27 thg 5, 2016

Nhà văn và việc tổng kết cuộc đời - trường hợp Nguyễn Khải

        

Hiện thị trường sách đang chứng kiến sự xuất hiện hàng loạt hồi ký hay tự truyện của các nhân vật trong các ngành nghệ thuật.
Xin giới thiệu lại với  bạn đọc blog hai viết của tôi xoay quanh chủ đề nhà văn và thể hồi ký, một liên quan tới Nguyễn Khải và một Tô Hoài. Cả hai đều đã được đưa vào tập Phê bình &tiểu luận – một thứ tuyển tập của tôi làm năm 2009


 TỔNG KẾT CUỘC ĐỜI 
 THEO CẢM QUAN CỦA MỘT  THỜI LÃNG MẠN      
                                Một vài nhận xét về  tiểu thuyết
                                      Thượng đế thì cười  của Nguyễn Khải 
     
tuổi bảy mươi, một người cha trong một gia đình xưa nay vốn êm ấm, tự nhiên có  bà vợ ngày ngày day dứt trì chiết ông, nghi ngờ rằng ông  không thương yêu gì bà, không hiểu hết công lao hàn gắn của vợ con, lại  có lúc còn lơ mơ  nhìn theo những bóng dáng qua lại ngoài đường. Cái đau ở chỗ ông già nói ở đây vốn là một người đứng đắn, mẫu mực trong việc chăm sóc cửa nhà. Ông cảm thấy mình “không xứng”  với cái bi kịch mà mình đã rơi tõm vào đó. Con người  suy nghĩ nơi ông – nhân vật vốn là một nhà văn --  nhân cơ hội này nhớ lại những bước đường vẻ vang  của một  cuộc đời liên tục phấn đấu và đã có nhiều  thành đạt. Từ thuở còn trẻ, ông đã  từng lập bao kỳ tích trong nghề, và do đó được cả thiên hạ bái phục. Ngoài tài năng bẩm sinh, ông còn có một cách sống khôn ngoan. Nói chung ông biết bỏ cái nhỏ lo cái lớn. Ông không màng danh lợi. Giữa lúc mọi người đua chen, ông chỉ lo viết. Tuy trong bụng  thừa hiểu mình tài lớn thế nào, song luôn luôn ông tỏ ra khiêm tốn bằng cách nhắc đi nhắc lại  rằng mình viết được là do hoàn cảnh quá thuận lợi. Ông sẵn sàng lắng nghe và chấp nhận sự phê phán, để rồi tiếp tục viết như đã viết. Ông lại biết lấy lòng cả những người  kém tài hơn mình. Tóm lại có hàng trăm câu chuyện đủ sức chứng minh ông thường xuyên đi guốc vào bụng thiên hạ và có cách sống hợp thời. Như thế mà sự rắc rối lại đổ lên đầu ông là nghĩa thế nào, thật cuộc đời này phi lý quá, ông chỉ còn có cách phì cười, bái phục đấng tạo hoá  đa đoan đã chọn đúng ông để hành hạ !    

Những dấu ấn thời đại
    Dù được gọi là tiểu thuyết hay là gì gì nữa, thực chất  của Thượng đế thì cười  vẫn là  cuốn sách trong đó một con người mang quá khứ của mình ra để kể với bạn đọc. Câu chuyện ở đây liên quan tới sự hình thành và bám trụ của một người cầm bút: nguyên cớ đưa con người này đến nghề văn; những tín điều nghề nghiệp mà hắn -- đại từ mà Nguyễn Khải  đã dùng – tuân theo; những mối quan hệ ( quan hệ với cấp trên, với dư luận, với đồng nghiệp) hắn phải đối mặt. Và tất cả  hiện ra với cái vẻ riêng chỉ thời bây giờ mới có. Ngược với những kẻ vừa làm vừa xấu hổ, nhân vật ở Thượng đế thì cười  công khai nói rằng sáng tác văn chương là một phần của công tác tuyên huấn, đến với nghề văn là để phục vụ, người thành công là người mang cả tâm huyết vào công việc. Theo tác giả, sự tự đồng nhất với những ý niệm lớn lao là  “khuynh hướng cách mạng bẩm sinh của các nghệ sĩ “. Bao giờ họ  cũng là những  chiến binh tình nguyện  của cuộc đấu tranh cho quyền tự do dân chủ của con người. Ở chỗ này phải nhận ngòi bút tác giả có một sự  minh bạch, rành rẽ  hiếm thấy. Với Nguyễn Khải, chúng ta có một kiểu định nghĩa về người viết văn thời nay, và đọc Thượng đế thì cười  mới hiểu làm nhà văn là khó đến mức nào, mỗi người tồn tại được đến ngày hôm nay thật đã đáng để khâm phục.    

Cần thiết cho ai ?
      Khi nhớ  lại những cuốn tiểu thuyết viết về lớp người cầm bút trong văn học Việt Nam trước 1945,  người ta có thể kể ra mấy cuốn tiểu thuyết như Trên đường sự nghiệp của Nguyễn Công Hoan, Mực mài nước mắt của Lan Khai, Bốc đồng của Đỗ Đức Thu …   Từ sau 1945, tác phẩm viết về chính người viết hơi hiếm, thay vào đó lại có những hồi ký: Bốn mươi năm nói láo (Vũ Bằng ), Đời viết văn của tôi (Nguyễn Công Hoan), Cát bụi chân ai (Tô Hoài )… Trong hoàn cảnh ấy,  Thượng đế thì cười  của Nguyễn  Khải là một thể nghiệm mới, có liên quan tới lớp nhà văn chỉ bắt đầu viết từ sau 1945. Như trên vừa nói, giá trị dễ nhận ra  nhất của cuốn sách  là ở cái phần  tài liệu. Nó có khả năng  giúp cho thày trò trong các nhà trường hiểu rõ nhiều  tác phẩm của Nguyễn Khải  lâu nay vẫn  được mang ra giảng dạy. Có điều, văn đàn không phải là một thứ bục giảng ở trường phổ thông, và so với một ít lời tâm sự thông thường thì những nhu cầu mà người ta muốn biết về một nhà văn trong một tác phẩm gọi là tổng kết đời mình  -- nếu trước mắt ta là một nhà văn thực thụ, nhà văn theo nghĩa cao đẹp nhất của hai chữ này  -- cao hơn, phức tạp hơn nhiều. Trong cái việc đưa bạn đọc cùng suy nghĩ lại về những bước đi của quá khứ, mỗi người viết tự truyện có dịp bộc lộ toàn bộ cái bản lĩnh trong suốt cuộc đời người ấy đã thu góp được. Nếu không có được sự thăng hoa, thì ở đây họ cũng phải có những cố gắng vượt bậc. Những tài liệu nghiên cứu về lịch sử thể loại cho chúng ta biết rằng thể tài này đã có từ văn học cổ đại phương Tây, và ngay trong thời trung cổ nó vẫn tiếp tục tồn tại, nhiều thày tu về cuối đời đã tìm ra cách để ghi chép  bước đường phấn đấu của cá nhân họ  trên con đường đến với chúa. Bước sang thời hiện đại,  hồi ký tự truyện lại càng phát triển. Từ chỗ  tìm cách tự đồng nhất với các loại thần thánh và xem đó là con đường duy nhất  khiến mình trở thành chính mình, nhân vật của các hồi ký giờ đây phải đứng vững ở vị trí của một con người, tức đối mặt với chính giá trị bản thân sẵn có. Nhu cầu tự nhận thức được đưa lên hàng đầu, mà trong việc này, tư duy phê phán sẽ đóng vai trò một công cụ hiệu nghiệm. Song cái sự tự phê phán cũng mang lại cho nhân vật của các cuốn tự truyện thời nay nhiều sự phiền hà. Họ thường xuyên rơi vào tình trạng bất hoà với mình. Họ biết rằng ở mình có cả những cái rất cao cả lẫn những cái trần tục. Họ hoang mang, họ lúng túng. Thậm chí yêu cầu tưởng là tối thiểu – sự tự nhận thức – không thực hiện được, chính mình là ai họ cũng không biết. Câu hỏi nọ tiếp theo câu hỏi kia. Sự không thoả mãn là một nét đặc trưng  làm nên vẻ đẹp của  những con người sáng suốt. Một người nổi tiếng là khôn, là giỏi thích nghi, thậm chí là quay quắt như nhà văn Nga I. Ehrenburg, nhiều lần trong tập hồi ký  Con người năm tháng cuộc đời,  bảo rằng mình là một người bề ngoài u ám nhưng thực ra lại nông nổi nhẹ dạ. Và trong khi kể lại nhiều sự kiện bản thân từng chứng kiến, ông nói thẳng rằng chính ra ông cũng không biết thực chất con người ấy, sự việc ấy là như thế nào. Một nhân vật lúc trẻ cũng đầy tự hào như L. Aragon về già cay đắng khái quát về những bát lực của mình. Đại ý ông bảo cuộc đời tôi  giống như một trò chơi đáng sợ mà tôi hoàn toàn thua cuộc. Tôi đã bẻ gãy đã làm hỏng cuộc đời của mình tới cái mức giờ đây hết bề cứu vãn. Bản thân Elsa Triolet vợ  Aragon cũng thú nhận theo hướng tương tự. Bà tự trách mình, tôi thích đeo đồ nữ trang, chồng tôi cũng là một thứ đồ nữ trang, --  tôi là một con mẹ trần tục, một madame tầm thường,vớ vẩn. Những lời thú nhận như thế không hạ giá nhân vật mà chỉ làm cho  người đọc thêm gần với họ và tìm đọc họ. Khi người viết đặt ra mục đích viết tự truyện để khai phá lại, nhận thức lại đường đời của mình thì cũng là lúc một cuộc phiêu lưu thực sự mở ra với cả người đọc.
    Đọc Thượng đế thì cười  mà đối chiếu với những yêu cầu này thì thấy tác giả đi theo một hướng khác hẳn: Nhân vật chính thấy có nhu cầu tuyên bố về mình, vĩnh viễn hoá mình, nhưng lại e làm thế sẽ mang tiếng là kiêu căng, nên ngả sang vòng vo kể lể tâm sự. Chiếm vai trò trung tâm trong câu chuyện là các ca, các trường hợp có liên quan đến  sự kiên cường của nhân vật và sự liên tục của hắn ( xin nhắc lại: chữ dùng trong nguyên bản) trong việc theo đuổi niềm tin. Đằng sau những chiến công cụ thể  là ý thức rõ ràng của nhân vật về ưu thế của bản thân, cái ưu thế khiến nhân vật  không thấy có gì phải vươn lên mà chỉ cố cúi thấp xuống cho vừa với hoàn cảnh. Câu chuyện không được  tác giả  bố trí thành lớp lang rõ rệt theo một quá trình phát triển cụ thể, mà các chương chỉ nối đuôi nhau để dần dà đi sâu vào những khía cạnh khác nhau trong quan niệm sống và phép xử thế của nhân vật. Tức là về mặt bố cục, truyện có tính chất trích mảng. Thời gian kéo dài theo một cái mạch đều đều, không có những điểm dừng những bước ngoặt rõ rệt. Không rõ tác giả có cố ý nghĩ thế không, song qua cách trình bày như hiện nay, cứ thấy  toát ra một điều: ông muốn nói cuộc đời  mình không có chuyển biến đáng kể, không có cao trào, lại càng không có những bước nhầm bước hụt nên không có gì phải hối tiếc. Nhìn lại nó, trong lòng ông không thấy dội lên những câu hỏi và dù khách quan đến đâu, ông cũng không thể tìm ra điều gì gọi là đáng trách. Sự ân hận không có trong kho từ ngữ của nhà văn này. Công thành danh toại, ông thấy không cần phải che giấu mà còn muốn nói to lên rằng bản thân rất hài lòng rất mãn nguyện với quá khứ. Bề nào mà xét cũng thật khó lòng nói nhân vật tự truyện ở đây có cách nghĩ hiện đại, và từ chỗ đứng của đời sống hiện đại mà tâm sự trò chuyện với bạn đọc.

  Đánh giá chất lượng tác phẩm như một tiểu thuyết
    Đến đây xin tạm rẽ ngang, để  đặt ra một  câu hỏi: thế  nếu xét Thượng đế thì cười  trên  phương diện tiểu thuyết thì tình hình  sẽ ra sao ? Xung đột tập I, lần in thứ nhất 1959, có một đoạn tự bạch, xin trích mấy ý : “Tôi về thôn X. một thôn công giáo toàn tòng ở miền hạ huyện Nghĩa Hưng Nam Định  vào cuối năm 1956. (…) Lúc đầu tôi chỉ có ý định viết một tập ghi chép. Nhưng trong khi  ghi chép các nhân vật và thể hiện lên với nhiều vẻ  phức tạp của nó, thì tôi gặp một khó khăn lớn là bản thân tôi cũng không lường được (V.T.N nhấn mạnh) rồi đây những vấn đề đó sẽ giải quyết như thế nào, số phận  các nhân vật đó sẽ giải quyết ra sao. Mà mọi sự  bịa đặt đều chỉ có thể dẫn đến sai lầm, tôi mới tiếp tục  viết thêm những tập sau nữa, hy vọng rằng trong quá trình nghiên cứu  tôi sẽ  tìm hiểu được những vấn đề đã đặt ra một cách toàn diện hơn. “ Theo tôi, đoạn văn này đã nói rất trúng cái tinh thần căn bản của tiểu thuyết mà một số nhà lý luận như M. Bakhtin, hoặc nhà văn như M. Kundéra nhấn mạnh: người viết tiểu thuyết  không thể áp đặt cho nhân vật những sơ đồ có sẵn. Mà phải tôn trọng nó, thấy nó là một cái gì nhởn nhơ trước mặt song không dễ gì nắm bắt được, ngược lại phải lo đối  thoại với nó, rổi  tìm hiểu khám phá nó. Cuối đoạn tự bạch nói trên, bằng cái giọng đầy e ngại, nhà văn tiếp tục tâm sự :“Tuy vậy nay xem lại cả bốn tập viết rải rác trong  hơn một năm thì thấy có nhiều vấn đề còn lơ lửng, con đường đi tới của một số nhân vật chính còn chưa rõ ràng …“. Theo tôi, cái chỗ mà tác giả  lo lắng đó  lại chính là chỗ mạnh, là nhân tố làm nên chất tiểu thuyết của Xung đột. Còn trong   Thượng đế thì cười , suốt mấy trăm trang sách, cái kẻ được gọi là hắn không hiện ra như một cái gì cần tìm hiểu. Tác giả quá thuộc hắn, nói đến đâu ông làu làu đến đấy. Rồi sự thương yêu không hề giấu giếm, sự kính phục dường như không tìm ra lời để diễn tả nổi, cả sự bênh vực đâu vào đấy  – một thứ bênh chằm chằm như lối các bà mẹ thời nay bênh con, – bao nhiêu tình cảm người viết tiểu thuyết tự nhủ phải tránh cho xa khi muốn khắc hoạ một nhân vật, trớ trêu thay, lại được Nguyễn Khải khai thác một cách hồn nhiên, mà về hiệu quả nghệ thuật, hại nhiều hơn lợi. Và thế là cái lý do  khiến cho người ta khó gọi nhân vật chính của Thượng đế thì cười  là một nhân vật hồi ký hiện đại như trên đã trình bày đồng thời cũng là lý do chính khiến cho hắn không trở thành nhân vật của tiểu thuyết theo những cách hiểu sâu sắc nhất về  thể tài  này.

Khi mình không phải là người khác
   Trở lại với Thượng đế thì cười  như một cuốn hồi ký - tự truyện. Có một sự việc thoạt nhìn tưởng nhỏ song lại không nên bỏ qua, là câu chuyện bà vợ. Đây là cái cớ đóng vai trò khởi động cho cả cuốn sách và chừng nào đó ảnh hưởng tới cả giọng điệu chính trong Thượng đế thì cười . Thế nhưng thử nghĩ lại một chút: Cái việc người ta khi về già, trở nên trái tính trái nết, bộc lộ ra lắm vụng về trong cách đối xử của người thân, chẳng phải là chuyện  hiếm hoi. May lắm, chỉ nên  hiểu nó như chút muối mặn làm tăng thêm ám ảnh về cái vô lý của đời thường mà những ai còn cảm giác thực tế  trước  cuộc sống đều luôn luôn cảm thấy và lĩnh đủ. Chắc chắn nó  không ghê gớm đến mức khiến cho con người ta phải  “kêu thét lên vì vô lý “  như nhân vật trong truyện đay đi đay lại. Thế thì tại sao  nhà văn dùng đến bao nhiêu câu chữ như vậy  tô đậm cái bi kịch gia đình ? Hay là ông vốn quen đặt ông quá cao, xem mình có quyền đứng ngoài mọi sự ràng buộc thông thường mà mọi chúng sinh trong đời phải chịu, và điều  này đã ăn sâu vào tâm trí ông khiến ông không bao giờ nghĩ rằng  làm thế lại gây phản cảm? Từ đây nghĩ rộng ra, tôi có cảm tưởng mối quan hệ giữa cá nhân và những người chung quanh  --- một mối quan hệ mà mọi người hàng ngày phải đối mặt, người viết  hồi ký tự truyện càng  phải đối mặt --, mối quan hệ ấy ở Nguyễn Khải lâu nay chưa được giải quyết cho ổn  thoả và việc đó ảnh hưởng ngay tới sự nhất trí của tác phẩm ông mới viết. Chúng ta biết rằng trong suốt cuộc đời của mình, nhà văn này vốn  thành thạo cả bút pháp  sử thi, nhìn cái gì  cũng thấy thiêng liêng cao cả, và cả bút pháp tiểu thuyết, tiếp cận đời sống ở cái vẻ suồng sã của nó, trong mỗi tác phẩm việc ông sử dụng cách nào là tuỳ yêu cầu cụ thể  và quả thật ông đã nhào lộn khéo léo  đến mức hai loại tác phẩm dùng hai bút pháp ngược nhau đến vậy cùng sống hoà bình bên nhau để làm nên một sự nghiệp. Đến Thượng đế thì cười , thì như trên đã nói, mặc dù cũng có một ít đùa bỡn vui vẻ, song về căn bản  bút pháp  chủ yếu được sử dụng là  bút pháp sử thi, nó nhiều phần phù hợp với cảm hứng chung của tác giả  khi muốn  nhìn lại đời mình  theo cái cách ở trên chúng tôi đã miêu tả. Thế nhưng có lẽ vì một sự méo mó nghề nghiệp nào đó nên cây bút  tiểu thuyết ở nhà văn  vẫn ngọ nguậy  không yên, và điều đó  khiến cho có lúc tác phẩm lạc hẳn sang một cái giọng khác hẳn giọng điệu vốn có. Lại chết một nỗi, mặc dầu đã tự  kiềm chế, song nhà văn vẫn không giấu được một thói quen đã thành cố tật: với những việc thiết  thân của mình hoặc hợp với tạng mình thì ông nhìn nhận một cách một cách nghiêm chỉnh, và dùng những lời khéo léo nhất để tán dương; còn những gì không được việc cho mình, hoặc đơn giản là việc của thiên hạ thì ông xem như trò đùa, thoáng nhìn đã thấy ngay bao điều đáng  mỉa mai giễu cợt. Thành thử người ta có trách rằng ở đây Nguyễn Khải chưa đủ  tỉnh táo và chưa đủ  cả cái cận nhân tình,  tức cái bao dung cần thiết,  kể cũng không phải chuyện lạ !

 Sự dừng lại nửa chừng
    Từ nhiều năm nay Nguyễn Khải đã cho in một số tập sách trong đó ông thử trở lại chuyện cũ để  tìm cách chiêm nghiệm bản thân. Quan niệm tổng quát về quá khứ đã có lần được ông trình bày trong cuốn Chuyện nghề (1999 ) “Lắm ngày ngồi đọc lại hay nghĩ lại về những tác phẩm của  mình đã viết trong mấy chục năm  qua, nhiều trang viết  vẫn còn làm tôi hãnh diện và có nhiều trang viết đã làm tôi xấu hổ và rất buồn. Những trang viết chủ quan, kiêu ngạo chỉ khẳng định có một niềm tin, một lẽ sống, rồi dạy dỗ, rồi lên án, rồi chế giễu tất cả những gì khác biệt với mình, đọc lại thật đáng sợ. Thế giới như nhỏ lại, nhạt đi, căng thẳng ( …) Tôi rất muốn viết lại một số trang vì tôi đã từng trải hơn, hiểu đời hiểu người hơn …”
     Vừa mới trả lời bạn đọc như vậy, đến Thượng đế thì cười , nhà văn lại từ bỏ ngay cái điều định làm, hoặc nói cách khác, là ông không có nhu cầu đó nữa. Trong mạch hồi ức bề bộn của nhân vật, rất nhiều chi tiết đã được kể lại, nhằm gây hiệu quả có thực, song cái sự thực sâu xa nhất về “đương sự“ thì bởi lẽ tác giả không muốn nói, nên với người đọc, vẫn còn nguyên vẹn là một bí mật. Nhận xét về cách viết  của Thượng đế thì cười , một nhà văn đàn anh của tôi là Nguyễn Kiên vui miệng bảo : “Ban đầu ông Khải cũng muốn đùa bỡn với mình, nhưng được một lúc thì quên hẳn, lại cứ lối viết  xưa nay mà kéo “. Và như thế, âm hưởng chính toát lên sau các trang sách vẫn là nhiệt tình tự biểu dương tự khẳng định. Giải thích điều này không khó khăn gì, nếu nhìn chung ra cả xã hội. Sau mấy chục năm sống mải miết, nay là lúc  nhu cầu trở lại chuyện xưa thức dậy ở nhiều người. Song cũng phải nhận đây là việc khó, không phải người ta cứ có một quá khứ là đã hiểu được nó một cách chính xác, dù đấy là quá khứ của chính mình. Vì cái công việc tưởng là dễ ợt kia đòi hỏi một sự sáng suốt phi thường, làm việc với nó dễ căng dễ mệt, ai người đã  già, già không phải về mặt thể chất mà cái chính là về mặt tinh thần, chắc chắn không thể chịu nổi. Con người hiện đại để đạt tới sự tự nhận thức thực sự, phải tự lột trần, tự bỏ phục trang xã hội của mình -- nhiều người ngại ngần. Con người hiện đại  không chỉ nhấn mạnh chỗ khác  so với chung quanh, mà còn  tìm kiếm và thử tìm cách  xác định  hồn cốt bên trong của mình – nhiều người  dừng lại. Đọc sách,trước mắt người đọc chỉ có hình ảnh của những tác giả hồi ký - tự truyện như họ muốn, chứ không phải như họ có thật trong đời. Nguyễn Khải  cũng không ra khỏi cái sự thường tình đó. Quá trình trở lại cái thời lãng mạn ở ông bắt đầu từ vài năm nay, tới Thượng đế thì cười  thì được hoàn chỉnh.Và cách giải thích tốt nhất ở đây có lẽ là mượn lại câu nói của  nhà văn đồng thời là nhà đạo đức học người Pháp F. La Rochfoucauld  (1613-1680) : Chúng ta quá quen trá hình trước mắt kẻ khác nên  rốt cuộc trá hình ngay với chính mình.

Lời kêu gọi  Hãy đi xa hơn nữa     
      Sống ở đời, Đời khổ, Chuyện tình của mỗi người, Một thời gió bụi, Anh hùng bĩ vận  …, tên gọi của một số  tác phẩm Nguyễn Khải viết hơn một thập kỷ nay đã làm chứng cho một ao ước chính đáng nơi ông là muốn đi tới những  khái quát nhân sinh, nó là điểm tới xa hơn sâu hơn so với các tác phẩm cũ của ông. Trong những tác phẩm thuộc loại viết về sau này (đây chỉ kể những truyện khá nhất), cuộc đời hiện ra không phải như cái gì tác giả đã thuộc như lòng bàn tay, mà còn bao điều chính ông chưa biết và không rõ nên cắt nghĩa ra sao. Ông không ngại đi vào những nghịch cảnh, trớ trêu. Ông biết thông cảm với nỗi sợ, niềm đau. Ông sẵn sàng dùng lại những chữ như số kiếp, thân phận … Những nỗ lực này của nhà văn có để lại dấu vết trong Thượng đế thì cười . Thử nhớ lại  hình ảnh bà cụ già ngồi ăn bún với muối hoặc người đàn ông đánh một chiếc xe trâu chở cái tiểu sành có bộ xương vợ với đứa con nhỏ đi suốt từ Điện Biên về vùng xuôi. Hôm qua, Nguyễn Khải đã biết những con người ấy, những tình tiết ấy, nhưng không bao giờ nghĩ tới việc mang chúng vào trang sách. Về già, ông nhắc tới chúng với niềm hãnh diện: đó là một phần cuộc đời của ông và chính nhờ thế ông tìm ra cách sống rồi  nương theo đó là cách viết. 
    Không phải ngẫu nhiên một bài  phỏng vấn Nguyễn Khải đầu 2004 có cái tên gọi khái quát: Cười cho một kiếp nhân sinh. Theo tôi hiểu, chính nhà văn cũng có lúc muốn xuất hiện trước bạn đọc trong một tư thế như vậy,với bộ y phục như vậy. Thế nhưng nhìn chung Thượng đế thì cười  (mà hẳn tác giả rất lấy làm đắc  ý ) vẫn thành công chính ở việc biểu dương một sự nghiệp hơn là chạm vào một vấn đề bao quát của cuộc đời. Nó mang lại cho tác giả  một chút an tâm cần thiết, chứ không chắc đã giúp cho các tầng lớp bạn đọc lẫn các đồng nghiệp soi vào đó để hiểu thêm những ngày đang sống, với đủ ngọt bùi chua chát chúng ta vẫn cảm nhận. nói với người ta về một ít con người trong một thời cụ thể, chứ chưa đủ sức vươn tới những khái quát về  kiếp nhân sinh nói chung, do đó chưa thuộc vào loại tác phẩm tự nó sẽ còn được đọc lại, như hôm nay chúng ta đọc lại Số đỏ, Chí Phèo, hoặc gần đây Cát bụi chân ai. Đáng lẽ  có thể đạt tới khả năng lôi cuốn của những cuốn sách mang tính cách tôi thú nhận là tôi đã sống ( chữ của P. Neruda), hoặc tôi lật con bài của tôi  (chữ của L.Aragon), song Thượng đế thì cười  đã  dừng lại trên  cái mạch cũ của một đời văn sớm định hình ở tác giả.
    Có  những giới hạn mà cả những đầu óc thông minh nhất trong thời của mình vẫn không thể vượt qua – cuối cùng chỉ còn có cách nghĩ vậy. Nhưng đặt vào  hoàn cảnh hôm nay, Thượng đế thì cười  của Nguyễn Khải lại có cơ trở thành một lời kêu gọi:  cách tốt nhất để  các đồng nghiệp, nhất là các bạn trẻ, thể hiện lòng yêu mến kính trọng đối với nhà văn hàng đầu này là đi tiếp trên con đường ông đã thấy là phải, nhưng không đủ sức dấn tới./.

2005