7 thg 3, 2017

Phan Tây Hồ tự bộc lộ qua những đoạn miêu tả về Sào Nam Phan Bội Châu.

     Đầu Pháp chính phủ thư  tức Thư gửi toàn quyền Beau, Đông Dương chính trị luận, Thư thất điều …Lâu nay, nói tới Phan Châu Trinh, người ta thường chỉ được biết các luận văn ấy.
           Song, có một tài liệu theo tôi đáng gọi là chìa khóa để đi vào hiện tượng Phan Châu Trinh, đó là bài viết Pháp Việt liên hiệp hậu chi Tân Việt Nam (tạm dịch Nước Việt Nam mới sẽ  như thế nào sau  khi Pháp -- Việt liên hiệp, dưới đây tôi gọi tắt là Liên hiệp hậu)
          Tôi lần đầu được đọc bài này là từ tập sách Phan Châu Trinh tuyển tập của Nguyễn Văn Dương, lần thứ nhất in ra ở NXB Đà Nẵng 1995; sau bài được Vĩnh Sính giới thiệu kỹ hơn trong một bài in trong  cuốn sách Từ Đông sang Tây  H.2005 và trên mạng Diễn đàn 2007 .
           Theo các nhà nghiên cứu trên,  Liên hiệp hậu là một bản thảo được khởi thảo vào khoảng 1910. Nội dung tác phẩm hết sức phong phú, như có đoạn nói về lịch sử giao thiệp VN với Trung Quốc, lịch sử giao thiệp giữa nước Nam với nước Pháp;  nhưng nhiều phần -- mà là những phần chính  có liên quan tới nội dung chính nêu trong  tiêu đề -- chưa hoàn thành.        
          Ngay ở dạng như hiện nay thì  Liên hiệp hậu vẫn đáng được coi như một chìa khóa để hiểu chính cương đường lối hoạt động  của tác giả. 
         Ngoài ra cũng có những phần  được viết đọc rất thú vị là phần ông nói về mình, trong sự phân biệt với Phan  Bội Châu .
      
        Khi miêu tả các nhà hoạt động xã hội -- các nhà cách mạng được nhiều người biết tiếng, các tài liệu ở ta thường chỉ đi vào khuynh hướng chính trị của người ấy. Phần cá tính bị lảng tránh.
        Khi nói cá tính thực ra chúng tôi muốn nói tới một cái gì tổng hợp cả  sự xuất thân, quê hương gia đình, cho tới học vấn cách biểu lộ tình cảm, cách hiểu về ý nghĩa đời sống quan niệm về hành động về hạnh phúc của một con người.
       Miễn là biết cách phân tích, người ta sẽ thấy cái phần gọi là cá tính này thực ra  mang rất nhiều yếu tố xã hội.
        Và đó là quan niệm chi phối cụ Tây Hồ khi viết về Phan Bội Châu .
       Phan Châu Trinh viết  Liên hiệp hậu sau khi ở tù ra. Ở tù sau mấy cuộc binh biến và dân biến thất bại. Ông lấy bản thân và các đồng chí ra để phân tích. Với ông, cắt nghĩa các biến động đó, cũng là một cách xác định lại đường hướng tư tưởng của mình. Người đọc cảm thấy tác giả có một sự thôi thúc muốn “gọi sự vật bằng cái tên của nó” tức  phải viết ra bằng được điều mình đã tâm niệm, để trình với lịch sử.



MỘT ĐIỂN HÌNH CỦA NGƯỜI CÁCH MẠNG  ĐẦU THẾ KỶ XX
 
        Sự sáng suốt và chừng mực của Phan Châu Trinh là ở chỗ bao giờ viết về Phan  Bội Châu ông cũng  theo lối đề cao chỗ mạnh chỗ khả thủ,  để rồi liền sau đó mới đi vào đào cùng tát cạn nói bằng hết  những nhược điểm nó là chỗ không thể chấp nhận được của đối tượng.
       “ Phan Bội Châu là người  rất có chí khí có nghị lực, nhẫn nhục dám làm; có điều tin vào thì không chịu bỏ, dẫu có sấm sét cũng không đổi. Nay sĩ phu khắp nước chưa ai có thể ví với ông ấy. Tiếc thay học thuật không rành, thời thế không rõ, thích dùng quyền thuật (ý nói mánh lới mưu mẹo -- VTN chú), tự dối mình dối người, ngoan cố không đổi. Lớn lời không ai bì, hãm quốc dân vào đất chết  cam chịu tiếng ác mà không tự biết (Nguyễn Văn Dương  Phan Châu Trinh tuyển tập,  sách đã dẫn ở trên, tr 530)   

  Ở một đọan dưới
      “Ông ấy  là người khẳng khái dám làm, không kể thân mình, sức tự tin rất sâu, hễ cho là phải thì sống chết không đổi …Nhưng ông ấy cậy sức làm bậy, sẵn lòng giết người cố chấp theo ý mình, xem người đều không bằng ta (tlđd,  tr 542).

       Có mấy điều Phan Châu Trinh hẳn đã tự lưu ý khi viết những đoạn này.
       Thứ nhất  luôn luôn nhấn mạnh rằng ông rất thân, rất quyến luyến Phan Bội Châu. 
       Thứ hai theo Phan Châu Trinh, những đức tính trên, cả hay lẫn dở, cũng như mọi đức tính khác của Phan  Bội Châu, đều là tiêu biểu cho dân VN.
        Đã có một sự giải phóng về tư tưởng. Tác giả vượt lên những thói thường của những người cùng hoạt động giữ ý với nhau, cốt “dĩ hòa vi quý“ xuê xoa che giấu cho nhau.
        Chẳng những thế, ông còn biết mang lại cho nhận thức của mình một ý nghĩa có liên quan tới cả xã hội. Khi đã hiểu “có nói gì về Phan  Bội Châu cũng là vì cái chung”, ông càng tự tin trên đường tìm tới bản chất của hiện tượng.  
      Ông gọi Phan  Bội Châu là ngông cuồng.
     Ông nói thẳng Phan  Bội Châu không hiểu gì về thời thế, “không có phương châm gì“, hành động thì “chạy bậy ra nước ngoài”, phát ngôn thì “bậy bạ” ( tr 514 )
     Ông đưa ra một sự thực  --  Phan  Bội Châu đọc sách rất ít,  nhất là những sách mới.  Khi miêu tả rằng có nhiều việc Phan Bội Châu biết rằng thất bại vẫn làm, ông  phanh phui động cơ hành động của Phan  Bội Châu  là “lợi dụng chỗ kém của quốc dân để làm rõ cái hay của mình”
     Phi Phan Châu Trinh thì không ai dám nói rằng trong việc xúi người khác xông lên, đẩy người khác vào nơi chết chóc, Phan  Bội Châu thật không ngờ rằng khách quan mà xét mình đã hiện ra như một người tàn ác “đến giết hết cả giống nòi mà  chưa thôi” (tr 532).


SỰ KHÁC BIỆT ĐẾN MỨC ĐỐI LẬP 
     Nghiên cứu lịch sử VN thế kỷ XX  cũng như cả các thế kỷ trước, người ta dễ nhận thấy một sự thực. Người Việt  ta thích làm hơn thích nghĩ;  xã hội ta được thúc đẩy không phải bởi các nhà tư tưởng mà bởi các nhà hành động. Dù có thất bại -- Phan  Bội Châu là một ví dụ -- thì họ cũng vẫn được ca tụng.
    Nhiểu phần trong cái gọi là cá tính của Phan  Bội Châu m,à Phan Châu Trinh nói ở trên cũng rất phổ biến ở các thế hệ cách mạng thời đại tiếp sau.
    Theo nghĩa này, người đọc ngày hôm nay dù chưa có dịp hiểu sâu hiểu  kỹ về các đối tượng Phan Châu Trinh đề cập, song cũng dễ có điều kiện để kiểm tra lại sự chính xác trong những khái quát của ông.
      Vấn đề tiếp theo là dùng những gợi ý mà Phan Châu Trinh đã nêu để đi vào phân tích đường lối hoạt động của các nhà cách mạng trong quá khứ.
     Việc này chính Phan Châu Trinh đã thử làm. Ông từng so sánh mình và nhân vật song đôi của mình – mà ông gọi là hai người  thuộc hai đảng -- , ở từng việc một.
   
 “Bội Châu  không xét thời thế, không kể lợi hại mà chủ trương bài Pháp thì thủ đoạn không thể không do bạo động mà ra.

 Bạo động ắt thất bại và ắt chết. Dân biết cái thế ắt thất bại ắt chết  thì ắt không theo.  Cho nên [phải tính chuyện --  VTN thêm cho lọn nghĩa] lợi dụng cái ngu của dân,  lợi dụng dân không có  đường sống [ mà rủ rê lôi kéo họ].

Đã lợi dụng dân ngu không có đường sống, cho nên không nói khai trí trị sinh; cho nên hội học hội diễn thuyết  hội buôn không cần lập, sợ rằng dân khôn, dân không có đường sống  thì ắt không nghe lời ông ấy.

Đã chủ trương bạo động thì cái thế lợi dụng phải mờ ám, cho nên sự vận động của đảng ấy đều là làm giấu, là rủ rê các kẻ ngu trong dân để lấy tiền mà người và việc đều không xuất hiện cho nên xét nó khó.
 Vả lại đảng ấy đã lợi dụng cái ngu của dân  mà thủ đoạn lợi dụng mờ ám cho nên kẻ theo phần  nhiều đều là bọn du đãng, thấy lợi quên chết. Còn trung lưu trong xã hội thì không có [ có lẽ là không quá – VTN chú]  một vài người, mà đều là người ngoan cố, vô học, mờ ám vì thời cuộc, không đáng đếm xỉa đến.  

 Còn về phần mình
    
  Tôi đã chủ trương cậy Pháp, thì thủ đoạn không thể không do tự trị mà ra.. Tự trị cũng chẳng là việc dễ lắm đâu, việc hỏng ắt cũng chết. Nếu không phải là kẻ chí sĩ yêu nước không kể sống chết lại hiểu rõ thời thế  thì không dám làm theo.
 Cho nên lợi cho trí dân, lợi cho dân có đường sống.
 Đã lợi trí, lợi có đường sống, - cho nên không thể không nói khai trí trị sinh; cho nên cái thế là không thể không lập nhiều hội học, hội diễn thuyết, hội buôn.
 Bởi vì trông dân có trí, dân có đường sống, sau đó tôi có nói ra, họ mới nghe theo. Cho nên cái chủ nghĩa kia đã chủ trương tự trị thì thế lợi dụng phải rõ ràng, cho nên sự vận động của đảng tôi toàn là tụ tập dân chúng, đường đường chính chính  diễn thuyết, họp chí sĩ,  khảo cứu chính trị thời thế, ăn to nói lớn, người và việc ai nấy đều thấy, cho nên xét nó rất dễ. Chủ nghĩa của tôi đã lợi dụng dân trí, thủ đoạn lợi dụng rõ ràng cho nên những kẻ nghe theo  đều là  người đọc sách biết lẽ, vì nước quên mình “ ( tlđd, tr. 544-545)
     
  Một bên thì duy ý chí, cốt làm lấy được điều muốn làm, “lấy cứu cánh biện minh cho phương tiện”, đi tới nhiều chỗ mờ ám, và chỉ khai thác được cái phần kém cỏi trong cộng đồng cũng như trong mỗi người. 
Bên kia thì đàng hoàng minh bạch, hướng về trí tuệ về ánh sáng, đặt ra yêu cầu cao với những người dân .

Trong con mắt của các sử gia Hà Nội mà tôi được học, Phan Bội Châu lâu nay được đặc biệt ca ngợi, còn Phan Châu Trinh thì bị phê phán rất nhiều. 
Phê là cải lương, là ngây thơ quá tin tưởng ở  thực dân  Pháp. 
Từ ngòi bút của  những  sử gia có nghiên cứu hơn một chút, thì di sản của Phan Châu Trinh không dùng được vì cải lương thỏa hiệp, đặt nặng việc nâng cao dân trí…ngược với chủ trương của cách mạng về sau là thiên về bạo lực.
 Nay tôi mới hiểu thêm cái chính là các nhà cách mạng về sau, rất gần với con người Phan Bội Châu mà trên đây Phan Châu Trinh đã miêu tả. 
  Còn Phan Châu Trinh thì hoàn toàn là một típ người khác. Nhưng để trình bày được toàn diện  chỗ khác của Phan, còn phải nghiên cứu nhiều.


MỘT KHÍA CẠNH CỰC ĐOAN

Trong đoạn văn miêu tả Phan Bội Châu của Phan Châu Trinh nói trên, có một khía cạnh cần dừng lại thêm.
 Đó là phát hiện của cụ Tây Hồ về cái cách của cụ Sào Nam “lợi dụng chỗ kém của quốc dân để làm rõ cái hay của mình”, cụ thể là  xúi người khác xông lên, đẩy người khác vào nơi chết chóc. 
 Theo cách nhìn của cụ Tây Hồ,  thì cụ Sào Nam đúng là một người tàn ác dám nhân danh mục đích cao cả làm những việc hao người tốn của tai hại tới mức “đến giết hết cả giống nòi mà chưa thôi”.
 Nói theo ngôn ngữ  của nửa cuối thế kỷ XX, Cụ Tây Hồ sớm nhìn thấy ở cụ Sào Nam -- nhân vật mà hậu thế vẫn xem như  là cặp bài trùng của mình -- là tài sách động của các nhà cách mạng khi đi vào thực tế để vận động quần chúng. 
 Đương thời, Phan Bội Châu nổi tiếng với khả năng dùng tình cảm để lôi cuốn người khác hoạt động theo sự chỉ dẫn của mình.
 Khi họ chết, ông  chân thành viết ra những bài ca tụng công lao của họ rồi  không chịu thất bại  lại lao vào những cuộc vận động lôi cuốn người khác.
Chính ý chí của ông đã làm nên lịch sử. Nhưng đó là chỗ khác của Sào Nam với Tây Hồ. 
 Không phải tới thời hiện đại, người ta mới đặt vấn đề này.
 Trong Luận ngữ ở chương XIII (mang tên Tử Lộ)  có đoạn 30,
“Tử viết : Dĩ bất giáo dân chiến, thị vị khí chi.”
 Nguyễn Hiến Lê đã dịch là  Khổng tử bảo: Đưa dân không được dạy dỗ ra đánh giặc tức là bỏ dân (Luận ngữ bản của nhà Văn học, 1995, tr 227).
Sau này ở Huế, Phan Bội Châu sẽ viết Khổng học đăng, một cuốn sách mà chính Nguyễn Hiến Lê -- người đã đọc qua rất nhiều sách vở  phương Tây viết về Khổng tử --- ca ngợi
Nhưng ở điểm này giữa hai nhà cách mạng đầu thế kỷ XX, biết bảo ai là thấm nhuần Luận ngữ hơn ai?