29-03-2010

Trình độ sống của người Việt còn thấp


ngày 29/03/2010 - 
(VnMedia) - "Bạo lực nằm sâu trong di sản văn hoá cộng đồng. Người Việt chúng ta không có niềm tin đủ mạnh vào cái thiện, đủ để làm cho họ tránh phạm điều ác. Bạo lực chứng tỏ trình độ làm người thấp của cả cộng đồng. Chúng ta còn phải phấn đấu nhiều  để vượt lên một trình độ sống khác".

Đọc tiếp ...

23-03-2010

Thơ tình và con người riêng tư trong thơ Xuân Diệu sau 1945

                                                   

 Những  thích ứng với hoàn cảnh đã làm nên  sự  thay đổi lớn lao trong số phận một nhà thơ. Với Cách mạng và kháng chiến,  một Xuân Diệu  từng mang tiếng là quá Tây không chỉ trở  thành một nhà thơ công dân sôi nổi mà còn một nhà thơ tình có một cảm quan rất thực tế, luôn luôn biết chăm sóc đến những cái nho nhỏ bình thường trong đời sống, đồng thời lại  tự mở rộng trong việc  ghi lại những xúc cảm đa dạng ở con người.

Đọc tiếp ...

19-03-2010

"Bạo lực có mầm mống trong xã hội Việt"

ngày 19/03/2010 (VnMedia) -

Ảnh minh họa
(VnMedia) - Clip nữ sinh bạo lực khuấy động dư luận. Nhiều người sửng sốt vì tình trạng bạo lực học đường. Nhiều người khác giật mình chất vấn giáo dục, xã hội. Trong khi đó, nhà nghiên cứu văn hoá Vương Trí Nhàn cho rằng: Bạo lực có mầm mống trong xã hội Việt mà ta không tự thấy.

Đọc tiếp ...

14-03-2010

HÀ NỘI – mất và được

Chùm bài Tết Canh Dần
Lúc này mà kể những chuyện buồn của Hà Nội chắc một số người...e ngại. Nhưng không chỉ riêng Nam Cao quan tâm tới Chuyện buồn giữa đêm vui ( đây là cái tên ông đặt cho một truyện ngắn). Mà đó là tâm trạng có ở nhiều người khi quay đầu đối diện với thời gian. Học theo cách nghĩ đó, tôi muốn nhắc lại một ít chuyện buồn đã đến với Thủ đô trong quá khứ để thêm vui với Hà Nội ngàn năm tuổi. Một tình yêu có nhiều trắc trở khó khăn, nhiều khi, lại mới là tình yêu sâu sắc.

Đọc tiếp ...

12-03-2010

Của thiêng

Trong truyện ngắn Không có vua của Nguyễn Huy Thiệp (viết khoảng năm 1988), có một cảnh liên quan đến Tết Trước đó, ngay từ đầu truyện, tác giả đã viết: “Cô Sinh về làm dâu nhà lão Kiền đã mấy năm nay. Khi về, cô mang theo bốn bộ quần áo mỏng, một áo dạ mặc rét, hai áo len, một vỏ chăn hoa, bốn cái xoong nhôm, một cái xoong bột, một cái phích hai lít rưỡi, một cái chậu tắm, một tá khăn bông, tóm lại là một đống tiền, nói như bà mẹ cô Sinh làm nghề buôn gạo ở chợ Xanh”. Ở các đoạn sau, mỗi khi nói tới một nhân vật, Nguyễn Huy Thiệp thường kèm theo một hai chữ, nói rõ mối quan hệ của người ấy với đồng tiền. Cách kiếm tiền của con người trong truyện khá trầy trật, nhiều khi bằng con đường lừa lọc. Tình thế “không có vua” làm biến dạng mọi nhân cách! Trong số những biến động ghê gớm mà chiến tranh và cách mạng mang lại nơi tâm lý mỗi người bình thường mấy chục năm qua, có một điểm này: Người ta nhiều lúc cảm thấy như chẳng cần gì. Chẳng cần của cải, chẳng cần tiện nghi. Sống thế nào cũng được. Rồi những năm ấy qua đi, nay thì ngược lại. Từ chỗ xem thường đồng tiền, nay cả xã hội quay ra khao khát nó, sùng bái nó. Nhiều người tự nhủ miễn là có tiền, còn làm thế nào, bẩn thỉu hay sạch sẽ, không cần biết. Ở những xã hội phát triển bình thường, người ta lấy lao động để đổi lấy tiền. Các giá trị ổn định. Và con người được chuyên môn hóa với nghĩa yên tâm làm giỏi cái nghề của mình, rồi sẽ thu nhập tương xứng. Từ chiến tranh bước ra, từ xã hội nông thôn lên xã hội đô thị, con người Việt Nam hôm nay quan hệ với đồng tiền thật khuất khúc. Tại sao người này kiếm tiền dễ vậy, còn người khác lại quá khó khăn? Nghĩ mãi mà chẳng cắt nghĩa nổi. Điều chắc chắn là có quá nhiều sự bất chính. Cùng là đồng tiền mà giá trị mỗi lúc một khác. Sự thiêng liêng của cuộc sống mà đồng tiền góp phần duy trì bị đánh mất. Một nhà đầu tư nước ngoài nhận xét rằng không ít chuyên gia trẻ Việt nam hình như quá dễ dàng trong việc chuyển nghề, đâu được trả cao hơn là họ đổi sở ngay. Ý người ta muốn nói con đường kiếm tiền chân chính bị chối bỏ và quan niệm về việc làm người của một bộ phận giới trẻ đang có vấn đề. Có điều, đó không phải là bệnh riêng của lớp trẻ. Gặp nhiều người bây giờ, không dễ xác định nghề họ đang làm. Nhiều khi dư luận đánh giá một người giỏi hay kém chỉ là trông vào số tài sản người đó có. Biết thế là sai nhưng ngày càng ít ai dám đi ngược lại cách nghĩ phổ biến nói trên. Một ông bạn tôi vừa về quê ra Hà Nội, kể rằng các đám hiếu hỉ ở nông thôn hiện nay vung tiền rất thoải mái, có người vét túi cả vốc tiền 50.000 đồng ném xuống áo quan. Việc hơi lạ, nhưng cái xu hướng mà nó biểu thị thì có thật. Có thể nghĩ lan man về việc này. Riêng tôi thấy sống lại cái cảm tưởng về sự thiêng liêng bị đánh mất. Bỗng dưng nhớ tới nhân vật lão Hạc trong truyện ngắn cùng tên của Nam Cao. Về già, con trai đã đi xa, băn khoăn lớn nhất của lão là làm sao bảo quản ít của cải sẵn có. Tài sản không nhiều nhặn gì, bao gồm một ít đất, một ít tiền và một con chó. Nghĩ quanh nghĩ quẩn rồi lão đi đến một cách xử sự mà người đời ngày nay hẳn nghĩ rằng quá kỳ cục, là bán con chó, gom tiền lại gửi tất cả cho người khác giữ và chọn lấy sự ra đi tự nguyện. Từ Lão Hạc, chúng ta đã thấy nhiều mặt cuộc sống của người Việt đầu thế kỷ 20, trong đó có cách ứng xử của con người với tiền tài. Sau một đời lầm lũi, người thời ấy cũng có một ít của cải nào đó. So với mong mỏi của mỗi cá nhân, số này là chưa đủ nhưng con người lúc ấy biết sống trong cam chịu, không oán trách ai. Họ tin họ đáng được như thế và đối xử với nó hết sức nghiêm túc. Toàn bộ thiên truyện Lão Hạc xây dựng trên cái trục chính: Lão thà chết để giữ tiền cho con, vì lão tin rằng đồng tiền ấy có thể có ích cho con mình. Đồng tiền với lão vẫn là cái gì đó thiêng liêng, thiêng liêng hơn cả cuộc sống chính lão. Cái niềm tin ấy với người đời hôm nay dường như quá xa lạ. Ta và lão Hạc, ai xứng là người hơn? Tôi tự hỏi mà chưa biết trả lời thế nào cho phải! nld.com.vn - 15-02-2010

Đọc tiếp ...

05-03-2010

Thiên nhiên điêu đứng...


(TBKTSG) - So với những đoạn đường Trường Sơn thì con đường chúng tôi đi hôm ấy từ Phú Thọ qua Thanh Sơn về Trung Hà không phải là xấu, và đất bụi chưa lấy gì làm nhiều. Nhưng đoạn đường trong liên tưởng là thuộc thời chiến tranh, còn hôm nay chúng tôi đi trên con đường thời bình.

Đọc tiếp ...

04-03-2010

Tự hiểu mình hơn qua lễ hội

Ai đọc cổ tích Tấm Cám hẳn nhớ chi tiết mẹ con Cám ghét Tấm, ghen tị với Tấm muốn hành hạ Tấm. Biết Tấm thích đi hội làng, mẹ Cám trộn thóc lẫn với gạo bắt Tấm chọn xong mới được đi. Chi tiết đã quá quen thuộc nhưng chỉ hôm nay tôi mới hiểu. Sức lôi cuốn của lễ hội thật dai dẳng.

Đọc tiếp ...

01-03-2010

Phải nghĩ về thủ đô

Ta yêu Hà Nội, đừng chỉ yêu bằng lời nói và xúc cảm trái tim. Đằng sau hai chữ tình yêu, tôi muốn nói tới nhu cầu của chúng ta phải nghĩ về thủ đô, quan tâm tới thủ đô, thấy nó quan hệ tới cuộc đời của mình. Trong lời bạt viết cho cuốn Sống mãi với thủ đô (tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng) in năm 1961, nhà văn Nguyễn Tuân từng đưa ra một nhận xét chung: “Hình như hầu hết danh nhân, anh hùng cổ kim nước ta đều là những con người Hà Nội. Các vị ấy có thể quê quán gốc tích ở “ngũ tỉnh đàng trong, tứ tỉnh đàng ngoài!” nhưng cái đoạn trội nhất của các bậc ấy vẫn là diễn ra trên mảnh đất thủ đô”. Nguyễn Tuân không nêu cụ thể nhưng tìm vào lịch sử, người ta có thể kể ra hàng loạt tên tuổi làm bằng chứng cho nhận xét của ông. Trong phạm vi văn học, đó là bản danh sách kéo dài từ Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Phạm Đình Hổ, Hồ Xuân Hương... qua Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh, Hoàng Ngọc Phách, Nhất Linh, Thế Lữ rồi Vũ Trọng Phụng, Nam Cao, Xuân Diệu, Huy Cận... Họ đã trưởng thành cùng với trung tâm văn hóa của cả nước. Tưởng như không có dịp tới thủ đô, mỗi người không thể trở thành chính mình. Đây là những bằng chứng đánh dấu chất hội tụ, cái đặc điểm không chỉ riêng cho Thăng Long mà là dấu hiệu của thủ đô bất cứ nước nào. Khả năng hội tụ làm cho “mảnh đất trong sông” đơn sơ này trở thành thiêng liêng. Có điều lạ mà ít người để ý: Chỗ mạnh này của Thăng Long thật ra đã được người viết Chiếu dời đô nhìn thấu. “Xem khắp nước Việt, đó là nơi thắng địa, thực là chỗ tụ hội quan yếu của bốn phương”. Theo truyền thuyết, đây là những dòng do tự tay người sáng lập vương triều Lý viết. Dường như Lý Thái Tổ muốn nhấn mạnh sức sống của thủ đô là ở mối quan hệ với những gì ngoài nó, chung quanh nó, những gì là cả đất nước. Nhiều thế hệ sau đã sống bằng cái ý tưởng đó. Nhưng không phải cái gì người ta biết là có thể làm ngay! Trong một xã hội luân chuyển giữa chiến tranh và trì trệ, nhu cầu đô thị hóa không cao, các đô thị ở Việt Nam lúc đầu chỉ là trung tâm quân sự, sau đó là nơi để cho người các vùng phụ cận đến buôn bán. Sở dĩ Thăng Long có lúc được gọi là kẻ chợ là vì như vậy. Các gia đình quan lại cũng như các gia đình buôn bán ở Thăng Long xưa thường vẫn sống theo kiểu hai mang, một chân ở nông thôn, một chân trên phường phố. Sự hội tụ trong những năm chinh chiến chủ yếu là hội tụ theo nghĩa tinh thần. Người ta nghĩ về thủ đô như nơi kết tinh hồn thiêng đất nước, nó mang lại cho con em xứ này tinh thần nồng nhiệt “xả thân vì nghĩa lớn”. Những giai đoạn ổn định lại đòi hỏi một cách nghĩ khác. Sàng lọc tinh hoa là nhu cầu đặt ra với cả nước. Và sự thực là Hà Nội đã lớn lên theo hướng đó. Thủ đô như tự hiểu mình sinh ra để làm cho được việc đó. Nói như Nguyễn Tuân: “Cũng là một điều đúng vậy, khi mọi người bảo rằng thủ đô là cái nơi kết tinh mọi phong vị nhân tài của một dân tộc đời này qua đời khác. Cho nên những con người thủ đô bao giờ cũng bén nhạy sắc cạnh hơn những người khác với tất cả những ưu điểm và nhược điểm của nó, với tất cả cái trí, cái dũng, cái tài, cái tật của nó”. Cũng ý ấy, một thi sĩ thời chống Mỹ như Bằng Việt đã viết hai câu thơ cô đọng: Mỗi hạt cát hạt vàng lịch sử Hà Nội kiên tâm gạn lọc công bằng Vào những ngày, những suy nghĩ ấy lại đến với anh với tôi với tất cả chúng ta. Như một thói quen tự nhiên, với thủ đô người ta thường chỉ nói tới tình yêu. Hà Nội mà chúng ta yêu, một cách nói như thế sẵn sàng được mọi người chia sẻ. Nhưng hôm nay chỉ như thế là không đủ. Đằng sau hai chữ tình yêu, tôi muốn nói tới nhu cầu của chúng ta phải nghĩ về thủ đô, quan tâm tới thủ đô, thấy nó quan hệ tới cuộc đời của mình. Nghĩ về thủ đô là nhu cầu mà cũng là quyền lợi của mỗi công dân của một đất nước đã trưởng thành. Cái suy nghĩ thấm đậm tình yêu này không chỉ đau đáu trong lòng những người dân Hà Nội nhiều đời hoặc tối thiểu là từ đầu thế kỷ XX. Trong đời sống hằng ngày, tôi còn bắt gặp nó nơi tâm trí bộ phận cư dân mới “nhập tịch”, dù đó là những gia đình bắt đầu cắm rễ ở thủ đô từ sau kháng chiến chống Pháp, hay những người mới lớn đến đây làm ăn từ sau chiến tranh, khi mở ra nền kinh tế thị trường. Mà sao lại chỉ nói tới cái tình yêu đậm chất suy nghĩ của những người coi thủ đô là nơi cư trú? Còn những người Hà Nội đang đi làm ăn lập nghiệp nơi khác và còn bao la những công dân của mọi miền đất nước? Cái ám ảnh lớn nhất của người dân một nước sau chiến tranh là trở lại với đời sống bình thường. Theo sự kiếm sống thường nhật kéo đi, chúng ta đâu đã nghĩ được nhiều. Chất nông dân bao đời bồi đắp trong mỗi người xui ta chỉ nghĩ về vùng quê nơi có mồ mả cha ông, cũng tức là nơi chôn rau cắt rốn. Nhưng một đất nước phát triển không phải chỉ là phép cộng của nhiều vùng quê “anh nào lo anh ấy”. Một đất nước cần có cái đầu tập trung những thông minh sáng láng nhìn thấu tương lai. Nay là lúc tư tưởng hội tụ cái hay, cái đẹp bốn phương mà Chiếu dời đô phát biểu càng trở nên có ý nghĩa. Với tất cả chúng ta, đó là một yêu cầu mà với thủ đô, đó là một thách thức. Cái nhu cầu tự nâng mình lên, gạn lọc lấy tinh hoa, kéo cả cộng đồng phát triển, cái nhu cầu ấy không phải chỉ riêng của người Hà Nội mà đang trở nên sâu nặng trong mỗi người dân nước Việt. Khi ta đòi hỏi có một thủ đô hội tụ tinh hoa cũng là lúc ta đang khơi nguồn cho những gì tốt đẹp tiềm ẩn trong mỗi chúng ta ngày một nẩy nở để đóng góp cho đất nước. phapluatonline

Đọc tiếp ...