Nguồn:
https://chandungkesi.com/nha-van-nguyen-huy-thiep-toi-viet-truyen-tuong-ve-huu-id452.html
-
Đổi mới với ý thức xây dựng một cơ
sở mỹ học mới từ ngay trong thực tế nội tình văn học ở trong nước là điều quan
trọng nhất. Đó là điều mà các thế hệ nhà văn đổi mới trong 30 năm qua đã làm
được.
Năm 1986, “cùng tắc biến, biến
tắc thông”. Ngày 15-12-1986, tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, Đảng
Cộng sản Việt Nam tuyên bố “đổi mới”. Bấy giờ tôi 36 tuổi, “tam thập nhi lập”,
vừa tròn ba giáp. Hoàn cảnh đất nước bấy giờ khá thê thảm. Mẹ tôi mất ngày
12-3-1987. Sau tang mẹ, tôi ngồi viết truyện Tướng về hưu. Đám tang
trong truyện y hệt đám tang mẹ tôi.
Tôi gửi bản thảo truyện Tướng về
hưu cho báo Văn Nghệ khoảng tháng 4-1987. Biên tập viên bấy giờ là
Ngô Ngọc Bội nhận bản thảo. Báo Văn Nghệ in truyện này ngày 20-6-1987
(gộp ba số 24, 25, 26 lại thành một số). Trong truyện, Ngô Ngọc Bội sửa chữ “tếu”
thành chứ “láo” trong câu thoại: “Cái Vy hỏi: “Đường ra trận mùa này
đẹp lắm có phải không ông?”. Cha tôi chửi: “Mẹ mày! Láo!”.
Thời gian này tôi mới ở miền núi Sơn
La chuyển về Hà Nội, chỉ là một nhân viên quèn ở Công ty Sách - thiết bị trường
học (Bộ Giáo dục), tôi chưa có tên tuổi gì ở trên văn đàn, chưa có tâm thế và
sự cả gan để mắng câu thơ “đường ra trận mùa này đẹp lắm” của Phạm Tiến
Duật là “láo” được (Phạm Tiến Duật cũng là thần tượng trong thời trẻ của
thế hệ thanh niên chúng tôi).
Bản thảo truyện Tướng về hưu
viết tay, sau này được Bùi Xuân Phái viết chữ sơn dầu trên bìa màu xanh, hiện
lưu giữ trong bộ sưu tập của gia đình ông Phạm Văn Bổng, ở số nhà 93 Hàng Buồm,
Hà Nội.
Truyện Tướng về hưu xuất
ngoại lập tức được in trên tạp chí Đoàn Kết số 395 tháng 10-1987 của Hội
Người Việt Nam tại Pháp do Trần Hải Hạc và Bạch Thái Quốc chuyển đi, sau này
được Kim Lefevre dịch và in trên tạp chí Les Temps Modernes số 512 tháng
3-1989 (tạp chí này do Jean-Paul Sartre và Simone De Beauvoir chủ trương).
CÂY VIẾT
TRONG TAY THƯỢNG ĐẾ
30 năm đã qua, truyện Tướng về
hưu được một số người coi là mốc đánh dấu mở đầu cho thời đổi mới văn học ở
Việt Nam. Nói như lời mẹ Teresa “tôi chỉ là một cây viết trong tay Thượng đế”,
truyện Tướng về hưu ngoài việc “cập thời vũ” (mưa đúng lúc), hợp
về thời gian lịch sử, nó đã làm được hai việc rất quan trọng, đáng gọi là “đổi
mới” ở trong văn học:
Một là về hình thức: Đây là tác phẩm đặc sắc có tính chất bạo động về ngôn
ngữ (tôi dùng khái niệm bạo động về ngôn ngữ để chỉ chung cho cả một
thế hệ nhà văn đổi mới cùng thời như Phạm Thị Hoài, Bảo Ninh, Nguyễn Quang
Thiều, Tạ Duy Anh, Hồ Anh Thái, Nguyễn Bình Phương, Phan Thị Vàng Anh, Nguyễn
Việt Hà, Lại Văn Long, Đỗ Phước Tiến, Đỗ Hoàng Diệu, Nguyễn Ngọc Tư...) Trước
đổi mới, văn học chỉ có một giọng điệu mà Nguyễn Minh Châu gọi là “văn học minh
họa”.
Hai là về nội dung: Đây là tác phẩm đặc sắc đưa được “đạo” vào nội dung tác
phẩm văn học. “Đạo” đây nên hiểu là con đường tự nhiên, con đường thoát hiểm,
con đường sống sót, con đường hi vọng. Nó là trăm ngàn sắc thái trong cuộc sống
bình thường của con người ta như sinh, lão, bệnh, tử, ái, ố, hỉ, nộ, dục, ưu,
lạc...
Giống như lời trong bài hát Mùa
xuân đầu tiên của Văn Cao “ngày bình thường”, “mùa bình thường”, “khói bay
trên sông, gà gáy bên sông”, “người biết thương người, người biết yêu người”...
Dấu hiệu nhận biết đầu tiên của “đạo” là nụ cười, sau đó là những biểu hiện của
tình yêu thương với lòng chẳng nỡ, tính nhân văn...
Lê Quý Đôn từng nói: “Văn chương
có đạo thì thịnh, không như thế thì suy”. Văn học hướng về sự sống, “mang
khuynh hướng lý tưởng và khuynh hướng duy tâm” (di chúc văn chương của
Alfred Nobel) chứ không phải là văn chương vô thần, cổ vũ hoặc ngụy biện cho
tinh thần thực dụng, bạo lực, cho chiến tranh, cho khủng bố (dù với tính chất
gì đi nữa).
Trong mối tương quan với các truyện
khác, Tướng về hưu chưa phải là truyện “đổi mới” triệt để. Truyện vẫn
còn có sự rào đón trước sau trong câu chuyện của “người kể chuyện”. “Đổi mới”
dứt khoát phải là truyện Không có vua, sau đó là Con gái thủy thần,
Những người thợ xẻ, bộ ba truyện giả lịch sử Kiếm sắc, Vàng
lửa, Phẩm tiết (thực chất bộ ba truyện này là truyện bịa đặt lịch
sử. Lịch sử nào cũng bịa đặt, cũng “dường như”. Alexandre Dumas nói: “Lịch
sử là chỉ là cái đinh để tôi treo lên đó trí tưởng tượng của mình”. Lịch sử
nào thật ra cũng được dựng lên nhằm mục đích biện hộ, giải thích cho những tư
tưởng chính trị “đang là”, “đang diễn ra”, “đang thượng phong”, “đang đắc thế”
mà thôi).
THÊM VÀI Ý KIẾN
VỀ KHÁI NIỆM “ĐỔI MỚI”
Đổi mới là thay cái cũ bằng cái mới,
phù hợp với hoàn cảnh mới. Tất cả đều diễn ra trong “dịch”, trong dòng chảy
lịch sử. Phản ứng lại kiểu gì với nó cũng chỉ là “chạy ngược trên chiếc
thuyền xuôi”, không phải là phản ứng tích cực. Điều quan trọng là hòa nhập,
đồng thuận được với hoàn cảnh.
Đổi mới có nhiều cách, nhiều “cảnh
giới”: Đầu tiên phải là phá vỡ cái cũ, giống như khoan cắt bêtông, giải phóng
mặt bằng, rất khó chịu, thậm chí bất công và lộn xộn. Trong văn học có lẽ đó là
trường hợp của Trần Mạnh Hảo, Trần Huy Quang, Nguyễn Quang Lập... và một số cây
bút ký sự như Phùng Gia Lộc, Hoàng Hữu Các...
Đổi mới trên cơ sở mỹ học cũ, có cơi
nới, phản tỉnh, đắp điếm thêm. Trong văn học có lẽ đó là trường hợp Nguyễn Minh
Châu, Nguyễn Khải, Lê Lựu, Mai Ngữ, Vũ Bão, thậm chí Nguyễn Khắc Trường, Dương
Hướng, Hoàng Minh Tường...
Đổi mới với ý thức xây dựng một cơ
sở mỹ học mới từ ngay trong thực tế nội tình văn học ở trong nước là điều quan
trọng nhất. Nó hợp thời: “Tác hữu trần sa hữu/Vi không nhất thiết không” (Có
thời có tự mảy may/Không thời cả thế gian này cũng không). Đó là điều mà
các thế hệ nhà văn đổi mới trong 30 năm qua đã làm được. Không nên coi là sai
đúng, chỉ biết rằng nó đã diễn ra, nó sống, nó tồn tại.
Văn học thật sự luôn hướng về chân -
thiện - mỹ, luôn giữ gìn được bản sắc dân tộc và tìm đến sự hòa nhập trong thế
giới văn minh.
![]()