10 thg 3, 2018

Người Việt với những nền nếp ăn ở cư trú cổ lỗ lạc hậu


Một số khía cạnh 
văn minh vật chất người Việt
trong cái nhìn của các nhà trí thức đầu thế kỷ XX

Đường xá  luộm thuộm nhếch nhác
       Nói riêng về một sự ở... Ngay trong kinh thành, con đường lục bộ cho đến đường các nha thự, chợ quán, tường hào, vườn hoa và các bến sông, chỗ nào cũng có uế khí, thậm chí có kẻ trước mặt công chúng mà đi tiểu đại. Các cầu dọc theo sông, không luận ngày đêm đàn ông đàn bà, cứ ra nơi ấy mà phóng uế, quen lấy làm thường... Ở phương Tây, phàm những người nào bỏ rác làm nhơ đường đều bị phạt cả vì việc ấy bất nhã mà có mối hại chung. Ta cũng là người như họ, lại không biết xấu hổ sao?
     Đến như gạch vỡ, ngói hư, cây nhành khô lá rụng, rác và tro than các nhà loại ra, người nước khác đều thu nhặt làm đồ vật hữu dụng. Mà người mình thì vứt ra cùng đường, ném xuống ao vũng, hoặc đổ ra ngoài hào quanh thành, chất đầy cả bến sông.
    Dinh thự các quan, tường vách xiêu đổ. Ngoài đường thì bùn lầy, vườn tược thì rác bẩn, trước sân thì cỏ mọc. Ngoài hào thì nơi lồi nơi hủng, các nhà trong thành hai bên đường gần nhà chỉ theo giới hạn mà quét dọn. Những đường bên vách tường đó, mùi hơi hôi thối, người đi qua phải che mũi đi mau. Như thế thì lòng tu ố (1) ở đâu? Sao gọi là nước biết giữ lễ nghĩa?

(1)   ghét điều xấu ở kẻ khác
Nguyễn Trường Tộ
 Về việc cải cách phong tục, 1871

Nhà cửa buông tuồng bừa bãi 
   Nhà nào ở ta cũng chỉ những gỗ ngổn ngang, trên không có thừa trần (1), dưới ít khi lát gạch, chung quanh tường kín bốn bề, ít cửa thông hơi thật không hợp cách vệ sinh.
   Trong nhà không mấy nhà phân biệt phòng nào là phòng ăn, phòng nào là phòng ngủ chỗ nào là chỗ làm việc, chỗ nào là chỗ ngồi chơi. Nhà nào cũng chỉ thấy bày la liệt những ghế những bàn những giường những phản, có khi ăn ở đấy ngủ ở đấy, làm việc ngồi chơi cũng ở đấy.
  Đường mỹ thuật làm cửa làm nhà của ta còn kém mà tính người lại cẩu thả nhiều, quý hồ thế nào cho dung thân được thì thôi chớ không quản gì đến hoa mỹ. Các nơi nhà quê nhiều nhà nào trổ nào chạm, chẳng qua chỉ cho nhện dễ chăng võng; kê lắm giường lắm phản chẳng qua chỉ để cho mối xông đất. Mái tụp hụp như chuồng ngựa, buồng kín mít như buồng tằm. Chẳng qua chỉ để cho chuột bọ rúc rích ra vào, gớm ghê bẩn thỉu như thế thì sao cho sạch sẽ được!

(1) tức cái trần nhà. Chữ trần đây vốn nghĩa là bụi, thừa trần là chịu bụi, ngăn bụi.

 Phan Kế Bính
 Việt Nam phong tục, 1915
Loanh quanh  chỉ những ăn uống
  Tục ta trọng việc sự thần (1)  lại trọng việc ăn uống, động một tí thì nào bò bào lợn, nào xôi nào thịt,  nay tế bái thì mai lại giỗ hậu (2), nay việc công thì mai lại việc tư, quanh năm chỉ những ăn uống. Nhân việc ăn uống mới lại sinh ra nào khao nào vọng, nào lình nào lão, hết thứ tiền này đến thứ tiền khác, kể một đời người biết bao nhiêu sự đóng góp với làng. Mà có ra gì đâu, chỉ đến đóng vai theo chân  ra ngồi chiếu trên chiếu dưới, phần nhiều phần ít là cùng. Ai lên đến hàng chức sắc, hàng tiên chỉ vắt vẻo ngồi trên, một mình một chiếu, là vinh hạnh tuyệt phẩm rồi. Mục đích chỉ trọng về nắm xôi miếng thịt và lấy hãnh diện với đàn con em mà thôi, chứ không có ý tứ cao kỳ gì hết.

(1) thờ thần 
(2)  giỗ hậu : các đám giỗ dành cho  người chết  mà không có con cái nhưng lúc sống có ruộng đất cúng cho chùa. 
                                                                                                                  
Phan Kế Bính
 Việt nam phong tục 1915
Đẹp mà  rỗng tuếch, cái sặc sỡ làm tôn lên cái nhạt nhẽo
     Trong sự bày biện của chúng ta thiếu hẳn sự hợp lý. Sự thiếu hợp lý này có đôi khi mang lại tính chất muôn màu muôn vẻ mà ở những nước hiện đại không thể có -- họ mắc chứng rập khuôn hàng loạt.
   Thế nhưng rút lại thì ở ta cái ấn tượng chung vẫn là một bức toàn cảnh tầm thường. Con người trì trệ, quần áo đồ đạc cũ kỹ và đáng sợ hơn cả là người ta luôn luôn gặp những khung cảnh đẹp mà bên trong rỗng tuếch, những trang trí sặc sỡ tham gia vào một vở kịch nhạt nhẽo, cái nọ triệt tiêu cái kia, do đó mà chỉ có những vai phụ ra múa may để làm ra vẻ đang đóng những vai chính.

 Nguyễn Văn Vĩnh
                                        Đời sống và khung cảnh An Nam, L.Annam nouveau, 1934