5 thg 4, 2014

Xuân Quỳnh & những vui buồn của kiếp hoa dại


Đến tận cùng đau đớn, đến tình yêu
(XQ-THƠ TÌNH  CHO BẠN TRẺ)


Khi nghe ca sĩ Thúy Mị hát bài Đợi có lẽ bạn nghe đài cũng như bạn đọc nói chung nhiều người không để ý rằng trong việc phổ thơ Vũ Quần Phương, nhạc sĩ Huy Thục đã làm một việc đảo lộn nho nhỏ.
 Nguyên văn câu thơ đầu tiên trong bài của Vũ Quần Phương Anh đứng trên cầu đợi em. Bài thơ nói cái cảnh người đàn ông đợi người đàn bà. 
Còn bản nhạc Đợi của Huy Thục thì diễn tả một tình thế  ngược lại. Người  phụ nữ tới trước và đợi người yêu của mình. Cả bài ca là tiếng lòng tha thiết của "phái yếu" khi chủ động làm công việc chờ đợi đó.
Người viết bài này chưa có dịp gặp Huy Thục để hỏi nhạc sĩ tại sao đổi như vậy. Nhưng khách quan mà xét, thì việc đảo lộn ấy rất hợp với quy luật.

Không hẹn mà nên, trong ca  dao dân ca, trong chèo, trong truyện cổ tích, khi cần diễn tả tình yêu, các tác giả vô danh và khuyết danh Việt Nam có thói quen để cho phụ nữ đóng vai trò chủ động. 
Họ thường yêu sâu sắc hơn nam giới. 
Họ không ngại mang tiếng yêu trước và sau đó lại chung thủy đến cùng, kể cả vì thế mà bị lừa lọc phản bội rồi thân tàn ma dại và suốt đời mang tiếng khờ khạo, nhẹ dạ. Xúy Vân trong vở chèo cùng tên đã đứng cao hơn Trần Phương, như Kiều có chút gì đó hết mình hơn, người hơn, mà lại trong sạch hơn, bên cạnh Kim Trọng. 
Sang thời hiện đại, một Tố Tâm “ bít khăn tua đen”,“đầu ngôi rẽ giữa" " tóc vuốt sáp”, cũng là nhiều lần cao đẹp hơn trong tình yêu, so với nhân vật xưng tôi trong thiên truyện của Hoàng Ngọc Phách.
 Tố Tâm vừa say đắm hơn, vừa rộng lượng hơn bên người học trò Đạm Thủy một mực tuân thủ lể giáo, lúc nào cũng ra vẻ long trọng song thực ra lại nhút nhát. 
Chẳng trách ngày nào Hồ Xuân Hương đã tai quái ném ra hình ảnh bố cu lổm ngổm bò trên bụng.
Đằng sau cái tư thế cụ thể tức cười, câu thơ phát ra một điều khái quát, nó là một sự thật càng sống càng thấy đúng: đó là vẻ cao quý của một người phụ nữ Việt Nam, cao quý ngay trong sự chủ động chờ đợi mà Huy Thục hôm nay chạm tới.
Không biết có nên gọi là truyền thống không, nhưng đấy thật là nét lạ của người phụ nữ Việt Nam và hôm nay cũng được các thế hệ phụ nữ ta chứng minh. Một trong những trường hợp đó là nhà thơ Xuân Quỳnh.

NIỀM KHAO KHÁT KHÔN NGUÔI

Cũng như các diễn viên ca, múa và những chị em làm nghệ thuật khác, một phụ nữ làm thơ  viết truyện ở nước ta dễ chuốc lấy nhiều thành kiến không đâu. 
Ngoài việc có hai đời chồng, ở Xuân Quỳnh lại còn kèm thêm những vụ tai tiếng trong tình yêu mà trong giới gần như không ai không biết.
 Nên chi có nhiều người bỡ ngỡ không tin khi nghe nói Xuân Quỳnh là một con người hết sức tha thiết với hạnh phúc gia đình. 
 Nhưng sự thật là vậy.
 Lớn lên trong cảnh mồ côi mẹ (Em đánh chắt chơi chuyền từ nhỏ -  Hái rau dền rau rệu nấu canh – Tập vá may tết tóc một mình – Rồi úp mặt lên bàn tay khóc mẹ), suốt đời người con gái này khao khát một nơi nương tựa, tức một gia đình hạnh phúc.
 Không bao giờ chị yêu một cách đùa cợt. Yêu ai là tính chuyện sống hẳn với người đó.
 Với bàn tay thô vụng, bàn tay“mó tới đâu là đổ vỡ” bàn tay “khi nói chuyện với ai,…thấy tay thừa không biết giấu vào đâu”, chị chăm chỉ lo việc nhà và không thể làm gì, kể cả đọc sách làm thơ, nếu chưa lo được cho chồng con bữa ăn ngon, bộ quần áo sạch. 
Vốn có nhiều kinh nghiệm về quyền lực của nhan sắc, nhưng nhân nói về thơ, có lần nhà thơ vẫn cả quyết: “Thơ đối với cuộc sống ví như một người con gái đối với gia đình. Cái để cho người ta làm quen với nhau là nhan sắc, nhưng để sống với nhau lâu dài lại là đức hạnh”. 
Cùng với tuổi tác, mỗi ngày Xuân Quỳnh mỗi thấy cái đức hạnh ấy là lẽ sống của mình. 
Tiếp nối những bài thơ khao khát tình yêu lúc trẻ, các bài làm mấy năm cuối đời thường đầm ấm một tình yêu gia đình, yêu chồng, yêu con. Nhiều bài thơ thiết tha như lời tự nhủ rằng có lẽ trong hoàn cảnh nước mình, được như thế này có thể gọi là hạnh phúc. 
Tuy mỗi thời cái hạnh phúc ấy có một khuôn mặt riêng, song bao giờ con người ấy cũng run rẩy khi được biết mình đang được có nó, đang được sống với .
 Và càng mong manh dễ vỡ, với Xuân Quỳnh,  lại càng đáng quý.

LẦM LẪN NHƯNG KHÔNG MAN TRÁ

Có một mô-típ thơ thường hay trở đi trở lại trong thơ Xuân Quỳnh là cỏ hoang, hoa dại, với tất cả những cay đắng thua thiệt mà loài hoa này phải chịu. Trong bài Hoa dại núi Hoàng Liên, chị viết:

      Anh đừng hỏi em tên hoa làm chi nữa
     Những hoa này  chỉ hoa dại mà thôi

    Không phải hoa được ở cùng người
    Đươc chăm sóc trong mảnh vườn sạch cỏ
    Đươc khoe đến muôn màu sắc lạ
    Và được đời chiêm ngưỡng mùi hương

    Không phải hoa được cắm trên bàn
    Trong ngày hội của những niềm vui mới

    Những hoa này lại nở cho triền núi
    Lại nở cho vẻ đẹp của rừng chung
    Nên ít ai để ý sắc từng bông
    Chỉ thấy núi muôn màu rực rỡ
    Đôi khi giẫm lên hoa mà chẳng nhớ

Có thể chỉ là trong tiềm thức, nhưng hình như nhà thơ thầm cảm thấy hoa hèn, cỏ dại là ứng với mình, thân phận mình. Tại sao? 
Không phải cứ khao khát là người ta đã có được hạnh phúc.
Cũng như phần lớn chúng ta, trên đường truy tìm hạnh phúc, không biết bao lần trong cuộc đời, con người thông minh và cực kỳ nhạy cảm này đã lầm lẫn, đã là nạn nhân của những ảo tưởng về mình và về người. 
Cái khỏe của Xuân Quỳnh là đã vượt qua được những đau khổ để tiếp tục sống. Nhưng tận đáy lòng nhà thơ vẫn thấy có chút gì đó xót xa tội nghiệp cho mình: giá có ai bảo mình, giá mình biết sống hơn…
 Trong hình ảnh hoa dại, nhà thơ không chỉ tìm thấy niềm an ủi, ở đó còn bao hàm cả lời thú nhận về sự bất lực của bản thân, cả nỗi hờn tủi oán trách.
Có một điều cũng phải nói ngay là mặc dù qua nhiều lần lầm lẫn, nhưng Xuân Quỳnh thường có cách ứng xử khác hẳn những kẻ tầm thường: con người này không man trá. 
Khi nhận ra lầm lẩn, chị sẵn sàng làm lại tất cả. Chị ghê sợ những gì giả tạo. 
Ở đây không chỉ có sự thành thực mà còn có một chút gì như sự sòng phẳng. 
Cái thành thực trước khi cần cho mọi người, đã là cần cho chính người trong cuộc. 
Trong khi làm khổ Xuân Quỳnh không biết bao nhiêu mà kể, sự thành thực này tựu trung chỉ cứu chị, giúp ích chị trong một việc: làm thơ. 
Càng đau khổ càng muốn tìm đến thơ để tự giải thoát. 
Tự trong thâm tâm chị hiểu rằng nếu cuộc sống là cái gì quan trọng nhất với mình thì thơ lại là cách duy nhất để mang lại cho cuộc sống đó là một hình thức bất tử.


 BỊ TÌNH YÊU HÀNH HẠ

Sinh thời, khi trò chuyện với bạn bè, Xuân Quỳnh thích nhắc lại câu nói của L.Tolstoi, đại ý cho rằng người ta sẽ có sức mạnh vô cùng vô tận nếu có tình yêu. 
Tình yêu làm nên tất cả. 
Nếu có một thứ tôn giáo tình yêu thì chị là một trong những tính đồ ngoan đạo nhất. Tình yêu quả thật đã giải phóng ở chị có những sức lực không ngờ trong cuộc sống, làm việc và gây dựng gia đình. 
Và chị tưởng rằng với tình yêu, mình có thể làm được tất cả, -- biến kẻ xấu thành người tốt, người đàn ông ích kỷ thành người chồng hết lòng với vợ con. 
Thậm chí tình yêu vượt luôn được khoảng cách xa về thời gian tuổi tác để đưa bất kỳ lứa đôi nào trở thành những cặp vợ chồng mẫu mực.
Chỉ cần có một chút kinh nghiệm thôi, người ta sẽ nhận ra rằng niềm tin ấy của Xuân Quỳnh là ảo tưởng. Là yếu tố thiết yếu để tạo nên hạnh phúc nhưng tự nó, tình yêu chưa phải là hạnh phúc. 
Vả chăng, nói gì thì nói, sức mạnh của tình yêu chỉ có giới hạn, nhất là khi nó chưa phải là sự hòa hợp của hai tâm hồn mà mới là tình yêu một phía của người đàn bà với người đàn ông.
Giá có dịp đứng ngoài mà nhìn, Xuân Quỳnh sẽ công bằng mà nhận ra rằng trong khi chỉ mang lại một ích niềm vui, thì ảo tưởng kia đã là nguồn gốc gây nên mọi bất hạnh nơi chị.
 Đồng thời với việc bòn rút tâm lực, nó còn làm biến dạng cả chính chị nữa. 
Con người rất sợ cái gì đó dối trá giả tạo, có lúc phải đóng vai hạnh phúc.
Trót kêu căng tin vào sức mạnh của chính mình, chị không còn dám chia sẻ về nỗi đau khổ với bất cứ ai.
Cái giá phải trả quả thật quá lớn!
Nhưng nếu được cãi lại, thì Xuân Quỳnh không ngần ngại mà nói rằng: “Với tôi, niềm tin ấy chính là số phận”.
Khi đã thành lời nguyền, dù nặng nề biết bao nhiêu, chị vẫn tự nguyện mang nó.
Và như sau này ta thấy, chị đã mang nó cho tới lúc chết. Hình ảnh cả đời Xuân Quỳnh rút lại là một hình ảnh con người sồng bằng tình yêu, làm thơ nhờ tình yêu, sung sướng vô cùng trong tình yêu và cũng bị tình yêu hành hạ đến cùng cực.

Tôi có một tình yêu rất sâu
Rất dữ dội nhưng không bao giờ yêu được hết
Ở các cô, các cô âm thầm chịu đựng
Cho đến ngày tình yêu ấy tắt đi
Còn ở tôi, tôi mang nó nặng nề
Muốn nguôi quên, nó lại ngày càng lớn
Luôn xáo động tôi không sao ngủ được
Không làm sao có thể ngồi nguyên
Ôi con trai thật là kỳ lạ
Tôi yêu tất cả mọi người mà chẳng yêu được riêng ai
Không sĩ diện đâu, nếu tôi yêu được một người
Tôi sẽ yêu anh ta hơn anh ta yêu tôi nhiều lắm
Tôi yêu anh dẫu ngàn lần cay đắng

Những câu thơ ấy là lời thú nhận của Xuân Quỳnh nhưng cũng là thú nhận của bao thế hệ phụ nữ từ Xúy Vân, Kiều, Tố Tâm đến cô gái trong bài hát Đợi, cô gái trong bài hát Sợi nhớ sợi thương (“nghiêng sườn đông mà che mưa anh -"  "… mà em nghiêng hết ấy về phương anh”). 
Chỉ những người phụ nữ say đắm, tự tin, những người hồn nhiên nhận lấy sự ràng buộc của số phận mới có cách cư xử  như vậy. 
Trong khi thông cảm với những đau đớn đến xé ruột xé lòng họ từng phải gánh chịu, đồng thời chúng ta cũng hiểu rằng trước tiên họ đáng kính trọng.

Đã in Những kiếp hoa dại 1993
Mời xem lại Xuân Quỳnh, cuộc đời để lại trong thơ, trên blog này 08-09-2013