12 thg 3, 2014

Nguyễn Công Hoan và cuốn hồi ký "Đời viết văn của tôi"

Quyển sách phải có
    Với khối lượng chữ nghĩa đã viết, trong văn học VN hiện đại, tác giả Bước đường cùng phải được xem như  một trong số những người viết hoạt động có hiệu quả bậc nhất.

     Trong khi không sống hẳn giữa giới cầm bút mà lấy dạy học làm nghề chính, Nguyễn Công Hoan vẫn biết giữ cho mình một nếp làm việc đều đặn. Giữa dự định và công việc, thường khi có sự ăn khớp. Đã viết là in được.
      Ông lại luôn biết chăm lo tới tay nghề. Dễ không ai say sưa nói về kỹ thuật viết truyện như ông, nào là dàn quân nào là bài binh bố trận, và cuối cùng còn là bẫy  độc giả là đưa suy nghĩ của họ vào đúng cái luồng lạch mình đã bố trí sẵn khiến họ như cá vào lờ không sao thoát ra nổi.... 
      Từng cách thức được ông kể lại tỉ mỉ với niềm tin không thể lay chuyển: viết văn phải có mẹo có mực chứ không lơ mơ tùy tiện được.
      Sự xuất hiện của một cuốn sách hồi ký như Đời viết văn của tôi (1971) nằm trong cái mạch liên tục ấy. Nó là một bằng chứng nữa đánh dấu tính cách chuyên nghiệp của ngòi bút tác giả. 
      Một cách tự nhiên, đúng hơn một cách bản năng không cần tính toán gì nhiều, thật ra ông đã tiếp nhận quan niệm về một nhà văn chuyên nghiệp thường thấy ở phương Tây: sau những năm tháng cặm cụi làm việc  một người làm nghề thực thụ thể nào cũng  phải để ra một ít thời gian tính đếm lại đời mình. Hồi ký nên được coi là cái dấu chấm hết đẹp đẽ nhất cho một đời viết sung mãn.

   Hoàn cảnh ra đời
     Cuộc hành nghề của Nguyễn Công Hoan trước 1945 có thể gọi là khá thành đạt. Thế nhưng từ sau 1945, quá trình sáng tác của ông so với các đồng nghiệp trẻ hơn như Nguyễn Tuân, Tô Hoài, Bùi Hiển, Nguyên Hồng... có nhiều chỗ khác, nếu không muốn nói là xỉn hơn, kém hơn rõ rệt.
     Tám năm kháng chiến, trong khi nhiều nhà văn đấu đầu lo liệu cho Hội văn nghệ thì  ông làm việc ở một trường bổ túc văn hoá của quân đội, và chỉ sau hoà bình lập lại 1954  mới trở về nhận biên chế ở Hội nhà văn.
     Sự nhập cuộc trở lại này không mấy hiệu quả.
     Trong khi những Sông Đà, Truyện Tây Bắc  hoặc  Riêng chung, Anh sáng và phù sa...viết thẳng về cuộc sống mới và được dư luận đón đợi, được đủ các loại giải thưởng  to nhỏ thì Nguyễn Công Hoan chủ yếu viết lại cuộc sống trước 1945 như  Tranh tối tranh sáng(1956),  Hỗn canh hỗn cư (1961), Đống rác cũ (1963), và mặc dù các sáng tác ấy đã được tác giả đặt nhiều công sức, song có vẻ như chúng không tương xứng với tầm vóc và tiếng tăm của ông. 
      Khi ra đời chúng chỉ được  chào đón một cách dè dặt. 
      Có cuốn chỉ in được tập một rồi dừng lại hơn hai chục năm sau mới  ra nốt  được tập hai (Đống rác cũ).
    Có cuốn viết xong đành xếp tạm đấy mãi khi nhà văn qua đời mới được in ( Anh con trai người bạn đọc ấy).
    Một người  ưa hoạt động coi việc viết ngang với cơm ăn nước uống hàng ngày như  Nguyễn Công Hoan trước cảnh bí bách không chịu bó tay. Ông xoay ra làm một số việc khác như đi phỏng vấn các đồng nghiệp (Hỏi chuyện các nhà văn) hoặc đính chính thơ văn của Nguyễn Khuyến,Tú Xương...
    Dẫu sao có thể dự đoán, càng ngày ông càng cảm thấy vốn liếng mình là ở như những hiểu biết về xã hội cũ và chỉ  trong khi viết về xã hội cũ mình mới  trở nên có ích hơn cho con người đương thời. Cái định hướng này có thể ngẫu nhiên song đúng là đã trở thành nhất quán ở Nguyễn Công Hoan.
      Ông sớm tính chuyện viết hồi ký.
     Qua bảng niên biểu của một nhà nghiên cứu làm về Nguyễn Công Hoan, tôi được biết ngay từ cuối năm 1957,  Đời viết văn của tôi đã có bản sơ thảo.
     Tới năm 1969 thì hoàn thành, và hai năm sau thì được in ra ở nhà xuất bản chuyên về văn chương duy nhất bấy giờ là nhà Văn học.
     Tô Hoài, trong một bài viết về Nguyễn Công Hoan, từng ghi lại đoạn đối thoại sau:
     (... ) Lại đến năm trước anh kể :
 --Tôi mới nghĩ ra cái truyện dài,cái truyện dài này thì dài vô tận.
--Truyện gì  ạ ?
--Truyện nhớ gì  ghi nấy.
 Tôi vẫn chưa hiểu. Anh cắt nghĩa: ở tuổi  anh bây giờ, những từng trải những mắt thấy tai nghe, từ lúc mất nước đến khi độc lập,biết bao phong phú, phải ghi lại cho lớp người sau biết. Thế là anh đóng từng tập giấy hàng trăm trang, mỗi khi nhớ việc gì,suy nghĩ thấy nên ghi lại, anh ghi. Ghi hết giấy anh đóng tập khác.
   Những ý tưởng này chủ yếu liên quan đến tập Nhớ gì ghi nấy, song cũng đã hé ra cho thấy một phần cái tâm sự của nhà văn khi đến với Đời viết văn của tôi. Đặt vào thời điểm mà cuốn sách được viết, phải nói sự xuất hiện của nó là táo bạo bởi lẽ khoảng những năm năm mươi sáu mươi thế kỷ XX, số nhà văn ở ta tính chuyện nhìn lại đời mình một cách rành mạch, số đó còn rất ít. 
 
Một kiểu viết  hồi ký, một kiểu tự phân tích    
    Thể hồi ký vốn mang trong nó một sự đa dạng nhất định. Ở đây có những nguyên tắc chung, nhưng lại có chỗ  rộng rãi cho sự sáng tạo. Lấy ngay thí dụ trong văn học VN hiện đại. Có hồi ký gần với tự truyện, tức là một thứ tiểu thuyết, như Những ngày thơ ấu của Nguyên Hồng. Có hồi ký có tính cách một sự suy nghĩ lại về đời mình và do đó giàu chất chính luận như Tự phán của Phan Bội Châu.
     Về mặt nhân vật mà xét, có khi tác giả  bám sát quá trình cầm bút của bản thân  như Hồi ký Nguyễn Hiến Lê, lại có khi  người viết như tránh sang một bên, để nói về một ai đó hoặc nói chung về những người tác giả đã gặp và có vẻ chỉ nhân tiện mà nói thêm về mình như Cát bụi chân ai của Tô Hoài.
     Còn  Đời viết văn của tôi thì sao ?
     Như tên gọi của nó đã chỉ rõ, cuốn sách nhằm tới cái đích chung là phác hoạ sự hình thành tính cách của tác giả và con đường tác giả đến với văn học. Ông không chủ ý kể về đời mình một cách chi tiết, theo kiểu bám sát từng năm hoặc từng thời kỳ một. Mà ông khái quát lại thành các phần Ảnh hưởng …Hoạt động… Sáng tác...
     Trong khi hàng ngày, nhà văn thường vẫn tuyên bố là mình viết một cách hồn nhiên không đắn đo cân nhắc gì nhiều thì lúc bắt tay vào viết hồi ký, trên đại thể ông lại sử dụng một bút pháp mang ý nghĩa tổng kết, tức là đi từ xa tới gần, từ tổng thể đến trường hợp riêng,  từ nguyên nhân tới kết quả lớp lang đâu vào đấy. 
     Cái việc mang mình ra phân tích được  làm một cách khá bài bản.  Ông hiểu ông là sản phẩm của một hoàn cảnh, cũng giống như tờ giấy thấm, con người ông đã thấm đẫm những ảnh hưởng của môi trường xã hội chung quanh.
   
    Người ghi chép phong tục
    Khi bàn về thể tài của Bước đường cùng, nhiều người thích xác định đấy là  tiểu thuyết xã hội, tiểu thuyết tố cáo. Song Nguyễn Công Hoan nói đơn giản hơn đấy là tiểu thuyết phong tục, chẳng qua thạo nhiều chuỵện sinh hoạt ở nông thôn từ chuyện đẻ đái cãi nhau vì mất gà tới cảnh vay nợ, cảnh ăn khao rồi bỏ ruợu lậu vào ruộng của nhau… nên ông đưa cả vào trong sách.
    Cách hiểu về chi tiết phong tục như thế này cũng chi phối tác giả khi viết hồi ký Đời viết văn của tôi.
    Sinh năm 1903, Nguyễn Công Hoan có thể tự nhận là người cùng tuổi với thế kỷ XX. Trong lịch sử dân tộc, thế kỷ này là một bước rẽ ngoặt. Từ đây xã hội rời bỏ mẫu hình phát triển trung đại của phương Đông để sải bước  trên con đường Âu hoá.
    Bởi vậy những kỷ niệm của tác giả trong tuổi niên thiếu có thể coi như những chứng tích về sự xâm nhập của văn hoá phương Tây thông qua mọi yếu tố của môi trường xã hội cũng như con đường các gia đình nền nếp giáo dục các thành viên của mình để đứng vững trước mọi ảnh hưởng mạnh mẽ đó.  
     Những trang kể lại thời đi học ở trường Bưởi không hề mang tính cách  thơ mộng như thường thấy ở hồi ký các nhà văn khác. Mà cũng vẫn là những trang tự bộc lộ chân thành đến mức như là thách thức sự đời, lại còn pha chút trắng trợn bất cần.
     Nào là việc làm giấy khai sinh với ít nhiều man trá.
    Nào là  học trò chia phe phái trọc ghẹo nhau và đánh nhau với bọn trẻ con Tây.
     Nào là vào hùa chạy theo phong trào “đế chế bắc hoá “, tức tẩy chay hàng Tàu....
    Còn có hàng loạt những chi tiết có liên quan đến mọi mặt đời sống được Nguyễn Công Hoan nhân tiện ghi lại  làm nên da thịt của cuốn hồi ký văn học.
 
  Tiếng nói của người trong cuộc
      Nguyễn Công Hoan đã liên tục có mặt trong những giai đoạn nối tiếp nhau của lịch sử văn học: ông vừa là người của thời kỳ dò dẫm tìm đường (những năm hai mươi ), vừa là nhà văn hàng đầu khi đời sống sáng tác  đạt tới một sự chín đẹp (từ sau 1932 tới khoảng 44-45).
    Mấy chục năm đầu thế kỷ XX là thời đặt nền móng của nền quốc văn mới mà cũng là thời của báo chí văn học. Đây cũng là môi trường tốt để ngòi bút Nguyễn Công Hoan tập dượt.
      Với tờ báo này, ông là bạn của người sáng lập, nhân nể bạn thì viết giúp.
      Với tờ tạp chí kia, ông là một trong những cây bút chủ trò,người ta bàn với ông cả từ thể tài đến cách bán hàng.
     Những năm hai mươi khi mở mục Việt Nam nhị thập thế kỷ ba đào ký trên An Nam tạp chí, Tản Đà chỉ viết những bài đầu còn thực chất về sau là do Nguyễn Công Hoan  gánh vác. Những quyển sách đầu tiên của ông được in ra khi các nhà xuất bản còn chưa thành hình và chỉ có các nhà in hoặc các hiệu sách đứng tên sau các xuất bản phẩm.
      Đến khi Tiểu thuyết thứ bảy Phổ thông bán nguyệt san của Vũ Đình Long ra đời, ông lại trở thành một trong những tác giả  góp truyện đều đặn.
      Dường như có thể soi vào đời viết của ông để thấy bước đi của một mùa màng văn học từ  lúc thịnh trị tới  lúc lụi dần để chuyển giai đoạn. 
      Nếu như Vũ Trọng Phụng trẻ hơn ông viết sau ông nhưng lại qua đời trước ông ( họ Vũ mất 1939 ) thì Nguyễn Công Hoan còn lải rải viết thêm mãi về sau, cả khi những ngày đẹp nhất của văn học  đã qua.
    Có thể xem đây là một trong những yếu tố chủ đạo  tạo nên giá trị của  cuốn hồi ký. Qua Nguyễn Công Hoan chúng ta được biết nhiều chi tiết có liên quan đến  những sự kiện văn hoá mà không sách vở nào ghi lại.
     Chẳng hạn chung quanh  Đông dương tạp chí Nam phong, tác giả Đời viết văn của tôi không chỉ nói rõ mục tiêu khuynh hướng mỗi tờ báo đó, mà còn biết họ được nhà nước bảo hộ trợ cấp bao nhiêu tiền hàng năm.
    Hoặc chẳng hạn chung quanh tờ Hữu thanh của Bắc kỳ công thương đồng nghiệp ái hữu hội. Lâu nay giới nghiên cứu chỉ nghe nói Tản Đà làm với báo này vài tháng rồi thôi. Giờ đây cũng qua Nguyễn Công Hoan, chúng ta được  biết thực chất cái hội đó ra sao và ông chủ báo có cái thói kỳ cục thế nào ( Nguyễn Công Hoan, kể Nguyễn Huy Hợi, chủ báo Hữu Thanh là một kẻ rất hiếu danh. Bài viết ra để đăng báo, toà soạn họp để bàn thì bao giờ Nguyễn Huy Hợi cũng có mặt. Có mặt không để góp ý kiến mà để thấy bài nào hay cũng thò vào một câu “Hay là ký tên tôi “).
   Có những chi tiết thoạt nhìn có vẻ bâng quơ không đâu vào đâu nhưng nghĩ kỹ thấy có ý nghĩa, giá Nguyễn Công Hoan không kể thì ít người biết.
    Ở phần  Hoạt động Nguyễn Công Hoan bảo rằng một  điều khiến ông tự hào là cuốn sách đầu tay của ông mang tên Kiếp hồng nhan chỉ toàn sáng tác.
    Mới nghe người đọc thời nay hẳn lấy làm lạ. Tập truyện ngắn nào mà chẳng toàn sáng tác? Nhưng đọc thêm đoạn dưới của cuốn hồi ký mới biết hồi ấy, khoảng trước 1930,  sách in thường  tạp pí lù  mỗi thứ một tí, truyện lẫn với thơ, truyện mới sáng tác chen lẫn truyện dịch.
     Và như vậy tình trạng ấu trĩ của văn học lúc ấy còn len vào cả trong quan niệm về sách, còn Nguyễn Công Hoan thì có quyền tự hào là mình thuộc loại đi đầu trên con đường thay đổi để đi tới một sự thuần chủng.

  Một vài cải chính có ý nghĩa"sòng phẳng với lịch sử"
   Chẳng những biết sách vở khi nó đã được in ra, ông còn biết nhiều cuốn sách ngay từ khi nó được thai nghén.
      Đây là ví dụ :
     Khi thuật lại nguyên cớ thúc đẩy  Ngô Tất Tố viết Tắt đèn, Nguyễn Công Hoan nói rõ hồi ấy Ngô Tất Tố cũng chưa hề có ý thức tố cáo,  chẳng qua thấy Vũ Trọng Phụng viết truyện Vỡ đê thì ông nói ”Vũ Trọng Phụng viết thế nào được truyện nhà quê. Để tôi viết cho“.
     Ý Nguyễn Công Hoan muốn nhấn mạnh điểm xuất phát ban đầu tiểu thuyết của Ngô Tất Tố khá giản dị, tính chất tố cáo của sáng tác chỉ đến về sau (đây là điều không chỉ đúng với Ngô Tất Tố mà còn đúng với nhiều nhà văn cùng thời ).

    Cũng nên biết thêm là  trong một bài viết mang tên Mấy ý kiến về cuốn Văn học Việt Nam 1930 --1945 in trên Tạp chí Văn học 1962 (sau đổi là Cần hiểu đúng Ngô Tất Tố  in  vào tập sách Ngô Tất Tố với chúng ta, NXB Hội nhà văn 1993), Nguyễn Công Hoan từng  đả động tới một sự việc mà nhiều nhà văn học sử  thích nhắc lại coi như một niềm tự hào của ngòi bút nhà nho Ngô Tất Tố, ấy là việc quyển Tắt đèn bị cấm.
     Sau khi hạ một câu chắc chắn như đinh đóng cột “Sự thực, thì tôi không nghe ai nói điều này“, Nguyễn Công Hoan để công giảng giải khá kỹ về cách cấm sách thời trước, để khẳng định thêm chuyện này không xảy ra với đồng nghiệp của mình.

     Tinh thần này được Nguyễn Công Hoan tiếp tục trong hồi ký Đời viết văn của tôi.
    Không phải ngẫu nhiên mà khi trích đoạn Nguyễn Công Hoan viết về Vũ Trọng Phụng ở đây vào sách Nhà văn Vũ Trọng Phụng với chúng ta, một giáo sư đặt cho đoạn trích cái tên Chiêu tuyết cho người đã khuất
     Để hiểu điều này cần biết là trước 1975 ở Hà Nội Vũ Trọng Phụng được liệt vào loại nhà văn "có vấn đề" và nói như ở đây là một cách nói ngược, nếu không phải ở miệng Nguyễn Công Hoan chắc là không được in.
  
     Còn một nhân vật nữa lâu nay ít được nói cho minh bạch, ấy là Phạm Quỳnh. 
     Ngay từ đầu Nguyễn Công Hoan đã  nói rõ ai đã đứng tên trong việc tổ chức ra báo Nam Phong. Song sau 1934, Phạm Quỳnh không làm báo nữa mà đi nhận chân thượng thư --  một việc thường được người đương thời và hậu thế giải thích một cách như ta hay gọi là tiêu cực. Nguyễn Công Hoan không cần rào đón nhiều. Ông đưa ra cách hiểu riêng.
    Theo ông, Phạm Quỳnh là người yêu nước, cùng với những người lương thiện khác chịu chung cảnh ngộ người dân mất nước “ai không đau đớn ai không khóc thầm“, và việc người chủ bút Nam Phong  bỏ báo để đi làm quan chẳng phải do hám lợi  như người ta vẫn nói, mà chỉ muốn có một dịp thuận lợi nói rõ ý mình, thế thôi.
    Giá kể vào tay người khác thì khi viết những chuyện này hẳn là phải ra cái điều quan trọng lắm coi như mình dám đi ngược lại ý kiến của giới quyền uy và nhờ thế khôi phục lai bộ mặt của lich sử.  Và trước khi nói ra tiếng nói cuối cùng, hẳn tác giả hồi ký phải rào trước đón sau đủ chuyện. Nguyễn Công Hoan thì khác. Cách viết của ông ở chỗ này tự nhiên rành rẽ, dường như ông muốn nói sự thực rất đơn giản chẳng qua những người đa sự chỉ nói tầm phơ mà  chẳng có ích cho ai !  

Sự suồng sã cần thiết  
    Cái chết của nhiều nhà viết hồi ký là hay quan trọng hoá những hoàn cảnh những sự kiện mình đã từng sống. Nguyễn Công Hoan thì khác. Ông thích làm giảm tầm quan trọng của sự kiện đã nêu.
    Trong nhiều trường hợp, ông lưu ý một việc người đời sau coi là tày đình xảy ra chẳng qua chỉ có lý do rất ngẫu nhiên. 
     Đây cũng là một cách để phản ứng lại lối vào hùa hoặc thói cơ hội mà ông khinh bỉ.
  
      Như trên đã nói, mặc dù viết đều viết khỏe bậc nhất trong giới, song suốt trong thời tiền chiến, Nguyễn Công Hoan vẫn không bỏ nghề dạy học. Không bao giờ người ta thấy ông kêu than là phải làm gấp bản thảo để mang bán trong khi vợ đau con yếu kiểu như Vũ Trọng Phụng Nam Cao. Mà ông cũng không ham chơi đến mức luôn luôn cần tiền như Nguyễn Tuân hoặc Lưu Trọng Lư.
    Như vậy là đối với nghề văn,  ông không bị ràng buộc đến bị động. Luôn luôn ông đứng cách nó một khoảng cách. Điều này chẳng những mang lại cho nhà văn  một cuộc sống độc lập mà còn giúp ông thế đứng bên  ngoài vốn  rất cần thiết cho việc đưa ra một cái nhìn bao quát về nghề nghiệp.
    Chúng ta biết rằng suốt thời trung đại, văn học VN  không có hồi ký. Mà  ngay trong thế kỷ XX, cả các nhà chính trị nhà hoạt động xã hội lẫn các nhà văn các hoạ sĩ nhạc sĩ  và nói chung là những người lẽ ra nên viết hồi ký cũng không mấy ai tính chuyện động bút trong thể tài này. Tại sao như vậy ?
    Hình như ở đây có vấn đề của tư duy:  người Việt tuy luôn  luôn lưu luyến quá khứ song lại không  thích chuyện tính sổ quá khứ một cách rành mạch.
     Xu thế tâm lý nói chung là tốt đẹp phô ra xấu xa đậy lại.
    Lại có tình trạng nhiều người trong thâm tâm thừa biết rằng mình sống dở, sống chẳng ra sao,  song khi kể chuyện cũ  lại  tìm cách  tô điểm cho cái quá khứ ấy một vẻ dễ coi. Với  những bộ sử những tài liệu nghiên cứu có liên quan đến mình, họ thường  săn đón và tìm mọi cách chăm sóc sao cho khuôn mặt mình được tô vẽ cho dễ coi một chút. Còn hồi ký ghi đích danh tên mình ấy ư -- họ ngại!
    Thế Nguyễn Công Hoan thì sao?
   Những người thích đọc ông đều biết nhà văn này có một cách nghĩ riêng về đời và đã phát biểu cách hiểu đời này ngay trong một số truyện ngắn viết trước 1945.  
   Đoạn văn sau đây là một tuyên ngôn :
    Điều tôi lấy làm bực mình nhất  là thế nào chẳng có một độc giả đa nghi,xem xong câu chuyện này  bảo một bạn rằng
 --Hắn bịa.
 Tôi hãy cãi trước rằng :
--Thưa không bịa tí nào.
 Rồi không để ông độc giả ấy nói thêm, tôi phải tiếp luôn :
--Ngài cho là vô lý ? Ngài nên hiểu nghe chuyện gì mà ngài cứ lấy cái óc cổ điển  ra mà xét thì cũng cho là vô lý cả. Vì thế sự đã xoay thành ngược mà đời ngày nay  chẳng phải là một bà hiền mẫu thưởng phạt công minh.  Đời đã hoá ra  một con mụ chửa hoang  đẻ bậy sinh non ra toàn những hạng hoặc mất dạy hoặc đói cơm.
   Không. Ngài cho phép tôi nói nốt đã. Hạng đói cơm thì ngài thấy nhan nhản khắp mọi nơi. Thường họ gõ cửa nhà ngài xưng là  thất nghiệp. Họ bị ngài đuổi đi sau khi đã bố thí  cho một bài học về siêng năng không hợp thời. Còn hạng mất dạy cũng chẳng ít. Họ rất no đủ sang trọng,song,chuyên môn đeo mặt nạ để  lừa dối bóc lột lẫn nhau.
    Được cái, trong khi giữ một cách nhìn bi quan về xã hội, đồng thời  ông không biệt đãi bản thân, tính chuyện tô vẽ bản thân.  Trong hồi ký ông tự trình bày bản thân với đủ thứ thói tật. Nhìn quá rõ những mặt xấu trong con người, hoài nghi đối với nhân tâm thế đạo, rồi khinh thế ngạo vật rồi lười biếng ẩu không coi việc gì là quan trọng...   xưa nay thật khó có ai tự nói về mình như vậy.
      Và cũng vì thế nên trong Đời viết văn của tôi có những nhận xét về nghề cầm bút rất khắc nghiệt  đại loại :
-   Làng văn từ xưa đến giờ, quả là cái chợ
-   Một dạo người ta sợ những người cầm bút như …sợ hủi
-   Rất nhiều người viết chỉ láng tráng đến với nghề một chốc rồi chuồn thẳng đến mức phải gọi cái cách tồn tại của họ là nửa đời nửa đoạn.

    Trong những trường hợp có thể, Nguyễn Công Hoan đã  sòng phẳng.
       
Cách tồn tại riêng  trong nghề
 Một kiểu  người Việt
     Tìm hiểu về Nguyễn Công Hoan, người ta không khỏi nhận ra một sự éo le rõ rệt. Một mặt, đây là một trong những cây bút hàng đầu của nền văn học dân tộc trong  thế kỷ XX, một  đô vật lực lưỡng trong trường văn trận bút. Mặt khác, đó hình như  lại là  cây bút đặt rất ít sự nghiêm chỉnh vào sáng tác.
     Như ông đã  kể, có lần ông mang truyện của mình tặng cho người khác để người đó bán cho các báo lấy tiền.
     Lại như cái cảnh ông vừa chơi bài vừa viết truyện, hoặc viết tiểu thuyết đăng báo  mà không thuộc hết tên nhân vật, phải để trống rồi nhờ toà soạn điền hộ.
    Người đời vốn ranh mãnh. Có làm như vậy đi chăng nữa thì họ cũng giấu biệt đi không muốn cho ai biết. Trong khi đó, Nguyễn Công Hoan  lại bô bô kể hết cả ra trong sách.
     Qua những phát biểu trực tiếp cũng như qua cách làm việc của ông, thấy toát lên cái ý chẳng qua do lọc lõi thạo đời  thì viết cho mọi người cùng đọc chứ trong bụng chả  buồn để tâm gì đến nghĩa lý với lại vai trò rắc rối mà người ta thường gán cho nghề nghiệp này.
    Đại khái  ông không phải trăn trở nhiều khi ngồi trước trang giấy, thảng hoặc đôi lần có  để ý đến ý nghĩa xã hội của công việc ( như khi viết  Bước đường cùng ) thì cũng là làm vội làm vàng, chứ chưa phải đã dồn hết vào đấy tất cả tâm sức vốn có.
    Nguồn cảm hứng nào đã thúc đẩy Nguyễn Công Hoan kể chuyện mình theo kiểu như vậy ?
   Chúng tôi có cảm tưởng  điều đầu tiên ông muốn truyền đạt tới mọi người, ấy là viết văn phải có năng khiếu và sự thành công không thể do ý chí  hay day tay mắm miệng mà có  được.
    Vốn thích đề cao những gì gọi là tự nhiên ông chúa ghét những nhà văn nào quan trọng hoá nghề nghiệp của mình và lấy sự viết lách ra để lừa bịp.
     Sự dông dài tuỳ tiện mà ông hay nói, đúng hơn sự đùa bỡn  mà ông cố ý phô ra, là một cái gì quán xuyến trong ông, nó buộc người ta  sau đó  phải hiểu dần ra những điều đơn giản mà ông muốn nói:  việc viết văn cũng là một việc thường như mọi việc khác trên đời  hoặc  gán cho văn chương có lắm ý nghĩa đâu đâu  tức là chẳng hiểu gì về nó cả.  
    Ở chỗ này có thể nói cách làm của Nguyễn Công Hoan trùng khít với một xu thế của tư duy hiện đại ấy là nhìn đời sống ở một khoảng cách gần gũi, phi huyền thoại hoá nó, làm cho  mất đi cái vẻ thiêng liêng giả tạo mà con người trung đại thích dùng để tự tô vẽ.   
    Đây cũng là cái cách mà nhà văn lõi đời phản ứng lại trước thói ấu trĩ của thời đại cách mạng, khi mà người ta quá đề cao ý nghĩa mục đích của việc cầm bút để rồi hướng nó vào việc phục vụ chính trị một cách xoàng xĩnh.
    Đồng thời sự phi huyền thoại hoá này, tác giả còn đi gần tới một quan niệm khác cũng chỉ thấy ở con người hiện đại, ấy là nhấn mạnh tính chất trò chơi của cuộc đời, và cho rằng trong trò chơi, cả ý nghĩa nghiêm chỉnh lẫn cái vẻ hư vô của kiếp nhân sinh có dịp bộc lộ. Chơi để sống cho nhẹ nhàng và nếu có phải chết cũng là chết một cách thoải mái.
     Trong tiếng Việt chữ chơi hay gợi ra cái ý ham vui, gặp chăng hay chớ, chả cần để  tâm vào việc gì mà tha hồ làm  nhanh làm ẩu làm hàng giả bịp bợm. 
      Có thể nói  Nguyễn Công Hoan chơi với nghĩa khác. Chơi ở đây thuộc về một cái gì  nằm  trong cách nhìn đời trong ý thức của con người nó giúp cho một cây bút như tác giả Bước đường cùng thêm hào hứng trong sự sáng tạo, khi viết tìm thêm được những trò hóm nghịch lôi cuốn bạn đọc.
   Truy nguyên về tận nguồn gốc, có thể bảo cái sự nhởn nhơ ở Nguyễn Công Hoan còn thuộc về hồn cốt dân tộc mà ông thấm nhuần trong dòng máu mình.

    Rải rác trong các đoạn trên chúng ta đã nhắc qua một số đặc điểm làm nên cách nhìn đời sống của Nguyễn Công Hoan bộc lộ qua các truyện ngắn truyện dài đã in: 
     Thích sự tự nhiên và luôn luôn tự nhắc nhở mình là phải giữ bản sắc. 
      Không tin lắm ở sách vở mà thích đề cao một sự khôn ngoan trời cho. 
     Trong khi gắng gỏi học theo mọi người thì bề ngoài lại tỏ ra không coi cái gì là quan trọng và  xem thường mọi chuyện. 
     Lấy sự cười đùa làm vui tự nhiên, bài bác những sự quan trọng hoá giả tạo song lại sẵn sàng để tâm và tỏ ra rất thích thú với những sự sắp đặt tinh xảo v...v.... 
     Đến Đời viết văn của tôi  thì chúng ta lại gặp cái tinh thần đó trong chính con người tác giả. 
    Trong khi nhìn lại đời mình, nhà văn hiện ra như một cá tính cụ thể, mà trong đó đồng thời  thấy bao hàm những con người khác những cuộc đời khác. Xét theo nghĩa này, Đời viết văn của tôi là một bộ phận hợp thành không thể thiếu trong sự nghiệp của tác giả./.

1997.