” (chữ dùng của E.Hemingway).

 

Có thể nói, “Không có vua” của Nguyễn Huy Thiệp đã chắt gạn được nhân tính con người. Bên cạnh sự phê phán một xã hội mà ở đó con người biến chất vì đồng tiền, vì ham muốn tính dục mà đánh mất nhân tính, nhà văn còn củng cố niềm tin về phần tốt đẹp luôn tồn tại trong mỗi phần “Con” của một “Con Người”.

 

Bài viết đăng trên Diễn đàn Thả Mình Vào Văn Học

Nguồn: FB Thả Mình Vào Văn Học

 

 

Please Select Embedded Mode For Blogger Comments

Mới hơn Cũ hơn