25 thg 9, 2010

Dấu hiệu của mệt mỏi và thiếu khát vọng sáng tạo

 Từ bóng đá tới văn chương 

     Các nhà bình luận bóng đá thường dùng một cụm từ để, trong một số trường hợp giải thích sự thất bại của một đội bóng : các cầu thủ thiếu khát vọng chiến thắng.
      Thú thực là lúc đầu nghe họ nói thế, bản thân tôi cũng lạ và thấy một chút gì đó khó hiểu : chiến thắng, hay thành công, thành đạt, là cái đích của mọi hoạt động. Ngoài việc thỏa mãn nhu cầu tinh thần, nó còn liên quan trực tiếp đến công ăn việc làm, thu nhập, tiền thưởng.
       Người đời thường chỉ thiếu năng lực chứ mấy ai thiếu khát vọng ?
      Nhưng xem kĩ một số trận bóng, thì thấy đúng như vậy.
      Trên sân cầu thủ như người mất hồn lờ vờ, uể oải. Vẫn biết họ có mặt mà không hiểu họ làm gì trong chín mươi phút thi đấu. Hình như chưa đá đã tính rằng không có cách gì đá thắng. Thấy mình bất lực. Ngại va chạm. Khiếp nhược đến mức thấy bóng cũng không dám sút, người nọ đun đẩy người kia.
    Thậm chí đôi khi trước mắt chúng ta là một đội bóng cứ chạy loạn cả trên sân, song nhìn kĩ, chỉ là một sự liều lĩnh trong tuyệt vọng. Và người ta chỉ có cách bảo là ở họ đang thiếu hẳn khát vọng chiến thắng.

      Mượn chuyện bóng đá để bàn thêm những nghhề khác, hẳn có người cho là thô thiển. Song, ở đây, cái để chúng ta quan tâm tới hiện tượng là phần thực chất của nó. Bóng đá chẳng qua là một ví dụ, ta hiểu thêm về các hoạt động sáng tạo. Vậy thì, một căn bệnh thấy rõ ở bóng đá như trên đây vừa miêu tả có lẽ cũng có thể giúp cho việc bắt mạch chính xác hơn cái hiện trạng khó khăn đang ngự trị ở một số lĩnh vực sáng tạo khác trong đó có có văn chương.
         Trong xã hội hiện đại, như các nhà vật lí lí thuyết thường nói, không có gì là không thể xảy ra.

Hơi thở vô hình và chất kết dính
      Trong qúa trình hành nghề, một người viết văn thường thấy dậy lên trong lòng mình nhiều ao ước – chưa làm đã ao ước, càng làm càng ao ước thêm. Nếu biết làm việc một cách hợp lí, người ta sẽ cảm thấy những ao ước ấy không hẳn xa vời, mà gần gũi như với tay là chạm được đồng thời lại vẫn thiêng liêng đến mức nếu không đạt tới, thì xem ra đời mình chẳng còn chút ý nghĩa nào nữa.
      Và đó chính là khát vọng.
       Có cái khát vọng tự nhiên, khát vọng được trình bày, bộc lộ và trong chừng mực nào đó, đóng góp tiếng nói nhỏ bé của mình cho nhân quần xã hội.
       Có cái khát vọng hòa nhập, khát vọng muốn được thông cảm, được chia sẻ được làm dịu bớt những điều sôi nổi trong lòng.
        Trong quá trình viết, lại nảy sinh cái khát vọng muốn tìm tòi và tự hoàn thiện về mặt nghệ thuật, nói cho văn hoa là là khát vọng xây nên một tòa lâu đài bằng ngôn từ, chưa ai trông thấy bao giờ mà lại mĩ lệ đến mức những người khó tính nhất cũng phải trầm trồ khen ngợi !

        Dù nhiều bộ mặt như thế nhưng khát vọng vẫn chốt lại ở một điểm: nó không phải là ao ước viển vông mà bao giờ cũng là kết qủa một sự suy tính sâu xa. Nó nằm trong tầm tay của người hiểu biết công việc, và trở nên nguồn sức mạnh thúc đẩy người đó nỗ lực dẫn tới.
          Rồi ra, nó sẽ là cái hơi thở vô hình tồn tại bên trong sách đến mức mãi về sau, mỗi khi tiếp xúc với tác phẩm, người đọc vẫn cảm nghe được hơi thở của nó.
         Ngay cả khi người viết thiếu một chút may mắn trong lao động nghệ thuật, tác phẩm không trở nên hoàn thiện để rồi không có được số phận tốt đẹp như tác giả mong muốn, thì cái phần khát vọng mà người viết đã đặt vào nó vẫn tồn tại và luẩn quẩn sau các dòng chữ.
          Có thể nói một cách chắn không có ngoại lệ rằng khát vọng chính đáng bao giờ cũng tìm được cách biểu hiện tác phẩm.
        Ngược lại một khi các trang sách không đủ sức lôi cuốn người đọc, trước mặt họ chỉ thấy một khối rời rẽ, nhợt nhạt … thì có phần chắc là họ đang phải tiếp xúc với những ngòi bút thiểu năng, thiểu lực, không có lấy một chút tha thiết tối thiểu cần thiết cho một công trình sáng tạo.
        Điều này sẽ được minh hoạ rõ qua một số tác phẩm đang ra đời hôm nay. Câu chữ cẩu thả, mạch truyện chắp vá; lời thơ sáo mòn, người viết làm việc vội vã, hình như chỉ cốt viết cho xong …
        Bấy nhiêu căn bệnh đã được nói trên báo chí một phần, song so với những cái đã nêu, thì cái phần được giấu đi còn trầm trọng hơn gấp bội.
         Nếu được đi vào hậu trường của đời sống văn học, người ta đại khái còn được biết thêm rằng nay là lúc sinh hoạt chuyên môn trong những người cùng giới khá lểnh loảng, nhà văn thường chỉ lo viết hơn là lo làm việc đều đặn để tích luỹ chuẩn bị cho sự viết ; hơn thế nữa, có ngồi vào bàn cũng lo viết ù một cái cho thật nhanh, vì bao nhiêu thời gian và tâm huyết còn dành cho việc xoay xoả cốt bán tác phẩm với giá cao nhất.
          Đã có nhiều ý kiến khác nhau được nêu lên nhằm biện hộ và lí giải hiện tượng này, song, nếu muốn quy về tận gốc, có lẽ phải nói tới con người nhà văn với những khát vọng đang mất dần ở họ.

   Đất bạc mầu -- bình ắc quy, lâu không “ sạc “
     Tại sao anh lại thờ ơ với những ý tưởng nảy sinh trong tác phẩm của anh, đấy là điều tôi không hiểu nổi!”
           Trên đây là một nhận xét mà nhà văn Nga K. Paustovski viết bên lề tập bản thảo của học sinh trường viết văn Gorki.
     Sự thờ ơ mà cụ Pau nói ở đây, không khác gì, chính là một sự thiếu khát vọng chúng ta đang bàn. Thờ ơ với những ý tưởng nảy sinh, thờ ơ với từng quyển sách, thờ ơ với cả nghề văn v.v… những thang bậc khác nhau đó là trên cùng một hướng vận động.
       Và chúng tôi cũng nghĩ như tác giả Bông hồng vàng - sự thờ ơ ấy, là một cái gì lạ lùng, hiếm khi thấy ở một người làm nghề sáng tạo trước kia, và có lẽ, chỉ đặt vào hoàn cảnh xã hội hiện đại, người ta mới nhận rằng nó đã xuất hiện.
       Tạm làm một sự so sánh: theo cách nhìn thông thường thì đất là một thực thể vô tận và bền vững, ổn định, có bỏ công ra cấy trồng là có thu hoạch. Nhưng theo các nhà nghiên cứu nông nghiệp, nay là lúc đất có thể trở nên thoái hoá, bởi đã bị khai thác quá công suất, hoặc bởi sự lạm dụng các loại phân hoá học.
       Cũng tương tự như vậy,  một người viết văn sẽ trở nên trơ lì, thờ ơ, thiếu khát vọng khi giải quyết không tốt mối quan hệ với hoàn cảnh.
       Nhìn một cách bao quát, có thể bảo chưa bao giờ sự sáng tác văn chương lại được xã hội hoá cao độ như hiện nay. Sự bình thản trong nếp sống nếp nghĩ thời xưa chỉ còn là chuyện trong kí ức.
         Sang thời hiện đại, sáng tác đồng nghĩa với gấp gáp vội vàng, hôm qua nhân danh phục vụ,  hôm nay thì để thoả mãn cái tính hiếu thắng không chịu thua kém ai trong kinh tế thị trường.
           Người ta vẫn hay nói và thực sự vẫn nhớ như chôn vào ruột về những tác động to lớn mà văn học có thể mang lại cho cuộc sống.
          Nhưng cái tác động này cần dựa trên một chất lượng ra sao – chuyện ấy đang bị tha nổi.
           Luôn luôn chỉ có một thứ cần nghĩ tới là sự có mặt. Mà đã như vậy, thì chuyện xồ bồ viết lấy được là khó tránh khỏi.
           Có những nhà văn mải miết đến mức không còn học hỏi tiếp nhận thêm, đại khái giông như cái bình ắc quy, chỉ lo phát điện mà không “ sạc - giê ”, thành thử cằn cỗi lúc nào không biết.
          Lại nữa, tuy nỗ lực chủ quan, nhưng việc duy trì khát vọng lại phụ thuộc vào mối quan hệ giữa nhà văn với môi trường, với dư luận.
        Một người không thể cứ viết một cách đầy tâm huyết và có sự chuẩn bị kĩ lưỡng cho sáng tác khi những nỗ lực chính đáng của anh ta không được xã hội đánh giá đúng. Và chắc chắn anh ta sẽ sớm nản lòng khi nhìn ra chung quanh thấy những đồng nghiệp khôn vặt, láu cá lại tọa hưởng vinh hoa phú quý.
         Nói như cách nói của các nhà xã hội học, bấy giờ cá nhân sẽ rơi vào tình trạng cô độc, cảm thấy mọi chuyện phi quy tắc, phi chuẩn mực và thực sự là tuy vẫn nói ra miệng đầy đủ chuyện không ngoan đúng mực, nhưng trong thâm tâm anh ta đã không còn tin ở chính mình. Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn có từng diễn tả rất hay cái thực trạng tinh thần kiểu đó trong mình : “ Bỗng dưng tôi mất hẳn lòng say mê được trình bày những điều mới lạ trong sáng tạo. Chẳng hiểu bắt nguồn từ đâu, chỉ cảm thấy một sự mơ hồ trục trặc, một cái gì đó lệch đi trong đời sống tinh thần của mình. Nói chung, hình như tôi không còn bị cám dỗ bởi những giấc mơ nữa ”. ( Dần theo Anh Ngọc Từ thơ đến thơ ).
 
Niềm tin vu vơ , niềm tin mù quáng
     Những trường hợp Trịnh Công Sơn nói ở đây còn là bệnh nhẹ, ở một số nhà viết văn hôm nay, quá trình này kéo dài và đã thở nên nặng nề hơn. Và bệnh càng nặng thì các đương sự càng cảm thấy mình bình thường, cách làm ăn của mình là có lí, không còn muốn nghe ai phải trái bàn bạc gì nữa.

         Sau khi bảo rằng đời sống văn chương gần đây chỉ có nền không có đỉnh, loanh quanh ở mức làng nhàng, một nhà văn đã nêu ra lí do để biện hộ : là trong lịch sử, vẫn có những thời điểm như thế : Chẳng những ở ta, mà ngay ở bên Tây, bên Tàu cũng có khi dăm bảy năm liền chẳng lẩy ra được tác phẩm nào đáng kể. vậy cứ bình tĩnh không nên sốt ruột.
           Đây phải chăng cũng là một gợi ý để chúng ta yên tâm chịu đựng sự thiếu khát vọng ở một số cây bút hiện thời ?
         Ví dụ nếu ai có dịp đọc lại thời kỳ 1932 – 1945 sẽ thấy mấy năm từ sau 1940, nhiều người sáng tác cũng tự nhiên cảm thấy khốn quẫn, mệt mỏi hẳn. Nhà thơ Thâm Tâm từng có bài Vọng nhân hành trong đó nói tới hai dạng nhà văn bất lực lúc bây giờ: Một bên là Thằng bó văn chương ôm gối hận, còn bên kia Thằng thí cho nhàm sức võ sinh.
         Cái tài của Thâm Tâm là ông biết chỉ ra rằng bên cạnh sự cằn cỗi bế tắc,  thì nhiều khi thì chính do thiếu khát vọng mà con người cứ làm lung tung cả lên, cốt giải tỏa cái sức sẵn có và đỡ trống trải trong lòng.
         Tuy nhiên cũng cũng phải nói thêm là lịch sử không bao lặp lại hoàn toàn, ở hai thời điểm khác nhau.
         Xưa nhiều người viết khi gặp bế tắc, thường trốn vào im lặng, bẻ bút mà thề là không dính dáng gì đến văn chương chữ nghĩa nữa. Nay có hiện tượng nhiều người không viết được gì nhưng lòng vẫn nặng, không chịu rút lui, ngược lại, chằng bám lấy danh hiệu nhà văn để hưởng chút ưu đãi của xã hội. Hoặc xưa cũng có hiện tượng viết liều viết ẩu, nhưng những người có sống qua thời ấy cho biết thật chưa bao giờ sự làm sách làm báo hỗn loạn như bây giờ.
          Đáng chú ý là trong khi mải miết một cách vụ lợi, một số người loại này lại có hy vọng rất vu vơ tin rằng cứ làm đại đi không biết chừng có lúc vớ được những chú cá lớn. Nói cách khác, họ thích tin vào những phép màu, nó khiến cho người ta có thể có được những kiệt tác để đời mà không cần tốn sức lực. Mà những ao ước vu vơ ( kể cả lòng tin vào những phép màu đột nhiên xuất hiện ) thì khác xa với những khát vọng lớn lao cũng y như các tay chơi nghiệp dư khác hẳn với những cây bút làm nghề có trình độ và có bản lĩnh.

Đã in trong Buồn vui đời viết , 1999