22 thg 7, 2015

Từ lưu manh trong đời sống tới lưu manh trong cai trị

Phần thứ nhất trong bài viết dưới đây
vốn  đưa trên blog này ngày 1-1-2012
và đưa lại trên FB của tôi ngày 18-7-2015.
Riêng phần thứ hai mới được bổ sung   


Sự phổ biến của hiện tượng lưu manh, tâm lý lưu manh, cách sống lưu manh                                 
Trong bài Đường đi và người đi -- Những khám phá thú vị về xã hội người Việt xưa in trên TT&VH số ra 18-12-2011 nhà nghiên cứu Phan Cẩm Thượng có viết :
“ Ngày xưa đi buôn, thường phải thuê người gánh hàng, một người gánh hai thúng gọi là Đểu, hai người gánh chung một thúng hoặc một kiện hàng gọi là Cáng. Dân gánh thuê Đểu Cáng thi thoảng có trộm hàng của chủ buôn, nên chữ Đểu Cáng dần mang nghĩa xấu, cũng như chữ Lưu manh – người mù đi lang thang, đôi khi cũng trộm cắp, nên chữ này cũng mang nghĩa xấu”.

Tôi muốn bàn thêm với anh Thượng riêng về hai chữ lưu manh.
Chữ manh ở đây không phải người mù.
Trong chữ Hán cũng có một chữ manh viết bằng cách kết hợp chữ vong với bộ mục, Đào Duy Anh dịch nghĩa là mắt không có con ngươi, tối tăm.
Nhưng trong từ ghép lưu manh thì sách vở xưa nay đều viết chữ manh khác, gồm chữ vong như trên và bộ thị thay cho bộ mục. Chữ manh nói về sau này thời cổ là chỉ chung là dân. Trong Bình Ngô đại cáo có câu:
Yết can vi kỳ, manh lệ chi đồ tứ tập
Đào Duy Anh dịch là
Dựng gậy làm cờ, dân chúng bốn phương tụ họp
Là dùng chữ manh ấy.
Từ chỗ ban đầu chỉ dân nói chung ( Hiện đại Hán ngữ từ điển giảng “ cổ đại xưng bách tính”), sau chữ manh này chỉ dân không có nghề nghiệp. Nó cũng không mấy khi được dùng riêng mà thường dùng như một thành phần trong từ ghép lưu manh.
Anh Phan Cẩm Thượng cho rằng đểu cáng thi thoảng có trộm hàng của chủ hàng nên có nghĩa xấu.
Nghĩa xấu đó là gì? Việt Nam Tự điển của hội Khai trí tiến đức 1931 ghi đểu cáng là hạng người hèn mạt vô hạnh. Như vậy là từ một thói xấu đã biến thành một bản chất. Nay đểu cáng thường dùng như một tính từ chỉ phẩm chất.
Hạng lưu manh cũng vậy. Các từ điển Hán -- Hán hiện đại thường ghi lưu manh ban đầu chỉ dân lang thang vô nghề nghiệp, sau chỉ kẻ “bất vụ chính nghĩa, vị phi tác đãi’, tức là kẻ không biết chính nghiã là gì, dám làm mọi việc phi pháp xấu xa.
Tra các từ điển Hán Anh, tôi thấy người ta thường dịch lưu manh thành rogue, gangster, hooligan, sau đó chuyển sang nghĩa rộng hơn, nó dùng để chỉ những quan niệm hành động phi đạo đức, liều lĩnh, bậy bạ, rộng hơn là những triết lý “vô thiên vô pháp”, cho phép người ta dùng mọi thủ đoạn cốt đạt được mục đích.
Dẫu sao tôi cũng cảm ơn nhà nghiên cứu Phan Cẩm Thượng. Từ chỗ nghiên cứu nghệ thuật thuần túy, anh chuyển sang nghiên cứu cơ sở của nghệ thuật là xã hội.
Khi nghiên cứu về giao thông VN trong xã hội cũ, anh không chỉ nói tới đường đi mà còn nói tới người đi, vì thế mới có câu chuyện chúng ta trao đổi ở đây.
Tôi lại rất tán thành cái hướng mà anh theo là phân chia xã hội không theo thang bậc giai cấp chung chung nông dân—địa chủ phong kiến mà theo các tầng lớp hình thành trong xã hội như kẻ sĩ, nhà buôn, kẻ hạ lưu trộm cướp lưu manh.
Xin phép nói thực, tôi cũng đang muốn làm như vậy.
Phần góp chuyện của tôi:
Ngày nay chúng ta thường hay lý tưởng hóa chữ dân. Nhưng ở trang 87 của Từ điển từ nguyên tiếng Trung ( Nxb Hồng Đức H. 2008 ), tác giả Nguyễn Mạnh Linh ghi:
"Để áp bức nô lệ làm việc và tránh tạo phản, bọn chủ nô thường bắt họ đeo gông tay gông chân hoặc dùng mũi khoan chọc mù mắt họ. Chữ dân trong Giáp cốt văn và Kim văn nghĩa gốc là chỉ nô lệ, nghĩa rộng chỉ kẻ bị thống trị trong đó bao gồm nô lệ và dân thường. Sau này phiếm chỉ bách tính quần chúng nhân dân."
Phải đi vào từ nguyên học lôi thôi như vậy vì nói tới người dân xưa là nói tới tình trạng lang thang vô nghệ nghiệp.
Mà đó cũng là nguồn gốc tạo nên cách sống của họ.
Họ chẳng coi cái gì là quan trọng.
Họ dám làm những việc động trời bất chấp pháp luật. Nhờ thế, trong lịch sử các nước như Trung Quốc Việt Nam họ là nguồn gốc của những hỗn lọan mà ngày nay ta hay gộp vào và gọi chung là những cuộc nông dân khởi nghĩa.
Lưu manh du đãng… ở ta đóng vai trò lớn trong các cuộc chiến tranh kể cả nội chiến lẫn chống ngoại xâm. Nhiều bộ sách cũ tôi đọc được có ghi những người theo Đinh Bộ Lĩnh cờ lau tập trận là du đãng, mà sau này Quang Trung mạnh cũng là nhờ tập hợp và phát huy sức mạnh đám người này.
Trong lịch sử Trung quốc, những Lưu Bang Hán Cao Tổ, hoặc Chu Nguyên Chương Minh Thái Tổ cũng mang đậm trong mình chất vô lại, du đãng, lưu manh. Đã có câu tổng kết trí thức chỉ làm đến tể tướng chỉ có lưu manh mới có thể làm vua.
Nhận xét ấy trong thời hiện đại được chứng nghiệm qua bộ đôi Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai.
(Tuy Mao Trạch Đông cũng là một trí tuệ siêu đẳng, song yếu tố chủ đạo trong ông vẫn là lưu manh).
Lịch sử cả Đông lẫn Tây vận động theo hướng xã hội khép kín trong các làng xóm thôn lạc thời cổ điển bị phá vỡ, con người tràn ra thành thị. Trong khi các tầng lớp nhà buôn và quan lại dùng tri thức tổ chức lại đời sống thì tầng lớp lưu manh cũng xuất hiện, và phát triển mạnh theo hướng thâm nhập vào các tầng lớp khác.
Trong xã hội Việt Nam sau 1945, do mải lo chiến tranh, nên chúng ta dung túng cho mọi cách sống khác nhau.
Trong khi không chú ý tới những tiêu chuẩn đạo đức nhân bản, xã hội để mặc cho xu thế lưu manh phát triển, nó mặc sức chi phối sự hình thành nhân cách từ người lao động đến người có học, làm họ cũng trở nên lười biếng tầm thường tàn ác vô cảm, nhất là khinh thường mọi sự thiêng liêng, cho phép mình sống như quỷ dữ.
Tức là lưu manh hóa họ.
Mặc dù nhiều khi mượn áo trí thức để làm dáng nhưng trong thực tế bản chất của lưu manh là thâm thù căm ghét trí thức chân chính.
Và họ căm thù trí tuệ nói chung.
Ở tầng lớp lưu manh khóac áo trí thức, cái lõi là vô học, bao nhiêu cái có học bên ngoài chỉ là đắp điếm thêm.


 Trí thức cầm quyền và thói lưu manh trong cai trị
Ở trên, tôi đã nói Mao Trạch Đông có cốt cách lưu manh. Phải nói rõ thêm chính ra ông cũng là một trí thức siêu đẳng. Đã có thời gian ông làm thủ thư Đại học Bắc Kinh. Có thời gian đi dạy học. Thói quen đọc sách theo ông suốt đời, đi đâu ông cũng đọc. Bạn tôi anh Nguyễn Bá Dũng từng kể với tôi, có thời gian Mao Trạch Đông và Tưởng Giới Thạch cùng làm việc ở một Bộ tư lệnh quân sự. Nhiều buổi sáng dạy, người ta bắt gặp Mao và Tưởng cùng ra sân, mỗi người một cuốn sách trên tay. Xòe ra thì đều là Tư trị thông giám – tấm gương về sự cai trị của Tư Mã Quang (1019-1086).
Trong một  cuốn sách nói về cuộc hòa giải Trung – Mỹ 1972, tôi thấy người ta kể tuy Chu Ân Lai là người trực tiếp đón Nixon, song Mao là người chỉ đạo từng bước cụ thể.
Có một chi tiết liên quan đến chuyện chúng ta đang nói.  Khi Nixon đến thăm Mao thấy  Mao đang có trên tay cuốn sách mới in ở Mỹ và chắc có ai vừa dịch để cung cấp cho ông.
Những người lâu nay chê Mao bảo rằng  Mao chỉ thích đọc sách kinh điển Trung quốc hóa ra đã lầm. Mao cũng đọc đủ sách của phương Tây hiện đại.
 Tiễn Nixon về, Chu quay lại báo cáo với Mao. Chu bảo:
-- Chúng ta vừa thay đổi thế giới.
Mao trả lời ngay:
-- Trước đó thế giới đã làm chúng ta thay đổi.
 Nhạy bén và hiện đại ở đây là thuộc tầm vĩ mô!
Cũng như nhiều lãnh tụ Trung Hoa, Mao cũng làm thơ. Mà ở Trung quốc, cái danh hiệu nhà thơ không dễ dãi như ở ta. Thơ là lĩnh vực của trí tuệ.  Đọc thơ Mao thấy ông có tầm vóc lịch sử. Lại có người nói qua thơ đã thấy có khí trượng đế vương.
Nhưng mượn cách nói của người xưa, phải nói ông thuộc loại bá đạo chứ không phải vương đạo.

Có một hồi tôi cứ tưởng chỉ những trí thức nửa mùa, trí thức nửa đời nửa đoạn mới chuyển sang lưu manh. Hóa ra không phải, cái mầm lưu manh đã quá mạnh và nằm sâu trong lõi thì cái bao quanh nhiều khi không làm cho người ta thay đổi được, dù có đọc bao nhiêu sách vở nữa cũng không làm cho người ta thành trí thức thực thụ. 
Chất trí thức trong Mao là thế. 
Trong số các tài liệu về Mao, tôi bị thuyết phục nhiều bởi cuốn tiểu sử Mao của tiến sỹ Ralf Berhorst, rồi do Phan Ba dịch từ chuyên san lịch sử “Trung Quốc của Mao Trạch Đông” do GEO EPOCHE xuất bản
https://phanba.wordpress.com/trung-qu%E1%BB%91c-c%E1%BB%A7a-mao-tr%E1%BA%A1ch-dong/
Chương đầu của cuốn này được gọi là Tên cướp đỏ, ở đó người đọc biết rằng từ thời mới khởi nghiệp Mao đã lưu manh bao nhiêu trong các hoạt động cách mạng của mình.
Khi đội quân do ông lãnh đạo gặp khó, ông thả cho họ đi cướp bóc dân chúng quanh vùng.
Trong quan hệ nội bộ cách mạng ông sẵn sàng phá bỏ điều cấm kỵ,giết chết những người vốn là đồng chí của mình nhưng nay khác ý kiến mình. Và ngay từ lúc đó, -- tác giả  Ralf Berhorst viết tiếp --  ông cũng đã đủ vô lương tâm để che đậy cuộc đấu tranh giành quyền lực bằng những khái niệm của hệ tư tưởng.
Tôi sẽ không thuật lại ở đây những chi tiết về chất lưu manh chi phối suốt đời Mao mà nhiều người đã biết. Chỉ nói riêng về chính sách đối với văn nghệ.
 Người ta chỉ trách Mao lưu manh trắng trợn khi ông nói tuột ra rằng trí thức là đáng khinh bỉ, trí thức không bằng cục phân. 
Nhưng ông còn nhiều lần lưu manh theo kiểu khác -- lưu manh với nghĩa xảo trá.
Hồi 1956, các tài liệu đều nói Trung quốc có phong trào trăm hoa đua nở trăm nhà đua tiếng. Cái câu “Bách hoa tề phóng bách gia tranh minh” vốn có từ thời cổ  được Mao dùng lại.
 Chính Mao đã đề ra phong trào này để khuyến khích các trí thức góp ý về cách lãnh đạo. Rồi chính Mao quay lại diệt họ cho họ về vườn, hoặc bắt họ hối cải công khai, ai không hối cải thì cho đi tù.
Chỗ này thì người ta có thể bảo Mao là nhà chính trị thủ đoạn, tráo trở, hèn hạ. Theo chỗ tôi biết thì Stalin cũng triệt hại trí thức nhưng không bao giờ bẫy các trí thức như Mao.

Ở ta không phải không có lối cai trị kiểu này.

 Ví dụ như trường hợp Tố Hữu, sếp lớn của bọn tôi.
 Mặt chuyên chế của ông thì bọn tôi đã biết qua những câu chuyện về cách ông xử lý vụ Nhân văn Giai phẩm.
 Sau này, đọc hồi ký Nguyễn Đăng Mạnh, tôi được biết “Tố Hữu trông người nhỏ nhắn, nhẹ nhõm như một thư sinh. Nhưng rất hách. Tôi đã nghe Hoàng Cầm nói, ông đã từng ra lệnh bắt Trần Dần, Tử Phác bằng sáu tiếng ngắn gọn: “Gọi nó về, bắt lấy nó”.
Nhưng Tố Hữu cũng lại  thường tỏ ra nhân hậu và khuyến khích tài năng, khuyến khích đi tìm chân lý.
Đây là một đoạn tôi đã viết trong bài Để hiểu thêm TỐ HỮU
“Những năm chiến tranh, thỉnh thoảng một số anh em viết trẻ chúng tôi cũng được gọi đi nghe Tố Hữu nói chuyện. Có một câu ông nói khiến tôi nhớ nhất và phải nói thực, sợ nhất, đó là cái ý ông bảo sang nước ngoài thấy đời sống họ lạnh lùng lắm, về nước thấy đồng bào mình sống với nhau, ấm cúng hơn hẳn.
 Ông cũng thường nói là nổi tiếng ở nước ngoài thì dễ, nổi tiếng ở trong nước mới khó.
 Lại có lần khuyến khích lớp trẻ, ông bảo phải biết đấu tranh cho chân lý, khi cần phải cắn xé(!). May mà bọn tôi đã nghe nhiều về tính đồng bóng của ông, nên chẳng mấy cảm động, nhớ đâu hình như chính Xuân Quỳnh bảo rằng có mà ông cho ghè gẫy răng.”

Năm ngoái đây, đọc Đèn cù của Trần Đĩnh ở chương 8 tập II, thấy có đoạn sau “… Mai Thế Trạch  con bà Lợi Quyền tư sản từng lẫy lừng chuyện quyên góp rất nhiều vàng cùng nhà cửa trong Tuần lễ vàng. Còn lại một ngôi, sau được Ban tuyên huấn Trung Ương đến hỏi. Chê đắt. Đùng một hôm xe tuyên huấn chở mấy bao tải tiền đến mua, đắt cũng được. Ba ngày sau đổi tiền. Tố Hữu, nguyên trưởng ban tuyên huấn đã hạ thời cơ tuyệt hảo chấm dứt cơ nghiệp đại gia tư sản Lợi Quyền có tiếng ở Hà Nội. Bằng giấy lộn. Ai cứ bảo nhà thơ trên gió trên mây. Còn Thế Trạch bằng số tiền bán nhà kia không mua nổi căn hộ con con ở Sài Gòn."

Gộp tất cả các  phương diện nói trên thì mới làm nên ông Lành của chúng tôi.