14 thg 11, 2013

Hà Nội cuối 1973 - kỳ II


13/10
Gần mười tháng sau chiến tranh. Thời gian đang qua là những hoàng hôn của một ngày nóng nực đến điên cuồng. Tôi biết rằng có thể phải qua đêm đen nữa, rồi ngày hôm sau yên lành mới tới.

Những người sống sót sau chiến tranh là những người phải sống đến hai ba cuộc đời. Phải sống cho mình, và phải sống cho những người đã chết. Phải sống bù vào những gì người chết vì không có mặt nên không làm được. Và vì ta còn đây nên phải oằn lưng gánh vác, trong khi chính mình cũng yếu đuối, mà lòng đầy dục vọng. Chiến tranh đẩy lùi xã hội lại, trong khi những yêu cầu ghê gớm của con người thì vồng mãi lên.



15/10

Một thanh niên như bạn tôi, Trần Đức Kiểm, vừa đi bộ đội về. Tôi cảm thấy xa lạ với Kiểm, xa lạ ở hai điều này:
1/ Nó sống nhiều mặt hơn, lan man, dài rạc; tôi chỉ sống một hai mặt cho kỹ lưỡng.
2/ Nhưng nhìn chung, hoá ra nó lại là phía ảo tưởng của tôi. Tôi ráo riết, cuồng nhiệt trong khi đó nhiều thanh niên ít tuổi hơn tôi mà sống dềnh dàng quá. Họ lì ra, chậm trễ. Phải vì xã hội không hứa hẹn với họ một điều tốt đẹp nào?
Kiểm là hình ảnh của tôi ngày hôm qua, Kiểm là tất cả những gì văn học có thể mang lại cho những người thường (nền văn học này và những người thường này, cố nhiên!). Nhưng Kiểm cũng không thể giữ được cái đó, trong cuộc đời quá nhiều phiền tạp.
Nhàn: Về đây, ông thấy ai thông cảm với ông hơn cả.
Kiểm: Không có ai cả. Ông Niệm cũng nhạt. Tôi chỉ nhớ một lần tôi đi dự đám cưới, tự nhiên lại gặp một thằng bộ đội, hai đứa nói chuyện với nhau rất lâu.

20/10

Mùa đông đến sớm. Những buổi chiều Hà Nội âm u, mặt đất nhớp nháp vì mưa phùn, những nền đá hoa cũng nhớp nháp, một ít hơi dầu, những con ruồi mùa đông sinh ra kỳ quái mò mẫm đây đó. Cứ chìm đắm vào cái đám này xem, rồi người ta cũng không thể nào giẫy ra nổi, người ta cũng mù xám mà chết theo mất. Tôi nhớ những mùa đông ở nông thôn. Dẫu sao nó cũng còn những cánh đồng khoảng khoát. Dẫu sao nó còn sinh lực.

24/10

Hà Nội không thể đứng riêng rẽ. Những ngày vừa qua mưa ghê mưa gớm, chúng tôi không chỉ khổ vì đi lại, mà còn vì những nơi đang đói kém tràn tới. Trưa ra chỗ Hàng Lược, gặp bao nhiêu người gồng gánh lũ lượt. Tận Thanh Hoá ra. Theo tàu hoả tới ga Hàng Cỏ, rồi sang tàu điện lên đây, để ra bến xe Long Biên, ngược lên mạn Bắc Ninh Bắc Giang tìm cách kiếm ăn. Cái tiếng Thanh Hoá trộn không lẫn.
Duật kể ở Thanh Hoá, trẻ con cầm con gà giơ lên ngang đầu như dân Lào, miệng lắp bắp đổi gạo, đổi gạo. Một cậu khác kể, ngoài ga, thỉnh thoảng người ta tức cửa hàng cơm phở mậu dịch, bán cơm nắm, hai hào một nắm.
Có một cái gì như một thứ chia sẻ chung. Lại có một cái gì như Hà Nội bị xâm lấn, và điều đó là không thể khác.

2/11

Một kẻ mà mỗi buổi sáng lại xét lại bước đi của mình trong đời sống -- kẻ đó không phải là người biết sống, biết làm việc. Mà tôi đang là vậy.
Dẫu sao thì cuộc đời cũng vẫn phải đi thành vệt, vẫn phải có những nền nếp. Những nền nếp cần phải luôn luôn được kiểm tra lại, nhưng trước hết, anh phải cho nó thành những nền nếp, để biết mà tính.
Có một quy luật của tiền bạc, đối với người Việt Nam ở nước ngoài: càng xa nước, anh lại càng cảm thấy nước mình nghèo nước người ta giàu. Và anh lại càng tự cho phép nhặt nhạnh vơ vét, để làm lưng vốn khi quay về.
Nỗi sợ khi trở về nước, như một nỗi sợ phải xuống địa ngục. Do đó, mỗi đồng tiền anh cầm đều có thêm quyền lực đối với anh. Anh không đám động hệ tới nó.
Còn như là về công việc viết lách của bọn tôi. Không biết chừng càng đọc nước ngoài, anh càng cảm thấy xa lạ. Hoặc họ là văn học, hoặc mình là văn học. Họ thì đúng hơn.
Và càng làm việc, càng viết, anh càng cảm thấy là mình viết quá ít, càng hậm hụi viết thêm. Cái chuyện bất lực trong cuộc đời là một lẽ đương nhiên. Vấn đề không phải là anh vượt qua mọi sự bất lực đó. Vấn đề chỉ là cố vượt qua ở từng nơi, từng chỗ. Và có người vượt được nhiều, có người vượt được ít.

4/11

Một khía cạnh khốn khổ của Hà Nội. Nơi đây, sự năng động -- đặc tính tưởng chỉ có ở cái mới – thường khi nó lại rơi vào những người lạc hậu nhất.
Đi trên đường phố, hỏi ai nhếch nhác nhất, chắc phải kể những người đi xe bò. Nhưng về nhà, ai ăn sang nhất, lại có lẽ là những người xe bò. Ở nhà của mình, họ nghe nhạc, đón những đĩa hát mới nhất -- họ văn minh, lịch sự, theo như họ nghĩ.

Những ngày cuối năm 1973 này, Hà Nội vẫn là một sự chờ đợi. Mãi không thấy bắt đầu một cái gì mới. Mọi chuyện cứ dề dà, đến mức không chịu được.

Hà Nội là thành phố của rất nhiều con người cô đơn. Hà Nội là thành phố của những ý đồ hèn hạ, những cuộc mưu sinh rách nát. Và bây giờ Hà Nội là thành phố của cướp bóc, cướp giật ban ngày, dí dao vào mạng sườn, cướp xe đạp, cướp mũ cối của những người lính đi qua đường. Tại sao ư? Tại vì cả xã hội lâu nay chỉ khuyến khích người đi đánh nhau. Yêu nước, chiến đấu thì cũng là đánh nhau chứ còn là gì khác? Mà đánh nhau là đặc tính thường trực của người nghèo. Được xã hội thức tỉnh, sau thời gian lao ra hành động, đến lúc quay về nhìn vào mình, người ta nhận thấy mình vẫn nghèo quá. So với yêu cầu và hiểu biết thì nghèo khó lúc này là không được phép.

Mất mùa khoảng 50%. Nhiều tỉnh đói. Cuộc vật lộn sinh sống ở xã hội này đôi khi mang lại những màu sắc cổ điển nhất. Là vật lộn cho mỗi miếng ăn. Làm sao mà còn dám đòi hỏi cái nọ cái kia? Làm sao mà còn tính chuyện hưởng thụ.


Nhàn: Những người như tôi, có lẽ chỉ thích hợp với hoàn cảnh thời bình.

Lê Đường Phong: Thế bây giờ thời chiến hay thời bình?
Nhàn: Thời chiến chứ. Đúng hơn là thời loạn. Còn phải coi là thời loạn vài năm nữa, cho đến bao giờ xã hội bình ổn.
Đã rất nhiều lần, những người như tôi nghĩ đây là một thời đại suy vi. Đây là những ngày tàn của một thể chế không thể tự đổi mới. Tương lai nào sẽ đến với một xã hội già cỗi như thế này, ao tù nước đọng như thế này?

11/11

Rất nhiều tin cho biết có thể đánh nhau lại. Sao không đánh nhau được? Nó lấn, nó muốn hất mình đi.
Ng Khải:
-- Thời gian mà nó dò mình, là thời gian mới hoà bình. Nó chỉ sợ mình lật. Còn bây giờ, nó nắm vững những vùng nó kiểm soát. Lực lượng thứ ba anh nào thò ra, nó thịt ngay. Nên chỉ có cách im tho! Đến lúc nó không tha mình rồi. Lính mình lại ở trong rừng, tư tưởng sa sút. Cho nên nhất định là phải đánh thôi, đánh để lấy không khí mà sống.
Nhàn: Không một sự thất bại nào là có thể nửa vời.

Hầm hố Hà Nội lại có lệnh không được phá. Nhiều công trình xây dựng (nhiều?) lại phải tạm hoãn.

Đài địch đưa tin: quân số Bắc Việt ở trong kia đã vượt quá thời gian cuộc tiến công 1972.
Thế còn ngoài này?
Mọi người đều nói cái chính là công tác tổ chức, tức là cách quản lý. Xã hội hoá ra hỗn loạn, theo nghĩa không ai bảo được ai, không ai nói được ai, vô nguyên tắc, tuỳ tiện. Thế thì còn ra sao nữa?
Tôi nhớ tới những buổi tối. Những cái xe Volga, Moskovíts nối nhau trên đường Điện Biên Phủ, rồi kéo sang Hùng Vương theo ngả đường Thanh Niên lên Nghi Tàm Quảng Bá. Đoàn xe đen trùi trũi, vùn vụt lao tới, phóng ra những luồng ánh sáng bao phủ một vùng. Còn chung quanh, là bóng tối hung hãn, những chiếc xe đạp, những người đi bộ chìm trong bóng tối, họ có vụt sáng lên trong ánh đèn, thì lại vụt biến mất.
Ở đất nước này bây giờ chỉ có những lãnh tụ, và những người dân thường, hai bên như bóng tối và ánh sáng, cách nhau thăm thẳm nghìn trùng.
Và tôi nhớ tới những buổi các lãnh tụ từ Gia Lâm về, hoặc là họ đi nước ngoài hoặc là đón khách. Một chiếc xe Công an đi trước dọn dẹp. Rất nhiều mô tô phóng, để bảo vệ, mà cũng là để hù doạ. Không bao giờ có một sự tiếp xúc bình thường giữa những người cầm đầu nhà nước, và người dân thường. Tôi cứ nghĩ, không hiểu người ta có biết rằng chúng tôi không có lốp xe đạp mà đi, không có thuốc đánh răng -- hình như họ không thể biết được điều đó.
Một xã hội ngưng đọng, xô đẩy theo một thói quen vô nguyên tắc -- tôi chỉ còn nghĩ được có thế.

Một nghị quyết, như nghị quyết cán bộ, cuối cùng cũng phải tan tành khi húc đầu vào thực tế. Người ta giải thích nghị quyết đó đại khái là:

- Đổi mới trình độ chung, chứ không phải đổi mới cán bộ.
- Phấn đấu làm sao để cấp phó trẻ khoẻ hơn cấp trưởng; cấp dưới trẻ khoẻ hơn cấp trên.
Mọi người hiểu biết đều nói không làm sao có thể thay đổi được mọi chuyện, những sự thay đổi bé nhỏ bây giờ đều là vớ vẩn, cần có những sự thay đổi rất lớn.

Một người như tôi chẳng hạn, chưa bao giờ tôi thấy luôn phải giáp mặt với xã hội như lúc này. Bất cứ lúc nào, động vào một chuyện bé nhỏ gì đấy -- đi ra đường, chữa một cái xe, viết một bài báo -- cũng cảm thấy một không khí trì trệ, ngưng đọng bao quanh. Chẳng những cái việc mình đang làm đây vấp váp, mà mọi việc khác cũng vấp váp. Tôi đâm ra tự nhủ tình hình này không tiếp xúc với ai càng tốt. Giáp mặt với cái gì cũng buồn, gặp thêm bất cứ người lạ nào cũng buồn. Cả những việc vớ vẩn lặt vặt, việc gì cũng phải tự lo lấy. Không tìm được chỗ để tin cậy, bàn bạc. Thậm chí cả số phận của mình -- tất cả những cái đó, đều không thể gửi gấm vào tay những người khác.

Cuộc đời mỗi người thật ngắn, mỗi ngày qua đi, như là cái vệt số mệnh của mình lại phải cưa bớt đi một đoạn, vậy mà từng giây từng phút một thì thật dài. Thấy công việc phải làm nhiều quá, trongkhi tự mình chả làm được trò gì.

17/11

Nay là thời gian tách rời giữa trí tuệ và sự dũng cảm. Tôi biết đó là hai vũ khí mạnh nhất của con người. Vậy mà bây giờ ở nước tôi, cái trí tuệ lớn, tách rời cái dũng cảm lớn. Chỉ những người không trí tuệ, trí tuệ quanh quẩn, mới dũng cảm, được gọi là dũng cảm.
Chẳng lẽ ý nghĩa của đời sống, rút lại chỉ là ở chỗ nó cực khổ như vậy, mà mình cũng vượt nổi, mình cũng vẫn còn sống.

Nguyễn Khải mới nói mấy ý:

- Bây giờ mình đúng là kiểu một nước Nga sa hoàng. Nước Nga lúc ấy chỉ toàn những tướng tá, và hàng ngũ quan liêu, viên chức nhà nước. Ở ta bây giờ thì người nào cũng cán bộ. Cán bộ nhiều đến nỗi thành một mạng lưới đè trĩu người dân xuống. Thế mà tìm một ê kíp cán bộ dùng được thật rất khó. Nói chung là thiếu những người đáp ứng đúng nhu cầu của thực tiễn.
- Thế nhưng cái ông Đốt, một lần ông ấy nói ngược lại, thì cũng phải, mà nó cũng là một cách để châm biếm. Ông ấy bảo nói thế chứ người Nga rất giàu đầu óc thực tiễn. Bằng chứng là chúng ta, trong khi giải quyết các vấn đề của đời sống rất thiếu người có cá tính, và có những ý kiến riêng. Người có ý kiến riêng, có cá tính thì xin việc khó. Còn như thiếu hai cái đó, thì lắp ghép vào đâu cũng được. Xin được việc là hiểu thực tiễn. Không xin được việc là ngược lại.
--Thật là đáng sợ, đất nước của một sự tập trung chỉ huy. Khi nó mạnh, đúng, thì nó rất ghê, nhưng khi nó yếu, sai, thì nó phá tán kinh khủng không thể tưởng tượng được. Bây giờ nhìn vào đâu cũng thấy những kết luận giống nhau, mà kết luận lớn nhất thì có liên qua đến cả guồng máy.
Còn như những vấn đề chung, bây giờ đã ở vào cái mức độ mà có thể nói, là chúng ta phải căm giận, căm giận bởi không thể tưởng tượng nổi nó lại đổ đốn đến thế . Hồi trước, còn chế giễu, đùa bỡn, vì nó là ở trong phạm vi hẹp. Nay đã đi xa hơn nhiều.

22/11

Hôm qua Khải còn nói nhiều chuyện liên quan tới phẩm của ông và chuyện trong giới nói chung:
-- Cái này, tôi cũng nói riêng với ông. Là khi viết Chiến sĩ, thì mình cũng phải nghĩ rằng cái chuyện đánh nguỵ là chuyện vớ vẩn, mà cuộc chiến tranh này rồi sẽ không đi đến đâu. Cái còn lại may ra chỉ là kiếp luân lạc của con người. Và mình chỉ viết về cái ấy thôi.
Bây giờ, về cái món linh mục này , viết lúc này là phải lắm. Như ông vẫn nói đấy, chính mình là một thứ tôn giáo mới, cái mình lớn ấy, còn cái mình nhỏ, cái mình cá nhân, thì là một thứ linh mục, một thứ thầy cả còn gì. Cho nên, chọn viết lúc này là phải nhất.

Nhàn: Vấn đề ý thức bao giờ cũng là vấn đề quan trọng.

Khải: Không, cũng tuỳ từng lúc. Nhưng đúng là lúc này làm được.
... Nhưng mà kỳ này, tôi nghỉ cũng hơi lâu đấy. Năm 1973 này đúng là năm khủng hoảng của bản thân tôi, khủng hoảng về mọi mặt.

Lại nói chuyện Chế Lan Viên. Hôm nọ, lão ấy bảo tôi. Dẫu sao cũng phải lạc quan chứ! Nhưng như thế tức là lo rồi.Tôi mới lấy tôi ra nói, mà cũng là để chửi khéo lão ấy. Tôi mới bảo thế này. Như tôi với anh là cốt cán của nhà nước chứ gì? Thế nhưng mình không cẩn thận, lúc nào dân họ dần cho, thì cũng là dập mặt.


Tôi thấy tôi lắm lúc cũng lưu manh quá đi. Tôi nói ngược nói xuôi thế nào cũng được. Như vào xem một bộ phim ra, tôi chê. Quả thật phim chả ra gì. Nhưng chốc nữa, gặp ông Xuân Trường, tôi lại có thể bốc phét ngược lại. Được thế này đã là khá lắm. Thì anh tính phim Liên Xô nó làm một năm hàng trăm cuốn, sang đây toàn những cuốn chọn lọc, mà cũng có phải mình thích cả đâu. Việt Nam mình như thế này là khá lắm rồi... Suy cho cùng, trong cả hai trường hợp, tôi đều lưu manh cả.

Đời sống bây giờ, người nào cũng trở thành láo lếu như thế. Những gì phải trái không biết. Trên dưới quan hệ rất buồn cười. Như ông Thi đấy, lúc đánh cũng do trên (ông Hoàng Tùng đi đâu cũng bêu riếu -- Viết thế mà cũng đòi quần chúng hoan nghênh à?) mà bây giờ nâng lên cũng do trên (tạp chí Học tập vừa rồi lại viết bài bênh). Như thế thì thân phận mình biết ra sao, văn chương này ấy à, rồi lúc nào đó, mang mà vứt xó cả.

Chế Lan Viên, theo lời Khải kể, vừa có những phát hiện rất thú:

-- Lắm lúc mình ngồi mình thấy cũng lạ, rồi ý nghĩ của mình rơi vào quỹ đạo của Kafka cả. Như ngẫm xem cái cảnh Trung quốc bây giờ, nay người này lên, mai người khác lên, bắn nhau, giết nhau, biết ai là thủ phạm. Có phải đúng triết lý của Vụ án không? Còn như Hóa thân. Nhìn vào những gia đình có con em đi bộ đội chẳng hạn, hôm qua còn nguyên vẹn, hôm nay quay về què cụt ra một thằng khác, thế chẳng phải Hóa thân là gì? Hoặc như Lâu đài, cái xã hội nay cũng là lâu đài, chả biết ai là chủ.
Khi ông Hoàng Phủ Ngọc Tường ra Hà Nội, tôi và ông Bảo Định Giang ra sân bay đón, oai lắm, hôm sau ông Hà Huy Giáp mở tiệc khoản đãi cơ mà. Nhưng rồi dần dần, người ta quên cả. Bảo đi nước ngoài bao nhiêu lượt rồi, đoàn nào cũng trượt. Định đi Rumani thôi. Lại bảo đi theo đoàn nhà văn Á Phi. Gần đến ngày đi, có lệnh là hoãn. Hay là đi theo anh Thi sang Đức. Không, các anh ấy ở chiến trường ra, to lắm, để danh chính ngôn thuận đi đoàn miền Nam. Thế rồi bây giờ cũng chưa đi. Không biết chừng nay mai muốn về Quảng Trị cũng không có tiền ôtô mà về. Nhưng cẩn thận, giải thích thế nào, không về lại có tin “không được đi, chỉ vì chính trị”, thì là chết người ta, người ta không còn làm ăn gì được.
Nguyễn Khải tiếp tục:
-- Cái lão Chế ấy thông minh lắm. Nhưng mà sao lúc cần kiếm chác, vẫn cứ ăn nói linh tinh. Tôi phải bảo như chúng tôi, bây giờ bốn mươi tuổi đầu thỉnh thoảng mới nghĩ ra được ít điều lạ. Nghĩ xong thấy không hợp thời, nên đành để bụng. Tự nhủ nói ra hay không nói ra không quan trọng. Nhưng không nói cái đến trong đầu của mình thì thôi,chứ đừng nói ngược lại.
(còn tiếp)