26 thg 2, 2017

Bài học viết về chiến tranh từ Nguyễn Thanh Việt

Gồm cả phần thứ nhất 
đã đưa trên FB ngày 23-2
và phần thứ hai 27-2-2017


Khi được biết Nguyễn Thanh Việt (NTV) nổi lên  do viết về chiến tranh dưới góc độ người tị nạn, tôi vẫn còn dửng dưng, đúng hơn là không dám nghĩ tới chuyện tìm hiểu.
Phần vì không biết tiếng Anh và không có sách.
Và phải nói là  giữa  biển sách báo ra đời hiện nay, những quyển sách tốt  không có ai  làm người dẫn truyền, mà sách của NTV cũng vậy.
May quá hôm nay đọc trên BBC bài “Những câu chuyện không chỉ dành cho người Việt” của Nguyễn Phan Quế Mai (NPQM)
Bài báo  cho biết một số chủ đề ở NTV được triển khai như sau:
1/ CHIẾN TRANH. Tại sao chiến tranh lại xảy ra? Tại sao con người lại tiếp tục chia rẽ con người? Sự chia rẽ đó không chỉ tồn tại trong hoặc ngay sau cuộc chiến, mà hậu quả của nó còn kéo dài trong rất nhiều thập kỷ.
Trong truyện ngắn “I'd Love You to Want Me” (tạm dịch Em muốn anh khao khát em) , quá khứ - với những đường viền ảo mờ là chiến tranh và loạn lạc - có nguy cơ chia rẽ vợ và chồng. Bà Khanh - người phụ nữ phải hy sinh công việc mà bà yêu thích để có thể chăm sóc chồng - dần nhận ra rằng chồng bà đang nhầm lẫn bà với một người phụ nữ khác. Người phụ nữ đó là ai và có vai trò thế nào trong thời gian chồng bà còn sống ở Việt Nam? Liệu việc bà và chồng đã cùng sống sót chuyến hành trình vượt đại dương, đã cùng vượt qua những ngày đầu ở California - nơi họ đã phải ăn đồ ăn mua bằng phiếu thực phẩm, mặc quần áo cũ do người khác bố thí - có đủ níu họ lại với nhau? [nghĩa là kinh nghiệm tị nạn liệu có lấn át kinh nghiệm chiến tranh - VTN]
2/TỊ NẠN Di sản mà những người tị nạn chiến tranh thừa hưởng từ cha mẹ mình thường bao gồm sự nghèo đói, hoặc sự bơ vơ lạc lõng trên đất khách quê người. Theo NPQM, khi mô tả những di sản thường gặp đó, ngòi bút của NTV bám rễ vào thế giới nội tâm của những người tị nạn để cất lên tiếng nói về di chứng tâm lý hậu chiến tranh.
'khi nằm trên giường và lắng nghe những đứa trẻ chơi nhắm mắt chạy trốn ở lối đi giữa những chiếc lều, anh cố gắng quên đi những người đã bám vào không khí khi rơi xuống sông, một số người bị đánh ngã trong sự hỗn loạn, một số bị những người lính đang tuyệt vọng tìm đường tháo chạy bắn vào lưng '.
3/ Các nhà văn VN hiện nay có phần lảng tránh chiến tranh. Số muốn tiếp tục khai thác các kinh nghiệm thời chiến thì lại bế tắc , không rõ nên viết cach nào.
NPQM dẫn lại một câu của NTV : ‘'…Các tác phẩm của tôi, mặc dù chủ yếu nói về người Việt và cuộc chiến tranh Việt Nam, nói cho cùng là để hướng tới những chủ đề to lớn hơn - chiến tranh và ký ức, quyền lực và lạm dụng quyền lực, loại trừ và dung nạp, bất công và đấu tranh giành lại công lý. Lịch sử của bản thân tôi - với tư cách là người tị nạn mà cả hai đất nước đều không muốn đón nhận - đã khiến tôi trở thành một người viết luôn ngờ vực chủ nghĩa dân tộc, chiến tranh, và những tác phẩm viết ra không vì mục đích tạo nên sự thay đổi.'
Thứ nhất , tôi thấy ở đây gợi ý của tác giả: nếu chỉ viết về  chiến tranh như chiến tranh, thì thật nông nổi và sẽ không bao giờ lần hết cái đáy của nó.  Trong chiến tranh người ta có thể  đọc ra những chủ đề vĩnh cửu mà cũng cấp bách khác:"quyền lực và lạm dụng quyền lực, loại trừ và dung nạp, bất công và đấu tranh giành lại công lý"
Thứ hai, các  nhà văn VN hiện nay cầm bút  thường chỉ nghĩ  chỉ lo cho cộng đồng mình. NTV đã  mở ra một hướng mới, bảo đảm cho sức khái quát của tác phẩm.
Tôi  cũng tìm thấy ở  đây cái lý do chính khiến cho NPQM đặt tên bài viết của mình là “Những câu chuyện không chỉ dành cho người Việt”
Nhà báo Cam Ly là người đầu tiên viết phỏng vấn  NTV trên báo Người đô thị số tết 2017. Nhà nghiên cứu NPQM giới thiệu lại một lần. Tôi lại đồ lại lần nữa, xoàng quá! Nhưng tôi thấy vui vì biết đâu sau stt này, có thêm nhiều người đọc NTV, nhất là có thêm những nhà văn tìm cách viết lại về Việt Nam, chiến tranh và hậu chiến.

CẦN TẠO RA THẾ ĐỨNG NGOÀI
Tôi không ngại mang tiếng vụ lợi:  sở dĩ chúng ta muốn hiểu thêm về   NTV,  là để thúc đẩy tình hình văn học viết về chiến tranh trong nước.
Một cách tổng quát,  bộ phận văn học này ở ta  – trừ trường hợp Bảo Ninh Dương Thu Hương --  vẫn tiếp tục cái mạch từ  phát sinh ở Hà Nội trước sau 1975, tức là ca ngợi chiến tranh.
Bởi cách nhìn thiển cận trên đã ăn vào máu chúng ta, nên tôi sẵn sàng nhắc đi nhắc lại cái gợi ý của NTV ,[hãy thay đổi bản thân theo hướng]  trở thành một người viết luôn ngờ vực chủ nghĩa dân tộc, chiến tranh, và những tác phẩm viết ra không vì mục đích tạo nên sự thay đổi.”
Ý của tác giả trong trường hợp này là cần có cách nghĩ đa dạng hơn nhiều  chiều hơn về  vai trò chiến tranh trong lịch sử dân tộc cùng những vấn đề liên quan.
 Đằng sau hai chữ ngờ vực ắt hẳn còn những nội dung cụ thể khác.
Nhưng nó là chuyện quá lớn, chúng ta hãy tạm ghi nhận và nghĩ tiếp.
Lúc này đây, tôi muốn dừng lại ở khía cạnh cái thế đứng ngoài  của tác giả.
Về không gian, nay tác giả đang sống ở một nước khác.
Về thời gian, tác giả sinh ra và lớn lên ở thời hậu chiến.
Theo cái lý luận rất đơn giản song đầy sức khống chế mà các nhà văn Hà Nội  được giáo dục và lấy làm nguồn lực hành động thì như vậy sẽ rất khó viết, nếu không nói rằng không bao giờ nên viết. Anh sẽ không có được những chi tiết sinh động. Nhất là anh sẽ không có được cảm giác của người trong cuộc.
Không kể các nhà văn thế hệ chống Mỹ nay đã ở tuổi cổ lai hy, ngay các nhà văn trẻ sinh sau chiến tranh cũng thường dựa vào cớ này -- sự xa cách về thời gian -- để giải thích những thất bại của họ khi viết và tiếp đó là thực sự lảng tránh.
Cách nghĩ của Nguyễn Thanh Việt là một gợi ý đúng lúc. Tôi còn  muốn mạnh dạn nói rằng cả thế giới người ta nghĩ  theo kiểu ấy,  riêng ở ta là khác.
 Suốt trong những năm chiến tranh dân Hà Nội chúng tôi sống bằng ý nghĩ là chỉ có người Việt Nam mới hiểu được người Việt Nam và về  chiến tranh  cũng vậy.
Chỉ có vài năm gần đây mới có thay đổi chút ít. Thì lẽ dĩ nhiên là chúng ta tự cho là mình độc quyền trong việc giải thích chiến tranh và theo tôi hiểu sự hạn chế trong việc nhận thức chiến tranh đã khiến cho nếp sống nếp nghĩ thời chiến kéo dài đến hôm nay, trong khi hướng tới tương lai thì sự thực là chúng ta vẫn sống trong sự thống trị của quá khứ.
Hẳn có người sẽ văn lại:  Anh bảo tôi từ bỏ trải nghiệm hôm qua chỗ đứng hôm qua à. Vô trách nhiệm quá. Và hoang đường nữa!
Không tôi không ngớ ngẩn đến thế. Tôi chỉ đề nghị chúng ta phối hợp cái thế đứng trong vốn có, với một khả năng khách quan hóa quá khứ. Tức đi tìm mình không chỉ bằng  kinh nghiệm của mình mà còn phối hợp kinh nghiệm kẻ khác. Nó sẽ làm ta thấu đáo hơn sáng suốt hơn.
Công nhận vai trò của một cái nhìn từ thế đứng ngoài bổ sung cho thế đứng trong không chỉ liên quan đến nhận thức về chiến tranh mà còn tới nhận thức đời sống nói chung.
 Nó cũng đã được khái quát trong nhiều công trình thuần túy lý luận, chắc các bạn đọc đọc nhiều về nhận thức luận đều biết. Lý luận về sân khấu gián cách  của nhà thơ nhà viết kịch Đức B Brecht là một bước ngoặt trong tư duy nghệ thuật thế  giới,  ở Hà Nội trước 1975 còn được nhắc tới ít nhiều, nay thì không ai đoái hoài tới nữa(?)
Phần tôi, có ảnh hưởng đến tôi nhiều nhất là nhà nghiên cứu người Nga M.M. Bakhtin.  Trong một bài viết ngắn viết cuối đời, ông đã dành đoạn cuối nói về thế đứng ngoài trong văn học. Bài này tôi đã dịch  và giới thiệu ở Tạp chí Văn học 1980, mới đây năm 2014 đã đưa lại trên blog của tôi ở đường link

http://vuongtrinhan.blogspot.com/2014/05/m-bakhtin-mot-so-van-e-can-luu-y-khi.html

Đây là một đoạn trích:
Có một quan niệm đã sống dai dẳng trong chúng ta nhưng là quan niệm một chiều và do đó không đúng: đó là quan niệm cho rằng để hiểu một cách thật đúng một nền văn hóa khác, cần đặt mình vào đó, quên mình đi, chỉ nhìn thế giới bằng con mắt của nền văn hóa xa lạ với mình này.
Cố nhiên, việc thâm nhập vào một nền văn hóa khác, khả năng nhìn thế giới bằng con mắt của nó là nhân tố cần thiết để tìm hiểu nó. Nhưng nếu chỉ nhờ yếu tố đó đã hiểu mọi chuyện, thì cách hiểu đó chẳng qua chỉ là một bản sao đơn giản, không có gì mới và cũng chưa giàu có thêm về bất cứ phương diện nào...
Để hiểu hiện tượng, nhà nghiên cứu có một việc quan trọng là tạo ra thế đứng ngoài – đứng ngoài về cả không gian, thời gian và văn hóa – trong tương quan với sự vật mà nhà nghiên cứu đó muốn hiểu một cách sáng tạo. Bản thân bề ngoài của mỗi con người cũng không bao giờ được người đó nhìn nhận một cách thấu đáo và suy nghĩ được toàn diện; không một tấm gương hoặc một bức ảnh nào giúp được người đó trong việc này hết. Chỉ có những người ngoài nhìn thấy cái vẻ ngoài thực sự của anh ta, hiểu vẻ ngoài đó, nhờ cái thế đứng ngoài xét về mặt không gian, cũng như nhờ vào chỗ họ là những người khác.
Trong lĩnh vực văn hóa, thế đứng ngoài là một thứ đòn xeo mạnh mẽ giúp cho sự hiểu biết ...Chỉ trong mắt những nền văn hóa khác, một nền văn hóa lạ mới tự phát hiện ra mình một cách đầy đủ hơn và sâu sắc hơn. Trong khi gặp gỡ và tiếp xúc với nhau, từng nền văn hóa này phát hiện ra bề sâu của mình; giữa đôi bên dường như bắt đầu một cuộc đối thoại, khiến cho tính cách chật hẹp và đơn điệu của từng nền văn hóa này được khắc phục.