20 thg 12, 2010

Ghi chép hàng ngày ( 15)

28-11
TÌNH CẢNH HẬU CHIẾN
Có một việc tôi đang muốn dành thời gian để làm—đọc lại sử mình những năm sau chiến tranh.
Ví dụ sau khi đánh xong quân Nguyên, nhà Trần ra sao?
Sách vở hiện đại ghi về chuyện này hơi ít. Cụ thể là trong các sử gia hiện thời, chỉ có Đào Duy Anh làm, và tôi chỉ mới đọc có ông chứ chưa có dịp đi vào mấy bộ sử cổ, song đã thấy cả một đề tài chưa ai khai phá.

Đọc tiếp ...

18 thg 12, 2010

Ta chịu trách nhiệm về bản thân ta

Người ta sẽ tìm thấy nghị lực lớn lao khi sống với cả lịch sử và cả thế giới… cái điều tưởng như quá to tát ấy thật ra lại quá thiết thực, nên cũng là điều ta cần tự nhủ.

Ngày Đại hội sinh viên toàn quốc kết thúc (17.2.2009) cả trong các báo cáo chính thức lẫn trong những lời bàn bạc trao đổi bên ngoài, tôi đọc được một khía cạnh mới trong ứng xử của xã hội với giới trẻ.

Đọc tiếp ...

16 thg 12, 2010

Manh mún rời rạc, kém cỏi trong kết dính, hòa nhập

Đồng bằng sông Hồng, như P.Gourou nói, là một trong những vùng đất có mật độ dân số cao nhất thế giới.
Nhưng nét đặc biệt của cư dân nơi đây là sống rời rạc. Cũng có những làng có tới ngàn dân, nhưng tuyệt đại đa số là các làng nhỏ. Theo Vũ Quốc Thúc, trước 1945, ở Thái Bình có hai làng chỉ có 13 -24 cư dân ; ở Ninh Bình, có những làng không quá 10 dân. Diệp Đình Hoa còn cho biết từ đầu thế kỷ XX vẫn còn không ít làng chỉ có một xuất đinh tức là một người đàn ông ( Người Việt vùng đồng bằng bắc bộ, nxb Khoa học xã hội, H.2000 )

Đọc tiếp ...

10 thg 12, 2010

Những lời rao hàng sáng giá

(Nghệ thuật quảng cáo sách xưa và nay)
Với tất cả cái thân tình và sự sắc sảo phải có, một khách nước ngoài đã vui vẻ nhận xét về một số khách sạn ở ta: “Bây giờ những người ở đây rất muốn làm vừa lòng khách. Có điều, làm thế nào để khách vừa lòng thì họ không biết". Nhưng đấy không phải là cái trớ trêu độc quyền của ngành du lịch. Phải nói là tình trạng trớ trêu ấy ngự trị trong cả loạt khu vực hoạt động khác. Nhiều việc ta đã từng làm, song có một dạo coi là việc không đáng làm nên bỏ hẳn. Nay tính chuyện làm lại, nhưng hình như đã quên hết cả cách làm. Cứ lúng túng như thợ vụng mất kim, không sao xoay sở nổi để làm… cho coi được một chút.

Đọc tiếp ...

4 thg 12, 2010

Thích ứng để tồn tại.

Thử góp phần cắt nghĩa
sự xuống cấp văn hóa và đạo đức trong xã hội ngày nay

GIÁ CẢ LEO THANG SẼ LÀM CHÚNG TA HƯ HỎNG RA SAO?
Đã lâu lắm rồi hôm ấy, Dần, nhân vật chính trong truyện ngắn Một đám cưới (Nam Cao viết năm 1944) mới có cái quyền đi chợ. Chẳng qua là nhân ngày cưới của cô. Ông bố dặn mua lấy hai xu chè. Cô gái trả lời hai xu bây giờ ai bán. Và cô thẽ thọt nói thêm:

Đọc tiếp ...

29 thg 11, 2010

Nên hiểu thế nào về tiếng cười Thượng Đế

 Còn gì khổ hơn trong những cuộc trò chuyện tiếp xúc hàng ngày chúng ta luôn gặp phải những bộ mặt đưa đám. Ngược lại thật dễ chịu khi được sống bên cạnh những người vui vẻ. Thế nhưng chung quanh tiếng cười cũng có thể có dăm bảy cách hiểu...

Đọc tiếp ...

18 thg 11, 2010

Hồn thơ siêu thoát

Hàn Mặc Tử trong sự so sánh với
các thi sĩ đương thời Xuân Diệu,
Huy Cận, Chế Lan Viên và Nguyễn Bính


Những năm gần đây, báo chí đã đăng tải nhiều bài phê bình – nghiên cứu có giá trị về thơ Hàn Mặc Tử. Ở đây chúng tôi chỉ nói thêm về cái độc đáo của nhà thơ này.

Đọc tiếp ...

17 thg 11, 2010

Vẻ đẹp kỳ dị


Hàn Mặc Tử trong những liên hệ với nghệ thuật hiện đại
Trong bài thơ Thương ngô trúc chi ca số XIII, Nguyễn Du từng tả cây liễu “Tối điên cuồng xứ tối phong lưu” (dịch nôm: lúc càng điên càng đẹp, khiến người ta say mê).
Chỗ xứng đáng để đặt câu mang tinh thần hiện đại ấy có lẽ là một phòng tranh nào đó của các họa sĩ lớn thế kỷ XX.

Đọc tiếp ...

16 thg 11, 2010

Ghi chép hàng ngày ( 14)

25-10
MỘT LÝ DO KHIẾN GIAO THÔNG HỖN LOẠN

Ở Hà Nội trước năm 1954 và tính rộng ra từ 1975 về trước, đời sống khá bình lặng, phương tiện cơ giới như ô tô rất ít, mọi người có ý để đi cho đúng nền nếp.
Tuy không thành luật, nhưng có một điều, loại học sinh mới lớn như tôi bao giờ cũng được giáo dục để chôn chặt vào đầu:

Đọc tiếp ...

9 thg 11, 2010

Ở đâu cũng gặp tinh thần tự trào...

Những người Nga kỳ cục                                  

  Đầu thiên niên kỷ hai mươi mốt, một nhà xuất bản ở Anh cho in một xê-ri có tính cách đi vào tìm hiểu đặc tính các dân tộc, mà trước tiên là miêu tả những khuôn mẫu đã định hình trong lịch sử về dân tộc đó. Tủ sách mang cái tên khá khiêu khích Xenophobe`s  Guide  to... tạm dịch là Sách hướng dẫn cho những kẻ bài bác người nước ngoài   ( Anh, Pháp, Đức...). Để  các trang sách có thể được viết bằng giọng  khách quan, pha chút hài hước  mang cái nhìn tự chỉ trích từ bên trong, NXB đặt ra yêu cầu người nước nào tự viết về người nước ấy. Mùa hè 2001, cuốn Sách hướng dẫn cho những kẻ bài bác người Nga đã được in ra ở London và một NXB ở Moskva đã lập tức cho dịch cuốn sách này ra tiếng Nga. Dưới đây là mấy đoạn trích dịch ngắn từ báo Nga Vremya.

Đọc tiếp ...

7 thg 11, 2010

Thu hẹp những cấm kỵ trong tự nhận thức

   Công bằng mà nói, phải nhận biếng nhác, dối trá, tham lợi, cầu an, nịnh nọt, trơ tráo, rồi cái gì cũng cười, cái gì cũng cho là không quan trọng...là những thứ tính chung của loài người, nhìn vào dân nước nào cũng thấy.Mà cuốn sách tôi nói đây  lại chỉ là một cuốn sách mang tính cách phổ thông, có lẽ là đã đăng tải  làm nhiều kỳ trên một tờ  báo nào đó bằng Trung văn trước khi in sách.

Đọc tiếp ...

6 thg 11, 2010

Tìm nghĩa khái niệm hiện đại

Những cách hiểu khác nhau trong những hoàn cảnh khác nhau
Hàng ngày chúng ta vẫn thường nghe nói đến hai tiếng hiện đại.  Trên báo chí thời sự, trong các văn kiện chính trị cụm từ “quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá” hoặc “sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá” thường được nhắc lại với một nội dung xác định.  Hiện đại ở đây được hiểu là trình độ của những nước tiên tiến trên thế giới, và hiện đại hoá là đưa sự phát triển của xã hội ta lên một bước làm cho chúng ta không thua kém những nước đó.

Đọc tiếp ...

30 thg 10, 2010

Ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa trong sự hình thành tiểu thuyết Việt Nam trước 1930

 Thời trung đại, văn học Việt Nam chưa có tiểu thuyết; sự hình thành tiểu thuyết theo nghĩa đúng đắn của khái niệm ấy chủ yếu diễn ra trong thế kỷ XX với những ảnh hưởng rõ rệt của văn hóa phương Tây, tiểu thuyết phương Tây. -- Đấy là nhận thức thường thấy ở nhiều người. Muốn rõ thêm người ta còn nói rằng ảnh hưởng mới mẻ này là khía cạnh làm nên sự khác biệt giữa văn học Việt Nam thời trung đại và thời hiện đại.

Đọc tiếp ...

27 thg 10, 2010

Ghi chép hàng ngày ( 13)

11-10
NHỮNG SẮC THÁI KHÁC NHAU CỦA CÁI ĐẸP

Một trong những câu nói về Hà Nội hay nhất độc đáo nhất trong dịp Ngàn năm Thăng Long thuộc về nhà văn Nguyên Ngọc. Ông bảo: Hà Nội của ta đẹp thật, đẹp khủng khiếp, đẹp đến mức người ta đã phá nó ghê gớm, phá nó riết ráo thế mà nó vẫn còn đẹp như vậy.

Đọc tiếp ...

15 thg 10, 2010

Để hiểu thêm TỐ HỮU

Trước mắt tôi là sưu tập Văn Nghệ số 40 ra 3-1953. Lúc này cơ quan Hội văn nghệ đang đóng ở rừng Việt Bắc. Nhân cái chết của Stalin, tạp chí của Hội ra một số đặc biệt, không chỉ Tố Hữu mà nhiều tác giả khác có bài liên quan tới sự kiện này.

Đọc tiếp ...

12 thg 10, 2010

Ghi chép hàng ngày (12 )

1-10

Một tờ báo nước ngoài nói VN chi trả cho giáo dục nhiều hơn các nước láng giềng.
Đã tính đóng góp của dân chưa? Nếu tính cho đủ, thì người ta kết luận ra sao?
Tôi hay nói với các gia đình quen, cố mà cho con đi du học.
Đi thế, đắt lại hóa rẻ.

Đọc tiếp ...

4 thg 10, 2010

Ghi chép hàng ngày(11)

 5-9
 XIN XỎ HAY LÀ SỰ TỘT CÙNG CỦA TRƠ TRÁO
Sao mà đi đâu cũng gặp những cảnh xin xỏ! Đến ông xe ôm chở tôi từ chợ về nữa, đã mặc cả là từng này tiền rồi, lúc tới nhà còn nài bác cho thêm, hình như ông ta nghĩ không được cũng chẳng mất gì, mà nhỡ được thì …hóa ra nước bọt làm ra tiền.

Đọc tiếp ...

1 thg 10, 2010

Đọc "Chiếu dời đô" bằng đôi mắt hiện tại

So với Bình Ngô đại cáo thì Chiếu dời đô thường chỉ được chúng ta quan tâm ở một mức khiêm tốn, sự phân tích văn bản cũng sơ sài. Điều này có thể giải thích là do cảm hứng chính chi phối xã hội Việt Nam từ sau 1945 đến nay là cảm hứng chiến thắng mà Bình Ngô đại cáo diễn tả rất hoàn hảo. Thói quen tìm thấy mình trong lịch sử và hơn thế thích diễn tả mình bằng ngôn ngữ lịch sử đã xui con người hiện đại đồng lòng làm việc đó.

Đọc tiếp ...

30 thg 9, 2010

Một thứ tự do hoang dại

(TBKTSG) - Lần đầu lên Đà Lạt, tôi được nghe kể là người Pháp trước kia đề ra những quy chế rất gắt gao cho việc xây dựng các biệt thự ở đây. Ví dụ, phải có diện tích đất bao nhiêu mới được làm nhà; còn về kiểu cách, trong khi bắt buộc mỗi nhà phải khác các nhà chung quanh (để tạo cảm giác độc đáo), thì anh lại vẫn phải kết hợp với cảnh quan sẵn có một cách nhịp nhàng. Nhìn Đà Lạt hồi trước, ai cũng thấy là không chỉ có nhiều nhà đẹp mà thú vị hơn là cả một thành phố đẹp.

Đọc tiếp ...

25 thg 9, 2010

Dấu hiệu của mệt mỏi và thiếu khát vọng sáng tạo

 Từ bóng đá tới văn chương 

     Các nhà bình luận bóng đá thường dùng một cụm từ để, trong một số trường hợp giải thích sự thất bại của một đội bóng : các cầu thủ thiếu khát vọng chiến thắng.
      Thú thực là lúc đầu nghe họ nói thế, bản thân tôi cũng lạ và thấy một chút gì đó khó hiểu : chiến thắng, hay thành công, thành đạt, là cái đích của mọi hoạt động. Ngoài việc thỏa mãn nhu cầu tinh thần, nó còn liên quan trực tiếp đến công ăn việc làm, thu nhập, tiền thưởng.
       Người đời thường chỉ thiếu năng lực chứ mấy ai thiếu khát vọng ?

Đọc tiếp ...

20 thg 9, 2010

Tạo dựng nền tảng văn hóa pháp luật

“Trên trời có một Phạm Tuân, dưới đất có muôn ngàn người phạm pháp”. Câu nói đó tôi đã được nghe người nói từ khoảng những năm 1980.
Chợt nhớ tới nó vì vào những ngày này, một câu nói tương tự đang được lưu truyền: “Ngày xưa ra ngõ gặp anh hùng, còn ngày nay ra ngõ gặp người phạm pháp”.

Đọc tiếp ...

18 thg 9, 2010

'Người Hà Nội thứ thiệt không nói thế'

Hà Nội
Nhà phê bình cho rằng người Hà Nội thực sự 
không cần thiết phải 'tự khoe' về bản thân


Hai chữ Tràng An (có lúc đọc Trường Yên) thời Đinh Tiên Hoàng, theo chú thích ở sách Đại Việt sử ký toàn thư, vốn là tên một xã, và cũng nhiều khi được dùng để chỉ cả vùng thủ phủ Hoa Lư. Nhưng nó đã vĩnh viễn thuộc về Thăng Long Hà Nội nhờ câu ca dao:
"Chẳng thơm cũng thể hoa nhài,
"Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An."

Đọc tiếp ...

14 thg 9, 2010

Nhật ký văn hóa 2009

10-1
Gặp ông Phạm Duy Hiển. Chúng tôi cùng chia sẻ cảm tưởng xã hội đang thiếu những trí thức có tầm nghĩ bao quát các vấn đề của dân tộc. Không có ai đang nghĩ về VN như một tổng thể.
Mà nay là lúc xã hội cần không chỉ một vài người mà nhiều người, cả một đội ngũ,-- như cách nói quân sự đã thấm sâu vào ngôn ngữ đời thường!

Đầu tháng 12, có một hội thảo về hội nhập. Với nhiều nhà văn hội nhập chỉ đáng mong ước – và trước tiên là được phép vận hành -- với nghĩa phải đưa tác phẩm của họ ra với thế giới.

Đọc tiếp ...

8 thg 9, 2010

Một cách trân trọng con người

Tiền thưởng quan trọng thế nào? Thật bất ngờ, trong một xã hội mà phân công lao động còn đơn giản, các giá trị thường trôi nổi và không được đánh giá chính xác, mà ông cha ta có một câu tổng kết rất hay: Một quan tiền công không bằng một đồng tiền thưởng.

Đọc tiếp ...

3 thg 9, 2010

Ghi chép hàng ngày (10)

16-8
PHÓ NGHIỆP DƯ
Những ngày Hà Nội chỉnh trang đường xá. Đám thợ làm đường thường đổ nguyên vật liệu tung toé. Kỹ thuật thì cổ lỗ, đập dập bóp bẹp cho xong. Rất nhiều đoạn có lẽ do xi măng hay nhựa trộn không kỹ, vừa xong đường trông đã vênh váo, chưa mưa đã đọng nước …

Đọc tiếp ...

1 thg 9, 2010

Giới thiệu tạp chí NGHIÊN CỨU HUẾ

Nhân tập mới nhất,tập7, phát hành 7/2010

 NGHIÊN CỨU HUẾ, món quà tặng bất ngờ
Bài viết năm 2002 trên TT& VH

Thành phố của sông Hương núi ngự trên đường tự tìm lại chính mình qua các công trình nghiên cứu đáng gọi là có chất lượng khoa học
Nghiên cứu tìm hiểu quê hương đang là công việc được khởi động một cách hào hứng ở nhiều địa phương. Tuy nhiên cũng phải nói ngay là các bài báo và cuốn sách loại này thường có phần xốp nhẹ. Chúng được biên soạn một cách vội vã và theo một cách thức đơn giản.

Đọc tiếp ...

27 thg 8, 2010

Chiều nịnh nhau và chiều nịnh chính mình

(minh họa: Khều)
(TBKTSG)

- Trẻ đang học tiểu học thôi cũng đã giỏi bắt bài nhau lắm rồi. Một lần tôi nghe hai anh em nhà nọ cùng khoe với mẹ rằng học bạ của mình toàn điểm tốt. Nhưng thằng anh nói ngay về thằng em: - Điểm của cô nó quá rẻ, không tin được đâu, mẹ ạ.

Đọc tiếp ...

25 thg 8, 2010

Những mảng trắng của lịch sử

Thấy cần đọc Lịch sử triều Mạc của Đinh Khắc Thuần (NXB Khoa học xã hội, Hà Nội 2001) vì hai lý do:
Một, nó là luận văn tiến sĩ ở Pháp, chứ không phải được công nhận trong nước; và hai, nghe nói nó rất ca ngợi nhà Mạc chứ không phải lên án như phần lớn sách giáo khoa về lịch sử từ thời tôi học cấp hai 40 năm trước cho tới hôm nay.

Đọc tiếp ...

23 thg 8, 2010

'Cảm ơn Pháp về Ngô Bảo Châu'

Ngô Bảo Châu được tặng giải Fields, một thứ giải Nobel trong toán học khiến cả xã hội hào hứng ca ngợi trí tuệ Việt nam, thiên tài Việt Nam.
Nhưng tôi tưởng lúc này chúng ta nên có lời cảm ơn nước Pháp, nền văn hóa Pháp, nền khoa học Pháp.

Đọc tiếp ...

20 thg 8, 2010

Nước tôi dân tôi (cuối 2009 đầu 2010)

2-10
TT&VH có bài nói rằng người Việt ít tính sáng tạo. Rồi thả nào cũng có người cãi lại đây. Cãi rằng không sáng tạo sao có đất nước này.
Tôi nghĩ phải hiểu thế nào là sáng tạo cho đúng, cái chính là người mình cũng hay sáng tạo lắm chỉ có điều là những sáng tạo vặt, chứ ta lại theo lối mòn trên cái lớn.

Đọc tiếp ...

15 thg 8, 2010

Cạn nghĩ,ngắn hơi,dễ thỏa mãn

Không chỉ tinh tế khi tả thức ăn mà trong Hà Nội băm sáu phố phường (in trên Ngày nay từ 1940 ), Thạch Lam còn khéo ghi nhận cái thói quen dễ dãi cẩu thả của người mình trong cách làm thức ăn. Như trong câu chuyện về mấy bát mằn thắn.

Đọc tiếp ...

11 thg 8, 2010

Ghi chép hàng ngày (9)

28-7
BỆNH VÔ CẢM NHƯ MỘT SẢN PHẨM CỦA CHIẾN TRANH
 Trong khi vây thành Đông Quan, theo Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim, Lê Lợi không quên đặt pháp luật để trị quân dân.
Mười điều kỷ luật được đặt ra để răn dạy cho tướng sĩ. Ngoài những điều như phải tiến thoái theo hiệu lệnh, giữ vững hàng ngũ, có thêm ba điều cấm sau đây.

Đọc tiếp ...

5 thg 8, 2010

Một cách tồn tại ngược chiều gió thổi

LTS: Vương Trí Nhàn là một cây bút phê bình gây nhiều tranh luận. Trong văn giới, hình như nhiều người không có tình cảm với ông. Và, ở tuổi 68, ông cũng yên tâm với cuộc sống đơn độc, chúi vào góc riêng của mình, làm nốt những việc vốn làm dở dang. Ông không dùng điện thoại di động vì, "tự cảm thấy đã ở vào tình trạng không việc gì gấp gáp đến mức phải có mặt năm phút ngay sau một cuộc gọi". Gặp gỡ & Đối thoại thứ Năm tuần này, Tuần Việt Nam xin giới thiệu cuộc trò chuyện giữa ông và DNSGCT.

Đọc tiếp ...

Nguyễn Đình Nghi (3)

TIẾP TỤC CÂU CHUYỆN VĂN NGHỆ KHÁNG CHIẾN

Năm 1947, tình hình gay go lắm. Pháp nhảy dù Việt Bắc, quây một mẻ, tí nữa bắt được Trung ương của mình. Và cụ Nguyễn Văn Tố bị bắt. Thời ấy, Nguyễn Huy Tưởng hoang mang cực độ. Tôi còn nhớ những phát biểu của ông ấy cơ mà.
Thế rồi về sau ta lại gượng dậy được, lại đánh cho đến Điện Biên.

Đọc tiếp ...

4 thg 8, 2010

Nguyễn Đình Nghi (2)

VÀI CHUYỆN THỜI SỰ VĂN NGHỆ
NHỮNG NĂM TRƯỚC 1986

Về Nguyễn Khải
Tôi đọc lời giới thiệu anh ( V.T.N.) viết cho Tuyển tập Nguyễn Khải lần đầu thấy có vẻ hơi nghiệt. Nhưng lần này, đọc có kèm thêm cả tác phẩm của anh Khải, lại thấy nói như thế là vừa. Anh nên đi sâu thêm vào trường hợp này.

Đọc tiếp ...

1 thg 8, 2010

Nguyễn Đình Nghi(1)

Nguyễn Đình Nghi , một ít tâm tình trí thức
Nhà đạo diễn này không chỉ là một con người của sân khấu mà còn là con người của tri thức nghệ thuật tổng hợp, người của văn hoá. Những ai có dịp trò chuyện với N-Đ-N hẳn không thể quên được một phong cách làm nghề nghiêm túc mà đầy chất trí tuệ ở ông.Trong khi chỉnh lý lại một ít ghi chép từ những điều đã được ông chia sẻ trong những năm cuối đời, chúng tôi luôn có cảm tưởng được sống lại với một  thời đại trong văn nghệ, thời của những thành quả chín đẹp một đi không trở lại. Ngày nay chúng ta đang sống trong một đời sống văn nghệ khác hẳn, với những con người khác hẳn. Nhưng chính vì như thế mà chúng tôi muốn chia sẻ với bạn đọc và các  đồng nghiệp những ghi chép dưới đây


Đọc tiếp ...

27 thg 7, 2010

Ghi chép hàng ngày (8)

20-7
ĐỂ LẠI GÌ CHO CON CHÁU?

Mua cuốn Tìm hiểu môi trường của hai tác giả Mỹ Eldon D. Enger – Bradley F. Smith. Ghi được cái ý, từ khoảng những năm 1910-1920, tổng thống Mỹ Teddy Roosevelt đã tuyên bố là ngoại trừ việc bảo vệ đất nước trong thời chiến thì không gì bằng để lại đất đai cho con cháu ta, thậm chí phải là phần đất tốt hơn dành cho chúng ta .

Đọc tiếp ...

21 thg 7, 2010

Ghi chép hàng ngày (7)

14-7
HAI XU BÚN RIÊU…HAY LÀ SỰ KHỐN CÙNG CỦA NẠN ĐẠO VĂN HIỆN NAY

Nguyễn Công Hoan từng có truyện ngắn Thằng ăn cắp viết năm 1932. Nỗi khốn khổ của kẻ cùng đường. Sự trơ tráo của kẻ phạm tội. Cái gọi là tình trạng nhân thế hiện ra trong truyện này cũng như trong Nguyễn Công Hoan nói chung cực kỳ nhếch nhác. Mọi chi tiết trong truyện đều khá thú vị. Nhưng tôi còn thấy truyện hay ở hai khía cạnh vặt khác.

Đọc tiếp ...

15 thg 7, 2010

Cái đúng hôm qua nay không đúng nữa!

(TBKTSG) - Ông Tú, nhân vật chính trong truyện ngắn Một thời gió bụi (1991), của Nguyễn Khải là một cán bộ vốn sống ở thành phố, khi nhận sổ hưu, liền có ý định về sống hẳn ở quê. Song chỉ về quê thăm thú ít ngày, ông đã phải bật ra, quay trở lại với vợ con ở thành phố, làm chân phụ việc bán hàng cho vợ.

Đọc tiếp ...

14 thg 7, 2010

Ghi chép hàng ngày (6)

6-7
NÓI THÊM VỀ NGUYỄN TUÂN
Nhân 100 năm ngày sinh Nguyễn Tuân ghi thêm mấy ý
Nên chú ý đến một bài thơ Đường , Ng Tuân đặt ở đầu cuốn Chiếc lư đồng mắt cua

Đọc tiếp ...

7 thg 7, 2010

NGUYỄN TUÂN.

NGUYỄN TUÂN.
BA BÀI VIẾT NGẮN
& MỘT PHÁC THẢO CHÂN DUNG.

Nhân kỷ niệm một trăm năm ngày sinh Nguyễn Tuân ( 10-7-1910—10-7--2010), chúng tôi xin kính trình bạn đọc ba bài viết ngắn và một phác thảo chân dung nhà văn. Các bài viết khác về Nguyễn Tuân, đã in rải rác trong các tập sách và tập hợp lại trong thư mục Nguyễn Tuân ở trang bên.

Đọc tiếp ...

5 thg 7, 2010

Ghi chép hàng ngày (5)

21/6
LÀM NHÀ BÁO LÀ KHÓ
     Thời chống Mỹ đã có hiện tượng nhiều bạn trẻ có năng khiếu viết lách vào đời bằng cách xin về một tờ báo để lấy chỗ làm ăn đi lại. Làm báo để kiếm sống, và trước mắt để có chỗ đăng bài xuất hiện trước công chúng. Trong khi đó nỗ lực của họ dành để làm văn, họ cho đó mới là chỗ để thổ lộ tâm huyết của mình. Trước các đồng nghiệp, nhiều nhà báo chỉ kín đáo nói khẽ, báo chí là thứ ngày mai người ta quên ngay, mình chỉ viết trả nợ, còn hồn vía  để cả ở văn chương kia.

Đọc tiếp ...

29 thg 6, 2010

Hy vọng đã thành thói quen


{Thực trạng khủng hoảng của nền giáo dục khiến các bậc cha mẹ phải xoay trở bằng nhiều kiểu cách.}

Xếp hàng đã được biết tới như một cách sống điển hình của người Hà Nội những năm chiến tranh. Bắt nguồn từ sự thiếu thốn thường trực, cuộc sống “xếp hàng cả ngày” rút cục tạo cho con người ta một cảm giác vô vọng, hành động kỳ cục không sao hiểu nổi.

Đọc tiếp ...

26 thg 6, 2010

Ghi chép hàng ngày (4)

9-6
HIỆN TƯỢNG BÍ ẨN NHẤT
Một người nước ngoài kêu lên,ở những nước như Trung quốc, Việt Nam lớp trẻ, nhất là bộ phận tinh hoa, chỉ lo làm giầu, dễ chừng bảo họ làm gì họ cũng làm, miễn thỏa mãn nhu cầu của họ.

Đọc tiếp ...

22 thg 6, 2010

Nơi gặp gỡ của báo chí và văn học

Sự phát triển của thể phóng sự trong văn học nửa đầu thế kỷ XX
Mặc dù trong nền văn xuôi cổ điển Việt Nam, từ lâu người ta đã biết tới những cuốn sách “ghi chép sự thực” nổi tiếng (chẳng hạn Vũ trung tuỳ bút, Tang thương ngẫu lục, Thượng kinh ký sự…) song trên nét lớn phải đến thế kỷ XX, trong nền văn học Việt Nam hiện đại, thì các thể văn thuộc loại ký như bút ký, phóng sự, tuỳ bút, du ký…  mới trở nên những thể tài độc lập và có sự phát triển liên tục.

Đọc tiếp ...

21 thg 6, 2010

Báo chí -- nơi lưu giữ những thể nghiệm của văn học

Từ  những đoạn văn bị bỏ  quên của Xuân Diệu... 
Là một hồn thơ tinh tế, biết ghi lại từng chút phân vân thấp thoáng trong lòng người, song Xuân Diệu cũng là một người lao động miệt mài, cả đời lo "mài sắt nên kim". Có một nguyên tắc chi phối cách sống làm việc của Xuân Diệu, nhiều người quen ông đã được chứng kiến - ấy là: đã viết ra cái gì, ông đều mong thu góp nó lại để từ những bài báo nhỏ gom thành sách.

Đọc tiếp ...

17 thg 6, 2010

Những tù nhân của lợi ích trước mắt

Triều Nguyễn nổi tiếng với việc cấm đạo. Người ta cắt nghĩa đó là tại Nho học đã thấm quá sâu, khiến vua chúa sinh ra bảo thủ. Nhưng một người tôi quen bảo có gì đâu, tại các bà phi tần cả. Vua mà đi lễ nhà thờ thì phải theo chế độ một vợ một chồng, và tam cung lục viện không biết chừng giải tán hết(?!). Nên các bà vừa nghe phong phanh đã không thích đạo và bảo nhau nằn nì xin vua cấm đạo bằng được.

Đọc tiếp ...

12 thg 6, 2010

Năm ngày trên đất Đài Loan


(Nhật ký du lịch)
22-5
Chỉ có mười người, lại toàn người già, năm mươi, sáu mươi, người già nhất đã tám mươi ba - đó là tình trạng của đoàn đi Đài Loan chúng tôi lần này. Du lịch Đài Loan quá mới mẻ và chưa hấp dẫn? Có thể thế lắm.
Sau này hỏi thêm, tôi được biết trừ vợ chồng tôi, các thành viên trong đoàn đều đã đặt chân trên rất nhiều xứ sở, có người đã đi tới 20 nước.

Đọc tiếp ...

10 thg 6, 2010

Cùng tìm hiểu lại tiếng Việt

Làm cha làm mẹ thời nay hẳn ai cũng ngại ngùng khi con cái nhờ giảng cho một đôi điều thắc mắc từ sách tiếng Việt mà chúng đang học . Trong nhiều trường hợp chúng ta chỉ có cách quát bọn trẻ “ thì nó là thế chứ còn là gì nữa mà phải hỏi lắm hỏi nhiều “

Đọc tiếp ...

7 thg 6, 2010

Ghi chép hàng ngày(3 )

20-5
      Tự nhiên nhớ  một chi tiết trong Số Đỏ. Cô Tuyết thiếu nữ tân thời  muốn từ chối một đám nhà quê mà mình không thích, cô chỉ mong được liệt vào hạng hư hỏng để tự do hành động.

Đọc tiếp ...

2 thg 6, 2010

Ghi chép hàng ngày (2)

16-5
  Mua Nietzsche và triết học. Nguyễn Thị Từ Huy dịch, Bùi Văn Nam Sơn là người hiệu đính và viết giới thiệu.
   Đây là  một câu của Levi- Strauss, BVNS dẫn ra từ một cuộc phỏng vấn( tr. XI)

Đọc tiếp ...

29 thg 5, 2010

Con đường nghề nghiệp(3)

14/ Tác phẩm văn học nào gợi cho ông nhiều hứng thú nhất?

Cái gì hay tôi đều thích, số thích nhất rất nhiều thành thử với tôi không có cái nào là nhất nữa.Tôi tự thấy phần lớn những gì mà thiên hạ thích thì mình cũng thích, chỉ có điều phải cố để viết về tác phẩm đó một cách nào đó, như là một cách phát hiện mới về tác phẩm đó.

Đọc tiếp ...

28 thg 5, 2010

Con đường nghề nghiệp(2)

-->

8/ Những kiến thức ở đại học có giúp ông ít nhiều? Khi viết phê bình, ông có thường tham cứu lý luận văn học?
Việc học đại học là rất cần, nhưng chỉ là cơ sở. Tôi cho rằng người sinh viên sau khi ra trường phải học thêm nhiều, phải vượt lên, phải phủ định ( theo nghĩa triết học) những gì đã học. Nếu quan niệm có sự giúp của mấy năm đại học thì là giúp ở vai trò kích thích đó.

Đọc tiếp ...

22 thg 5, 2010

Con đường nghề nghiệp(1)

( Trả lời các câu hỏi của Lê Thị Thúy Hằng, về quan niệm “ thế nào là phê bình” và con đường của tôi trong phê bình văn học )
1/ Vì sao ông quan tâm đến văn chương?
Vì sao đến với văn chương? Thỉnh thoảng chính tôi cũng thử đặt ra cho mình câu hỏi này. Và câu trả lời được tôi tìm thấy trong cuộc đời lúc thơ ấu khá buồn bã của mình.
Mẹ tôi mất sớm, năm tôi mới bốn tuổi.
Cả thời thơ ấu tôi lớn lên trong đơn độc, bố tôi và mẹ kế chỉ lo kiếm ăn, người chị hơn tôi sáu tuổi cũng phải sớm chạy chợ để lo thêm sinh kế cho gia đình.

Đọc tiếp ...

21 thg 5, 2010

Góp thêm vào chuyện đạo văn

Sau đây là một bài viết của Thạch Lam in trên Ngày nay
Người đánh cắp văn

BÀN QUYỀN TÁC GIẢ
Cũng trên tờ báo này, tôi đã kể cho các bạn nghe câu chuyện may đã xảy đến cho tác giả bài Titine, mà Charlot đã hát trong phim Les temps Modernes.

Đọc tiếp ...

18 thg 5, 2010

Ghi chép hàng ngày

2-5  
Thêm mấy ý về cảm giác có lỗi ( đã gửi mục Trà dư tửu hậu TBKTSG). Càng ngày tôi càng ít bắt gặp người nhớ tới nó. Ví dụ như trưa hôm nay 2-5-10. Chương trình VTV 1 đưa tin ở vườn quốc gia Tràm Chim, nhưng chỉ dẫn lại lời người phụ trách vườn quốc gia này nói rằng đã không thấy có khói bốc lên từ rừng thế thôi. Cái mà nhiều người theo dõi thời sự như tôi chờ đợi là một khuôn mặt của ông phụ trách, nhất là cái nhìn hối lỗi của ông thì hoàn toàn không có. 
Có thể dự đoán lối trốn lỗi này sẽ ngày càng phát triển vì để làm cơ sở của nó, đã hình thành cả một lối lý sự rất đơn giản. Ở chỗ riêng tư người ta truyền kinh nghiệm cho nhau : “ Nhiều người cũng có lỗi như mình họ cứ lờ đi thì có sao đâu! Tội gì mà chường mặt ra? Tội gì mà nhận lỗi ? Trơ tráo mà thoát tội thì tội gì không trơ tráo ?” Và họ không quên tủm tỉm với nhau”. Lanh chanh nhanh nhẩu đoảng, có khi các sếp lại khó chịu vì làm xấu mặt sếp chứ hay ho gì? “ À ra thế! Trong cái sự từ chối chường ra bộ mặt nhận lỗi, người ta muốn nói rằng người ta chỉ làm việc với cấp trên chứ có phải làm việc vì lương tâm danh dự hay trách nhiệm với đất nước đâu. Những trách móc của chúng ta là nhầm địa chỉ. 

4-5
Tin các báo, bốn ngày nghỉ lễ, gần 114 người tử vong, 88 người bị thương.. Trong 4 ngày lễ, lực lượng cảnh sát giao thông toàn quốc đã xử phạt 44.000 trường hợp vi phạm giao thông, thu gần 10 tỷ đồng, tạm giữ 68 ôtô và 7.250 xe máy. Có cảm tưởng trên đất nước mình, chúng ta chưa biết nghỉ và cũng chẳng có chỗ nghỉ-- theo đúng nghĩa của nghỉ.

6-5
Báo NTNN kể là nhìn vào đơn xin thi đại học thấy thời nay, các Đại học địa phương lại rất dắt hàng. Và người ta cho là đáng tự hào. Có biết đâu đây là dấu hiệu suy đồi cả hệ thống giáo dục. Từ ba bốn chục năm trước tôi đã sống trong cảm giác bực bội, sao học sinh giỏi lắm thế. Ra học sinh học rồi lên lớp là theo chỉ tiêu. Tất cả các chuẩn mực đều bị hạ thấp. Và bây giờ đẻ ra 300 đại học tiên thiên bất túc đó. Các đại học này đáp ứng cho cái khối lượng khổng lồ học sinh phổ thông kém cỏi thời nay.

8-5 
Hoàng Cầm qua đời. Nhiều báo đăng lại thơ ông, nhân đó tôi cũng đọc theo. Và đây là chuyện buồn cười với tôi: chợt nhận ra trong câu Váy Đình Bảng buông chùng cửa võng thì lâu nay mình không hiểu cửa võng nghĩa là gì. Tra nhiều từ điển tiếng Việt đang được thông dụng không thấy. Mãi tới cuốn của Khai trí tiến đức 1931, mới có chú cửa võng là cái diềm bằng gỗ chạm. Riêng cuốn của ban biên soạn New Era, do NXb Văn hóa thông tin cho in 2005 thì ghi rõ hơn : Diềm chạm trổ bằng gỗ, hình cong, nối hai cột giữa ở chùa và đền. Vẫn còn tù mù quá, thế diềm là gì, nhưng thôi, có khi càng không hiểu mới càng cảm hết cái nhu cầu đi vào phía thần bí của thơ Hoàng Cầm. 

14-5 
Sắp phát hành tuyển thơ LQVũ. TT&VH hôm nay có cả chùm bài chia sẻ cảm nhận của một số bạn làm thơ hôm nay. Tôi tự nhiên cũng muốn trở lại với người bạn một thời này. Tôi muốn lưu ý: -- Thơ Vũ đã trải qua nhiều chặng khác nhau, dù chặng nào cũng có đỉnh. -- Cái phần được ca tụng nhất hôm nay chính là cái phần băn khoăn hoài nghi, không biết cuộc đời sẽ đi về đâu. Hồi chiến tranh, nó đã là một dòng chảy ngầm trong đời sống tinh thần con người. Nhưng nó là một bộ phận của chiến tranh và người ta không thể lảng tránh. Lớp người sau muốn hiểu những năm chiến tranh cũng phải trở lại với nó. -- Nên nhớ, những bài thơ hay nhất của Vũ là thơ làm cho mình. Đó là loại thơ biết là không đăng nhưng không thể không viết. Nhớ cái lần đọc bài tôi viết dùng làm lời bạt cho tập Bầy ong trong đêm sâu, nhà thơ Tế Hanh bảo: trước cứ tưởng chỉ có Việt Phương thích hóa ra cả Vũ cũng thích Aragon. ( Trong bài tôi có chép lại cái đoạn Hỡi em của anh em của anh chỉ em là còn lại—trong hoàng hôn buồn bã của cuộc đời ) Tôi rất muốn lược lại ảnh hưởng của thơ dịch trong thơ Vũ, mà bao giờ làm được đây.

Đọc tiếp ...

14 thg 5, 2010

Cảm giác có lỗi

Thứ Năm, 13/5/2010 (TBKTSG) - Khiêm tốn, biết điều có vẻ như là một cái gì xa lạ trong tâm lý con người đương thời. Có thể bạn cho rằng tôi đã quá lời ư? Hãy thử lướt qua báo chí và các chương trình truyền hình hàng ngày. Có phải nhìn đâu chúng ta cũng bắt gặp những nụ cười tự mãn, những lời hoa mỹ khoe tài khoe giỏi. Con người chỉ quen phô ra với nhau nào là cái phần đóng góp của mình thật là lớn lao, nào là thành tích làm được vô cùng vĩ đại. Bần cùng phải nói về những yếu kém thì chỉ nhắc tới qua loa trong mấy câu chiếu lệ vuốt đuôi. Cứ làm như chúng ta là những thiên thần tuyệt vời tài giỏi cả! Bởi vậy tôi hơi ngạc nhiên khi đọc các bản tin về Đại hội Hội Kiến trúc sư lần thứ 8 vừa qua “Thư Đại hội 8 gửi giới kiến trúc sư cả nước nhận định: Kiến trúc Việt Nam phát triển chưa có bản sắc và còn một khoảng cách với trình độ kiến trúc quốc tế. Chúng ta xây dựng nhiều, nhưng còn ít thành công về sáng tạo nghệ thuật, lực lượng kiến trúc sư đông nhưng không mạnh, tổ chức hành nghề chưa chuyên nghiệp, còn manh mún, nhỏ lẻ; không đủ tài và sức để giải quyết yêu cầu lớn và phức tạp của xã hội”. Cái chuyện hiện thời chúng ta chỉ có những làng quê và những đô thị xấu xí thì lâu nay ai cũng biết. Các kiến trúc sư thường biện hộ: “Tôi có quyền gì đâu? Tôi đã vẽ cho các nhà chủ mấy cái mẫu đẹp nhưng họ đâu có nghe?”. Đấy là nói chuyện từng ngôi nhà cụ thể. Còn hình ảnh toàn cảnh của một khu phố hay một đô thị mới xây dựng, tại sao nó xấu ư? Cái đó thì họ bảo tại ông trời, trời cho mỗi người một ý định và tập hợp một trăm căn nhà đẹp nhiều khi lại tạo nên một quần thể hổ lốn, cái nọ làm hại cái kia. Khi cuộc sống đã rút lại ở hai chữ làm ăn, người ta chủ yếu quan tâm tới số lượng. Và nhỡ gặp ai máy mồm chê kém, chê xấu thì quay ra đổ lỗi cho người khác. Trong hoàn cảnh ấy, sự khiêm tốn, biết điều và hơn thế nữa, một cảm giác xót xa nhận lỗi đứng đằng sau những lời lẽ chính thức của cả giới kiến trúc dẫn ra ở trên giống như một ngoại lệ. Nó vang lên quá đơn độc trên cái nền của một đời sống tinh thần xã hội nhiều phần yếu kém. Ta thường hay nói đang thiếu những người làm chủ, những người dám chịu trách nhiệm. Cụ thể hơn, có lẽ nên nói là thiếu những con người muốn nhìn thẳng vào tình hình cụ thể và thấy có lỗi trước dư luận. Xã hội chuyển từ tiểu nông lên làm ăn theo kiểu hiện đại. Ý muốn vượt quá khả năng thực hiện. Công cuộc phát triển mang tính cách chụp giật vội vàng. Trong tình hình đó, hư hỏng đỗ vỡ làm sao thoát được. Thế nhưng không biết tự bao giờ đã hình thành cả một thứ “văn hóa” chối tội, trốn lỗi. Bắt đầu thấp thoáng có vẻ như có chuyện ư? Phải bịt đầu mối cho nhanh. Khi đã bung ra ai cũng biết ư? Hãy lấp liếm làm mờ làm nhòe mọi chuyện. Khi một cây cầu hay một ngôi nhà bị sập thì việc đầu tiên của những người bảo vệ là cấm không cho các nhà báo tiếp cận hoặc quay phim. Những người phụ trách nông nghiệp không muốn báo cáo rằng khu vực mình đang có dịch bệnh. Cô giáo không thích báo cáo lên phòng và sở giáo dục về việc trong lớp mình học sinh đánh nhau hay có hiện tượng quay cóp... Sự tự vệ kiểu này đang hiện ra với tất cả sự khôn ngoan tế nhị chỉ có ở con người hiện đại. Khi nghe có một sự cố nào đó, cái mà dư luận chờ đợi chỉ là mọi việc được mang ra thanh thiên bạch nhật phân tích để có sự phán xét quy trách nhiệm rõ ràng. Và trước tiên mong chờ được thấy thiện chí của những người trong cuộc. Nhưng có vẻ như cái thiện chí đó ngày càng hiếm gặp. Xin nói thêm là mấy chữ “người trong cuộc” ở đây xin được hiểu theo nghĩa rộng . Thời xưa, mỗi khi xảy ra mất mùa hay dịch bệnh, các bậc vua chúa thường tự nhận là do đức của mình mỏng, phải lập đàn cầu trời nhận tội và mong trời đừng vì mình mà làm khổ dân chúng. Trong các giờ sử, chúng tôi được dạy đó là một lối nghĩ duy tâm buồn cười. Nay nghĩ lại thấy đằng sau đó có “hạt nhân hợp lý” của nó. Đúng là lỗi của vua chúa thật, trong trường hợp này các vị tự xưng là cha mẹ dân có lỗi vì đã không biết tổ chức đời sống cho dân. Cũng trong thời phong kiến ấy, khi có những viên quan mắc lỗi thì ông thầy dạy người đó từ nhỏ đứng ra tự nhận lỗi là tại mình. Tôi cho rằng có thể học lối nghĩ đó để nhìn tình hình hôm nay. Tai nạn xảy ra hàng ngày không chỉ do dân thiếu ý thức mà còn nằm trong lỗi của những người quy hoạch, quản lý giao thông, đang để đường sá thiếu thốn, hư hỏng. Khi xử một cán bộ thoái hóa, đáng lẽ phải lần về tận gốc, xem ai đã đặt anh ta vào bệ phóng của con đường hoạn lộ. Cũng như bàn về bạo lực học đường, chỉ nói tới lỗi của các thầy giáo cô giáo là không đủ, ở đây có lỗi của cả những người viết sách giáo khoa, những người xác định chương trình giáo dục đạo đức cho lớp trẻ. Rút dây động rừng, chẳng có ai là vô can trong sự đi xuống của tình trạng nhân thế hiện thời. Có nghĩa là ở tất cả chúng ta, cảm giác có lỗi cần được đánh thức. thesaigontimes

Đọc tiếp ...

10 thg 5, 2010

Nghề làm báo-thủa ban đầu

Về mặt số lượng mà xét , giờ đây không mấy ai còn phải tỏ ý phàn nàn : Báo ở ta đang ra nhiều đến mức cả những bạn đọc có nhiều thời giờ cũng than phiền là không sức đâu đọc hết . Thế nhưng cái sự đã như là thừa ấy một phần cũng lại là do chất lượng . Giả sử thế giới có một bảng xếp hạng , hẳn có thể đoán là tay nghề của các nhà báo ở ta , cũng như bóng đá mà hàng ngày chúng ta vẫn xem , chỉ chiếm một vị trí khiêm tốn .

Đọc tiếp ...

4 thg 5, 2010

Khiếp nhược

  Cả về tài năng lẫn đức độ, tiến sĩ  P. vốn được cả giới kính phục. Ông thường có ý kiến độc lập về các vấn  đề khoa học,và không bị tiền tài danh vị  khuất phục. Ấy vậy mà sau một vài chuyến đi nước ngoài, trở về ông khác hẳn. Cũng xông ra ăn theo nói leo như mọi người. Cũng dông dài kiếm tiền. Lúc này cái uy tín cũ giúp nhiều cho ông. Ông liên tục xuất hiện trên các diễn đàn.

Đọc tiếp ...

30 thg 4, 2010

Hòa hợp hòa giải trong lịch sử

Tìm lại dấu người xưa để hiểu thêm bài học về đối xử với người cùng một nước
Khi giặc ngoại xâm tới, xã hội Việt Nam thời Trần có phân hóa, và không thiếu người cộng tác với kẻ thù hoặc buộc phải sống trong vùng chúng kiểm soát. Đánh giặc xong, đối xử với họ thế nào bây giờ?
Trong số các việc quan trọng trong năm 1289-- là năm đầu tiên sau ba lần đánh thắng quân Nguyên -- sách Đại Việt sử ký toàn thư có ghi bên cạnh việc định công, là việc trị tội những kẻ hàng giặc. Trần Ích Tắc, "thuộc chỗ tình thân cốt nhục", hoặc Đặng Long, "cận thần của vua", một người rất giỏi văn chương thời bấy giờ, cũng không phải là ngoại lệ.

Đọc tiếp ...

29 thg 4, 2010

Suy nghĩ nông nổi, tính khí thất thường

Cuộc sống đô thị con người đô thị ở nước Việt Nam khi mới bước sang thời hiện đại là phần nội dung chính được miêu tả trong truyện dài Thiếu quê hương (1940) của Nguyễn Tuân. Nhưng chương cuối sách lại có đoạn tác giả cho nhân vật chính về một làng quê là làng Xuân Phả, Thanh Hóa,bàn chuyện đưa một đoàn người làng này qua San Francisco bên Mỹ múa tuồng. Chúng ta bắt gặp ở đây hình ảnh người Việt trong cái làng quê cố hữu của họ, cả người lẫn cảnh không khỏi có phần lèm nhèm nhếch nhác, và khi bước vào sinh hoạt chốn công cộng thì cách cư xử của cá nhân thay đổi thất thường rất khó xác định.

Đọc tiếp ...

15 thg 4, 2010

Giới thiệu sách mới

Tên sách: Phê bình & tiểu luận
Nội dung chính :Tuyển chon các bài viết phê bình & tiểu luận được xem là khá nhất của tác giả sau hơn bốn chục năm viết phê bình văn học
80% là những bài chưa đưa vào các tập sách trước đây .
Sách dày 548 trang, in trong xê-ri sách nhà nước đặt hàng của nhà xuất bản Hội nhà văn VN, 2009.
Sau đay là Lời dẫn và mục lục LỜI DẪN
Bắt đầu có bài viết in trên báo Văn nghệ từ 1965, tới 1968 thì tôi được chuyển về phụ chân biên tập phần lý luận phê bình cho tạp chí Văn Nghệ quân đội. Ngoài phần chạy bài thì cũng có viết. Một năm được đăng độ hai bài dài mỗi bài 1500—2000 chữ là năng suất trung bình của người làm nghề ở Hà Nội những năm chiến tranh. Ở một trong những tờ báo chính chuyên về văn nghệ hồi đó, tôi kịp cố gắng để đạt các chỉ tiêu còm mà bây giờ không ai tưởng tượng nổi đó.

Đọc tiếp ...

11 thg 4, 2010

Thầy không ra thầy, thợ không ra thợ

(TBKTSG) - Nhìn vào các nghề thủ công, nhiều người có tuổi và kỹ tính một chút thường nhận ngay ra rằng nếu so với một người thợ ngày xưa thì thợ bây giờ non tay hơn nhiều. Những ngôi đình ngôi chùa nổi tiếng, giá bảo bây giờ dựng lại không sao dựng nổi. Thử đặt những cái chuông cũ trước cánh thợ đúc, những pho tượng trước cánh thợ mộc… Có cho tiền tỉ các vị cũng lắc đầu không dám nhận làm.

Đọc tiếp ...

9 thg 4, 2010

Ngại đi xa, yên phận, sợ cái mới

Các tài liệu nghiên cứu về Phan Châu Trinh thường dẫn ra đoạn một bài báo nhỏ in trên báo Tiếng dân 24-3-1936, mang tên Cụ Phan Tây Hồ với việc Tây học. Tác giả bài viết Huỳnh Thúc Kháng kể năm 1906, cụ Phan qua Nhật có gặp nhiều yếu nhân Nhật. Thoạt gặp, nhà chính khách Khuyển Dưỡng Nghị đã hỏi:
- Các ông có biết tiếng Pháp ?
- Thưa chưa
- Sao lại không học. Phải học để biết điều hay của họ chứ.

Đọc tiếp ...

3 thg 4, 2010

Người Việt sống bằng hành động nhiều hơn suy nghĩ

vnmedia.vn - 31-03-2010 15:04

(VnMedia) -"Một đặc tính của dân Việt là sống hời hợt, thường phản ứng vội, theo phong trào, ra quyết tâm nhưng ít đi tới cùng. Quan niệm ăn sâu “nói thì dễ, làm mới khó”, trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta vẫn đề cao hành động hơn suy nghĩ, không có sự nghiền ngẫm sống…".
Từ hiện tượng bạo lực trong xã hội, nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn chia sẻ những nhìn nhận sâu xa hơn về dân tộc tính.

Đọc tiếp ...

29 thg 3, 2010

Trình độ sống của người Việt còn thấp


ngày 29/03/2010 - 
(VnMedia) - "Bạo lực nằm sâu trong di sản văn hoá cộng đồng. Người Việt chúng ta không có niềm tin đủ mạnh vào cái thiện, đủ để làm cho họ tránh phạm điều ác. Bạo lực chứng tỏ trình độ làm người thấp của cả cộng đồng. Chúng ta còn phải phấn đấu nhiều  để vượt lên một trình độ sống khác".

Đọc tiếp ...

23 thg 3, 2010

Thơ tình và con người riêng tư trong thơ Xuân Diệu sau 1945

                                                   

 Những  thích ứng với hoàn cảnh đã làm nên  sự  thay đổi lớn lao trong số phận một nhà thơ. Với Cách mạng và kháng chiến,  một Xuân Diệu  từng mang tiếng là quá Tây không chỉ trở  thành một nhà thơ công dân sôi nổi mà còn một nhà thơ tình có một cảm quan rất thực tế, luôn luôn biết chăm sóc đến những cái nho nhỏ bình thường trong đời sống, đồng thời lại  tự mở rộng trong việc  ghi lại những xúc cảm đa dạng ở con người.

Đọc tiếp ...

19 thg 3, 2010

"Bạo lực có mầm mống trong xã hội Việt"

ngày 19/03/2010 (VnMedia) -

Ảnh minh họa
(VnMedia) - Clip nữ sinh bạo lực khuấy động dư luận. Nhiều người sửng sốt vì tình trạng bạo lực học đường. Nhiều người khác giật mình chất vấn giáo dục, xã hội. Trong khi đó, nhà nghiên cứu văn hoá Vương Trí Nhàn cho rằng: Bạo lực có mầm mống trong xã hội Việt mà ta không tự thấy.

Đọc tiếp ...

14 thg 3, 2010

HÀ NỘI – mất và được

Chùm bài Tết Canh Dần
Lúc này mà kể những chuyện buồn của Hà Nội chắc một số người...e ngại. Nhưng không chỉ riêng Nam Cao quan tâm tới Chuyện buồn giữa đêm vui ( đây là cái tên ông đặt cho một truyện ngắn). Mà đó là tâm trạng có ở nhiều người khi quay đầu đối diện với thời gian. Học theo cách nghĩ đó, tôi muốn nhắc lại một ít chuyện buồn đã đến với Thủ đô trong quá khứ để thêm vui với Hà Nội ngàn năm tuổi. Một tình yêu có nhiều trắc trở khó khăn, nhiều khi, lại mới là tình yêu sâu sắc.

Đọc tiếp ...

12 thg 3, 2010

Của thiêng

Trong truyện ngắn Không có vua của Nguyễn Huy Thiệp (viết khoảng năm 1988), có một cảnh liên quan đến Tết Trước đó, ngay từ đầu truyện, tác giả đã viết: “Cô Sinh về làm dâu nhà lão Kiền đã mấy năm nay. Khi về, cô mang theo bốn bộ quần áo mỏng, một áo dạ mặc rét, hai áo len, một vỏ chăn hoa, bốn cái xoong nhôm, một cái xoong bột, một cái phích hai lít rưỡi, một cái chậu tắm, một tá khăn bông, tóm lại là một đống tiền, nói như bà mẹ cô Sinh làm nghề buôn gạo ở chợ Xanh”. Ở các đoạn sau, mỗi khi nói tới một nhân vật, Nguyễn Huy Thiệp thường kèm theo một hai chữ, nói rõ mối quan hệ của người ấy với đồng tiền. Cách kiếm tiền của con người trong truyện khá trầy trật, nhiều khi bằng con đường lừa lọc. Tình thế “không có vua” làm biến dạng mọi nhân cách! Trong số những biến động ghê gớm mà chiến tranh và cách mạng mang lại nơi tâm lý mỗi người bình thường mấy chục năm qua, có một điểm này: Người ta nhiều lúc cảm thấy như chẳng cần gì. Chẳng cần của cải, chẳng cần tiện nghi. Sống thế nào cũng được. Rồi những năm ấy qua đi, nay thì ngược lại. Từ chỗ xem thường đồng tiền, nay cả xã hội quay ra khao khát nó, sùng bái nó. Nhiều người tự nhủ miễn là có tiền, còn làm thế nào, bẩn thỉu hay sạch sẽ, không cần biết. Ở những xã hội phát triển bình thường, người ta lấy lao động để đổi lấy tiền. Các giá trị ổn định. Và con người được chuyên môn hóa với nghĩa yên tâm làm giỏi cái nghề của mình, rồi sẽ thu nhập tương xứng. Từ chiến tranh bước ra, từ xã hội nông thôn lên xã hội đô thị, con người Việt Nam hôm nay quan hệ với đồng tiền thật khuất khúc. Tại sao người này kiếm tiền dễ vậy, còn người khác lại quá khó khăn? Nghĩ mãi mà chẳng cắt nghĩa nổi. Điều chắc chắn là có quá nhiều sự bất chính. Cùng là đồng tiền mà giá trị mỗi lúc một khác. Sự thiêng liêng của cuộc sống mà đồng tiền góp phần duy trì bị đánh mất. Một nhà đầu tư nước ngoài nhận xét rằng không ít chuyên gia trẻ Việt nam hình như quá dễ dàng trong việc chuyển nghề, đâu được trả cao hơn là họ đổi sở ngay. Ý người ta muốn nói con đường kiếm tiền chân chính bị chối bỏ và quan niệm về việc làm người của một bộ phận giới trẻ đang có vấn đề. Có điều, đó không phải là bệnh riêng của lớp trẻ. Gặp nhiều người bây giờ, không dễ xác định nghề họ đang làm. Nhiều khi dư luận đánh giá một người giỏi hay kém chỉ là trông vào số tài sản người đó có. Biết thế là sai nhưng ngày càng ít ai dám đi ngược lại cách nghĩ phổ biến nói trên. Một ông bạn tôi vừa về quê ra Hà Nội, kể rằng các đám hiếu hỉ ở nông thôn hiện nay vung tiền rất thoải mái, có người vét túi cả vốc tiền 50.000 đồng ném xuống áo quan. Việc hơi lạ, nhưng cái xu hướng mà nó biểu thị thì có thật. Có thể nghĩ lan man về việc này. Riêng tôi thấy sống lại cái cảm tưởng về sự thiêng liêng bị đánh mất. Bỗng dưng nhớ tới nhân vật lão Hạc trong truyện ngắn cùng tên của Nam Cao. Về già, con trai đã đi xa, băn khoăn lớn nhất của lão là làm sao bảo quản ít của cải sẵn có. Tài sản không nhiều nhặn gì, bao gồm một ít đất, một ít tiền và một con chó. Nghĩ quanh nghĩ quẩn rồi lão đi đến một cách xử sự mà người đời ngày nay hẳn nghĩ rằng quá kỳ cục, là bán con chó, gom tiền lại gửi tất cả cho người khác giữ và chọn lấy sự ra đi tự nguyện. Từ Lão Hạc, chúng ta đã thấy nhiều mặt cuộc sống của người Việt đầu thế kỷ 20, trong đó có cách ứng xử của con người với tiền tài. Sau một đời lầm lũi, người thời ấy cũng có một ít của cải nào đó. So với mong mỏi của mỗi cá nhân, số này là chưa đủ nhưng con người lúc ấy biết sống trong cam chịu, không oán trách ai. Họ tin họ đáng được như thế và đối xử với nó hết sức nghiêm túc. Toàn bộ thiên truyện Lão Hạc xây dựng trên cái trục chính: Lão thà chết để giữ tiền cho con, vì lão tin rằng đồng tiền ấy có thể có ích cho con mình. Đồng tiền với lão vẫn là cái gì đó thiêng liêng, thiêng liêng hơn cả cuộc sống chính lão. Cái niềm tin ấy với người đời hôm nay dường như quá xa lạ. Ta và lão Hạc, ai xứng là người hơn? Tôi tự hỏi mà chưa biết trả lời thế nào cho phải! nld.com.vn - 15-02-2010

Đọc tiếp ...

5 thg 3, 2010

Thiên nhiên điêu đứng...


(TBKTSG) - So với những đoạn đường Trường Sơn thì con đường chúng tôi đi hôm ấy từ Phú Thọ qua Thanh Sơn về Trung Hà không phải là xấu, và đất bụi chưa lấy gì làm nhiều. Nhưng đoạn đường trong liên tưởng là thuộc thời chiến tranh, còn hôm nay chúng tôi đi trên con đường thời bình.

Đọc tiếp ...

4 thg 3, 2010

Tự hiểu mình hơn qua lễ hội

Ai đọc cổ tích Tấm Cám hẳn nhớ chi tiết mẹ con Cám ghét Tấm, ghen tị với Tấm muốn hành hạ Tấm. Biết Tấm thích đi hội làng, mẹ Cám trộn thóc lẫn với gạo bắt Tấm chọn xong mới được đi. Chi tiết đã quá quen thuộc nhưng chỉ hôm nay tôi mới hiểu. Sức lôi cuốn của lễ hội thật dai dẳng.

Đọc tiếp ...

1 thg 3, 2010

Phải nghĩ về thủ đô

Ta yêu Hà Nội, đừng chỉ yêu bằng lời nói và xúc cảm trái tim. Đằng sau hai chữ tình yêu, tôi muốn nói tới nhu cầu của chúng ta phải nghĩ về thủ đô, quan tâm tới thủ đô, thấy nó quan hệ tới cuộc đời của mình. Trong lời bạt viết cho cuốn Sống mãi với thủ đô (tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng) in năm 1961, nhà văn Nguyễn Tuân từng đưa ra một nhận xét chung: “Hình như hầu hết danh nhân, anh hùng cổ kim nước ta đều là những con người Hà Nội. Các vị ấy có thể quê quán gốc tích ở “ngũ tỉnh đàng trong, tứ tỉnh đàng ngoài!” nhưng cái đoạn trội nhất của các bậc ấy vẫn là diễn ra trên mảnh đất thủ đô”. Nguyễn Tuân không nêu cụ thể nhưng tìm vào lịch sử, người ta có thể kể ra hàng loạt tên tuổi làm bằng chứng cho nhận xét của ông. Trong phạm vi văn học, đó là bản danh sách kéo dài từ Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Phạm Đình Hổ, Hồ Xuân Hương... qua Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh, Hoàng Ngọc Phách, Nhất Linh, Thế Lữ rồi Vũ Trọng Phụng, Nam Cao, Xuân Diệu, Huy Cận... Họ đã trưởng thành cùng với trung tâm văn hóa của cả nước. Tưởng như không có dịp tới thủ đô, mỗi người không thể trở thành chính mình. Đây là những bằng chứng đánh dấu chất hội tụ, cái đặc điểm không chỉ riêng cho Thăng Long mà là dấu hiệu của thủ đô bất cứ nước nào. Khả năng hội tụ làm cho “mảnh đất trong sông” đơn sơ này trở thành thiêng liêng. Có điều lạ mà ít người để ý: Chỗ mạnh này của Thăng Long thật ra đã được người viết Chiếu dời đô nhìn thấu. “Xem khắp nước Việt, đó là nơi thắng địa, thực là chỗ tụ hội quan yếu của bốn phương”. Theo truyền thuyết, đây là những dòng do tự tay người sáng lập vương triều Lý viết. Dường như Lý Thái Tổ muốn nhấn mạnh sức sống của thủ đô là ở mối quan hệ với những gì ngoài nó, chung quanh nó, những gì là cả đất nước. Nhiều thế hệ sau đã sống bằng cái ý tưởng đó. Nhưng không phải cái gì người ta biết là có thể làm ngay! Trong một xã hội luân chuyển giữa chiến tranh và trì trệ, nhu cầu đô thị hóa không cao, các đô thị ở Việt Nam lúc đầu chỉ là trung tâm quân sự, sau đó là nơi để cho người các vùng phụ cận đến buôn bán. Sở dĩ Thăng Long có lúc được gọi là kẻ chợ là vì như vậy. Các gia đình quan lại cũng như các gia đình buôn bán ở Thăng Long xưa thường vẫn sống theo kiểu hai mang, một chân ở nông thôn, một chân trên phường phố. Sự hội tụ trong những năm chinh chiến chủ yếu là hội tụ theo nghĩa tinh thần. Người ta nghĩ về thủ đô như nơi kết tinh hồn thiêng đất nước, nó mang lại cho con em xứ này tinh thần nồng nhiệt “xả thân vì nghĩa lớn”. Những giai đoạn ổn định lại đòi hỏi một cách nghĩ khác. Sàng lọc tinh hoa là nhu cầu đặt ra với cả nước. Và sự thực là Hà Nội đã lớn lên theo hướng đó. Thủ đô như tự hiểu mình sinh ra để làm cho được việc đó. Nói như Nguyễn Tuân: “Cũng là một điều đúng vậy, khi mọi người bảo rằng thủ đô là cái nơi kết tinh mọi phong vị nhân tài của một dân tộc đời này qua đời khác. Cho nên những con người thủ đô bao giờ cũng bén nhạy sắc cạnh hơn những người khác với tất cả những ưu điểm và nhược điểm của nó, với tất cả cái trí, cái dũng, cái tài, cái tật của nó”. Cũng ý ấy, một thi sĩ thời chống Mỹ như Bằng Việt đã viết hai câu thơ cô đọng: Mỗi hạt cát hạt vàng lịch sử Hà Nội kiên tâm gạn lọc công bằng Vào những ngày, những suy nghĩ ấy lại đến với anh với tôi với tất cả chúng ta. Như một thói quen tự nhiên, với thủ đô người ta thường chỉ nói tới tình yêu. Hà Nội mà chúng ta yêu, một cách nói như thế sẵn sàng được mọi người chia sẻ. Nhưng hôm nay chỉ như thế là không đủ. Đằng sau hai chữ tình yêu, tôi muốn nói tới nhu cầu của chúng ta phải nghĩ về thủ đô, quan tâm tới thủ đô, thấy nó quan hệ tới cuộc đời của mình. Nghĩ về thủ đô là nhu cầu mà cũng là quyền lợi của mỗi công dân của một đất nước đã trưởng thành. Cái suy nghĩ thấm đậm tình yêu này không chỉ đau đáu trong lòng những người dân Hà Nội nhiều đời hoặc tối thiểu là từ đầu thế kỷ XX. Trong đời sống hằng ngày, tôi còn bắt gặp nó nơi tâm trí bộ phận cư dân mới “nhập tịch”, dù đó là những gia đình bắt đầu cắm rễ ở thủ đô từ sau kháng chiến chống Pháp, hay những người mới lớn đến đây làm ăn từ sau chiến tranh, khi mở ra nền kinh tế thị trường. Mà sao lại chỉ nói tới cái tình yêu đậm chất suy nghĩ của những người coi thủ đô là nơi cư trú? Còn những người Hà Nội đang đi làm ăn lập nghiệp nơi khác và còn bao la những công dân của mọi miền đất nước? Cái ám ảnh lớn nhất của người dân một nước sau chiến tranh là trở lại với đời sống bình thường. Theo sự kiếm sống thường nhật kéo đi, chúng ta đâu đã nghĩ được nhiều. Chất nông dân bao đời bồi đắp trong mỗi người xui ta chỉ nghĩ về vùng quê nơi có mồ mả cha ông, cũng tức là nơi chôn rau cắt rốn. Nhưng một đất nước phát triển không phải chỉ là phép cộng của nhiều vùng quê “anh nào lo anh ấy”. Một đất nước cần có cái đầu tập trung những thông minh sáng láng nhìn thấu tương lai. Nay là lúc tư tưởng hội tụ cái hay, cái đẹp bốn phương mà Chiếu dời đô phát biểu càng trở nên có ý nghĩa. Với tất cả chúng ta, đó là một yêu cầu mà với thủ đô, đó là một thách thức. Cái nhu cầu tự nâng mình lên, gạn lọc lấy tinh hoa, kéo cả cộng đồng phát triển, cái nhu cầu ấy không phải chỉ riêng của người Hà Nội mà đang trở nên sâu nặng trong mỗi người dân nước Việt. Khi ta đòi hỏi có một thủ đô hội tụ tinh hoa cũng là lúc ta đang khơi nguồn cho những gì tốt đẹp tiềm ẩn trong mỗi chúng ta ngày một nẩy nở để đóng góp cho đất nước. phapluatonline

Đọc tiếp ...

26 thg 2, 2010

Những lời rao hàng sáng giá

(Nghệ thuật quảng cáo sách xưa và nay) Với tất cả cái thân tình và sự sắc sảo phải có, một khách nước ngoài đã vui vẻ nhận xét về một số khách sạn ở ta: “Bây giờ những người ở đây rất muốn làm vừa lòng khách. Có điều, làm thế nào để khách vừa lòng thì họ không biết. Nhưng đấy không phải là cái trớ trêu độc quyền của ngành du lịch. Phải nói là tình trạng trớ trêu ấy ngự trị trong cả loạt khu vực hoạt động khác. Nhiều việc ta đã từng làm, song có một dạo coi là việc không đáng làm nên bỏ hẳn. Nay tính chuyện làm lại, nhưng hình như đã quên hết cả cách làm. Cứ lúng túng như thợ vụng mất kim, không sao xoay sở nổi để làm... cho coi được một chút. Ví dụ như chuyện quảng cáo sách, ở đây chỉ nói riêng về quảng cáo cho các tác phẩm văn học. Suốt mấy chục năm (từ 1986 về trước), việc làm sách được bao cấp, xã hội luôn luôn đói sách nên không ai nghĩ tới chuyện quảng cáo cho sách làm gì. Thỉnh thoảng lắm, các nhà xuất bản mới cho in trên một vài tờ báo danh sách những sách mới. Sách mới của nhà xuất bản X... Sách mới của nhà xuất bản Y... Vậy mà người ta đã coi là đủ lắm rồi. Cũng chẳng cần thông báo chi cả, mà vẫn ùn ùn người đến xếp hàng cửa sau, chờ ký duyệt giấy giới thiệu để xin mua, thì việc gì phải lo quảng cáo cho thêm rách việc! Khi không cần quảng cáo, không muốn quảng cáo, người ta cũng có ngay những lý do để chê bai nó. Rằng nó làm hại tới mối quan hệ giữa tác phẩm và người đọc. Rằng nó là công việc của những anh kiểu Xuân-tóc-đỏ, nói phét ăn tiền. Rằng nó gần như là bịp bợm. Mà bịp bợm thì... là chuyện dễ ợt, lúc nào làm chẳng kịp! Những nhận xét ấy cũng có cái lý của nó. Trong cơ chế thị trường, quảng cáo nhiều khi tung hoành quá đáng khiến cho thật giả lẫn lộn, hay dở không phân biệt nổi. Những lời lẽ huênh hoang ở đây không bao giờ thiếu, muốn lấy bao nhiêu ví dụ cũng được. Có điều, không phải tất cả quảng cáo xưa nay là như vậy. Do chỗ dễ dàng bị tai tiếng, nên công việc này thật ra lại có vẻ nghiêm túc cao sang riêng cho nó! May thay là từ đầu thế kỷ này, nhiều nhà xuất bản ở ta đã tung ra những quảng cáo đáng được chúng ta khâm phục. Được đăng rải rác trên những Phong Hoá, Ngày Nay, Thanh Nghị, Tri Tân, Trung Bắc chủ nhật..., những quảng cáo dưới đây có liên quan đến những tác phẩm mà ngày nay, chúng ta còn đang in lại, đang thích đọc, nên có thể nói những quảng cáo này đã được thời gian kiểm nghiệm. - Quảng cáo Giấc mộng con I và II của Tản Đà: “Một thiên tiểu thuyết rất diễm lệ... Tả hai giấc chiêm bao chơi khắp thế giới, lên đến cả thiên đường. Rồi nhiều công phu khảo cứu, rất nhiều điển cố văn chương. Lời văn đẹp đẽ du dương như cung đàn nhịp phách”. - Quảng cáo Hương cố nhân: “Tập thơ hay nhất của Nguyễn Bính. Mối tình cao quý giữa hai nhà thơ nổi tiếng hiện thời”. - Quảng cáo “Ngõ hẻm của Nguyễn Đình Lạp: “Một thế giới luộm thuộm nheo nhóc ồn ào kỳ dị, với bao tấn kịch, hoặc vô cùng bi ai, hoặc hào hùng quyết liệt”. - Quảng cáo Nửa đêm: “ Nam Cao là một nhà văn chuyên tả phong tục thôn quê Việt Nam với một ngòi bút danh thép. Nếu các bạn muốn hiểu người dân quê Việt Nam một cách sâu sắc, nếu các bạn muốn có những kiến thức rất thực về thôn quê Việt Nam, nói tóm lại nếu các bạn muốn hiểu đồng bào một cách chu đáo, các bạn đều nên có cuốn Nửa đêm của Nam Cao.” Quảng cáo Quê người của Tô Hoài: “Dưới ngòi bút tác giả, tất cả cái xã hội lố lỉnh đáng thương ở nơi bờ tre đồng lúa được phác hoạ rất tinh tế, cặn kẽ”. - Quảng cáo Tuỳ bút: “Đã đọc Vang bóng một thời của Nguyễn Tuân, ta nên đọc cuốn Tuỳ bút của ông để ta cũng biết sống một cách chăm chỉ, có thi vị, thấy cái đẹp ở khắp các việc, người và cảnh ở chung quanh ta” v.v... và v.v.... Những ai muốn ghét bỏ quảng cáo, đọc một số đoạn “văn bia” nói trên, chắc đã mang máng cảm thấy không nên thành kiến, vì thành kiến là vô lý. Trong đa số trường hợp (với Nửa đêm, Ngõ hẻm, Quê người...), quảng cáo đã làm được công việc tối thiểu là tóm tắt chính xác nội dung và phần nào phác hoạ cho thấy các yếu tố làm nên phong cách ngòi bút đã viết nên quyển sách. Nếu mấy câu viết về Hương cố nhân của Nguyễn Bính nên được coi là một thứ tài liệu văn học sử, thì những dòng quảng cáo cho Tuỳ bút thật đã chỉ ra được cốt cách Nguyễn Tuân, nó là hiệu quả mà giờ đây, phải nhiều bài phê bình dài dài mới làm nổi. Từ khoảng 1987 tới nay, sách ra càng nhiều, yêu cầu cạnh tranh càng lớn, thì người ta càng hay nghĩ tới quảng cáo. Tội tổ tông truyền của quảng cáo đã được xoá bỏ, không ai bĩu môi chê bai quảng cáo nữa. Nhưng làm thế nào để quảng cáo thì không phải dễ. Bằng chứng là tất cả những cuốn sách được thừa nhận là nhỉnh hơn cả trong mấy năm gần đây chưa có cuốn nào ra đời với một lời quảng cáo thật đích đáng. Trên các phương tiện truyền thông, thỉnh thoảng người ta có nghe nhắc tới cuốn sách này cuốn sách khác, thì trong đa số trường hợp là liên quan đến sách thương mại, lời rao hàng đặc giọng chợ búa, nên khó lòng nói là những quảng cáo nghiêm chỉnh. Một lời quảng cáo trên báo thường dễ bị người ta kiểm tra lại (có phải vì thế mà những lời rao hàng lộ liễu không mấy khi thấy xuất hiện trên mặt báo chăng?). Nhưng chính bởi vậy báo chí vẫn là địa bàn rộng rãi để những người yêu văn học và giỏi quảng cáo thi thố tài năng. Nếu bạn là một người còn “nghiền” sự đọc sách, tôi cầu chúa cho bạn có được một tờ báo tin cậy, ở đó, mỗi cuốn sách quan trọng (cả sách trong nước lẫn sách dịch) đều được báo nhắc tới trong vài dòng quảng cáo được viết công phu. Đó vẫn chỉ là những nhận xét ngắn gọn, nhưng về sau bạn thường phải nhớ lại vì nó đã tìm ra những lời lẽ xác đáng để nói về quyển sách mà bạn đã đọc. Những lời rao hàng sáng giá ấy, tự chúng đã là những người môi giới đầu tiên. Và là một bộ phận của công việc xuất bản trong mỗi thời đại. Trong chuyện cũ văn chương

Đọc tiếp ...