27 thg 8, 2009

Khoan cắt bê tông

(TBKTSG) - Trên Tuổi Trẻ Cười, tôi nhớ có lần đã có một bức biếm họa, ghi lại sự có mặt của những thông tin quảng cáo về khoan cắt bê tông ở khắp nơi. Lần ấy hàng chữ này được đặt ngay ngắn chững chạc giữa một bức tường, cạnh đó là một mũi tên chỉ rằng phía trước là cổng lên thiên đường! Đúng là một lối làm ăn tùy tiện, bạ chỗ nào cũng đè người ta ra mà... hành sự, khiến chúng ta vừa định cười đã thấy bực bội khó chịu. Lối quảng cáo vô tội vạ này đã bị nhiều người phê phán. Ai cũng thấy đó là một hành động thiếu ý thức xã hội, làm mất mỹ quan thành phố. Phần tôi, khi cần cắt nghĩa sự có mặt tràn lan và tồn tại dai dẳng của nó, tôi muốn nghĩ rộng tới cuộc mưu sinh của nhiều người hiện nay. Một cách lẩn quất, ở đây có mặt của cái triết lý làm liều đang chi phối chúng ta: nhân danh sự kiếm tiền nuôi sống bản thân và gia đình, người ta có quyền làm bất cứ việc gì thấy cần. “Chỉ có những việc người ta không làm được chứ không có việc không được làm”, triết lý tóm lại là vậy. Trong danh sách các tác phẩm viết cho thiếu nhi của Tô Hoài, có một cuốn mang tên Tính ác. Sách viết từ lâu tôi không được đọc, chỉ nghe Tô Hoài kể, đâu toàn chuyện lúc nhỏ khi lang thang trong làng, túi ông lúc nào cũng thủ sẵn vài hòn gạch củ đậu, thấy chó là ném. À, thế thì hiểu rồi, chả Tô Hoài thì không ai dám viết thế. Trong con người thường vẫn có sẵn cái tính... ác ngầm. Thấy ai tử tế là không chịu được. Gặp cái gì đẹp đẽ lành lặn cũng muốn bôi bẩn cho nhem nhuốc giống mình. Nhìn nhiều dòng chữ khoan cắt bê tông nằm chềnh ềnh giữa những bức tường quét vôi đẹp đẽ, tôi thầm đoán rằng người kẻ những dòng chữ ấy, đang sống lại cái cảm giác của đứa trẻ lang thang mà Tô Hoài mô tả ngày nào. Là muốn làm cho những người chủ nhà kia đau đớn và nhiều người đi đường như thấy cái gai đâm vào mắt. Trêu tức được thiên hạ, chẳng phải đã sướng lắm sao? Có thể người kẻ thứ quảng cáo loạn xì ngầu này không nghĩ hẳn ra như thế, nhưng cái mầm của những suy nghĩ kiểu đó đã ủ sẵn trong đầu óc họ. Nhưng hôm nay tôi muốn đề nghị một cách nhìn khác nữa, là xem xét sự phổ biến của “khoan cắt bê tông” dưới góc độ thông tin. Vì nghèo, vì phải tập trung sức lực cho chiến tranh, suốt từ 1954 tới khoảng 1986, trước khi đổi mới, Hà Nội của tôi hầu như không xây dựng gì đáng kể. Chỉ từ 1986 trở đi làm nhà mới thành phong trào. Vì bí quá rồi, kìm hãm mãi rồi, nên khi bung ra, đặc tính của sự xây dựng lúc này là tự phát, nhỏ lẻ, người làm thiếu hiểu biết đã đành mà còn thiếu cả những thông tin tối thiểu. Mua gạch mua ngói ở đâu, loại đất như nhà mình đây thì thứ thép nào? Rồi thuê thợ ra sao, công xá bao nhiêu thì vừa? Tất cả chỉ được làm một cách mò mẫm, nhà nọ hỏi nhà kia, kể cả cái việc chúng ta đang nói là sử dụng máy móc để làm một số việc thay cho sức người như đào móng, trộn bê tông mới, hoặc khoan phá những chỗ bê tông cũ. Cái dịch vụ khoan cắt đang nói ra đời từ lúc đó. Rõ ràng là có người cần và có những người thấy được nhu cầu đó, sẵn sàng đáp ứng. Nhưng làm sao thông tin cho nhau biết bây giờ. Chẳng lẽ cho người đi rao như mấy hàng quà? Cách tốt nhất là người ta vẽ ngay lên các mảng tường trống vốn tồn tại như một thứ không gian hoang vắng chưa ai biết dùng. Sự xuất hiện toe toét nhòe nhoẹt của những hàng chữ “khoan cắt bê tông” như hiện nay, hóa ra là dấu hiệu của một sự chuyển biến. Từ xã hội thiếu thông tin chúng ta chuyển sang đối cực của nó. Cái mới hiện ra nham nhở, và chỉ tố cáo thêm cái quá khứ nghèo nàn thiếu thốn hôm qua. Hàng ngày, tôi cũng làm công việc như của nhiều người già vẫn làm là đi tập thể dục từ lúc mới tờ mờ. Chính trong cái phút vắng vẻ đó, phố xá hiện ra với bộ mặt vốn có của nó. Trên tường, các quảng cáo khoan cắt bê tông chen chúc gợi tôi nhớ tới nhiều thứ. Có lúc tôi nhớ tới những mạng nhện trên trời là các búi dây điện treo ngay trên đầu người đi đường. Có lúc tôi nhớ tới cảnh người chạy xe ôm xúm xít quanh những xe khách từ tỉnh xa về, mời mọc chào đón đấy mà chặt chém người ta cũng ngọt xớt đấy. Cái gì quý cũng hiếm, cái gì xoàng xĩnh thấp kém thì sao mà lắm đến thế, gạt đi không hết! Về phương diện thông tin, xin lưu ý thêm hai điểm rút ra từ những bức tường chi chít hàng chữ khoan cắt bê tông. Thứ nhất, đó là những tin tức đơn điệu tẻ nhạt, người truyền phát cũng cảm thấy chẳng có gì cần, nhưng “thừa giấy làm chi chẳng vẽ voi”, tội gì không kẻ thêm vài hàng, thừa còn hơn thiếu. Thứ hai, một đặc trưng của loại thông tin công cộng này là nội dung càng nghèo nàn thì sự xuất hiện càng dày đặc. Đó là lối “tràn ngập lãnh thổ”, lấy thịt đè người, có thể nói là thứ thông tin pha chút bạo lực vì ép thiên hạ phải nghe, tự biết là gây nhiều khó chịu nhưng lại thoáng một chút hãnh diện vì đã làm khổ được mọi người. Thứ Năm,27/8/2009 Saigon Times Online

Đọc tiếp ...

Bây giờ tôi mới được sống!

Trò chuyện với chúng tôi về chuyên đề Toilet - Nhà nghiên cứu Văn hóa Vương Trí Nhàn phát biểu: Đại tiểu tiện là sự giải thoát, là niềm vui của con người, và nếu giải quyết nó một cách thông minh, không gây khó chịu, không phải là làm cho xong mà tận hưởng được nó, thì không những nó làm cho mình khỏe thêm mà còn làm cho mình ham sống và yêu cuộc sống hơn.

Đọc tiếp ...

24 thg 8, 2009

Giới thiệu về nội dung cuốn sách mới xuất bản: Chúng ta đang sống như thế nào? Tại sao lại có cái tình trạng nhân thế như chúng ta đang thấy? Ta đã hiện hình ra sao trong sự vận động của thời gian? Điều gì có thể thay đổi và điều gì sẽ phải chấp nhận mãi ? Để tìm cho mình câu trả lời, mươi năm gần đây Vương Trí Nhàn đã hướng ngòi bút của mình vào thể phiếm luận. Tác giả cảm thấy viết cho mình mà cũng như là đang được đối thoại với bạn đọc. Cả quan sát thể nghiệm lẫn những kiến thức sách vở mà tác giả đọc được trong vai trò một người chuyên viết phê bình văn học đã được huy động. Những trang sách của Nguyễn Công Hoan, Thạch Lam, Nam Cao, Nguyễn Hiến Lê, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải và cả những F. Dostoievski, A. Tchekhov, Lỗ Tấn... thường xuyên trở về có mặt trong các câu chuyện. Khi cảm thấy có một mối liên hệ rõ rệt giữa ngày hôm nay với những thời gian đã qua, cũng là lúc người ta có thể sáng rõ hơn trong việc nhìn nhận chung quanh, nhẹ nhàng hơn trong việc chấp nhận mọi diễn biến của đời sống trước mắt. Những con người khác nhau trong bản thân tác giả vừa nghĩ vừa bàn với nhau, tranh cãi với nhau. Và tác giả ghi nó ra đây vì đó là cách tốt nhất để mời những bạn khác cùng nghĩ tiếp.

Đọc tiếp ...

21 thg 8, 2009

Dù ở đâu vẫn phải tôn trọng nhau

TT - Nhà phê bình văn học Vương Trí Nhàn, tác giả nhiều bài viết sắc nét về văn hóa ứng xử của người Việt, lý giải hiện tượng người nói tiếng Anh được đối xử tốt hơn. Những ai có kinh nghiệm sống ở VN hẳn đoán ra ngay yếu tố nào đã khiến nhiều cửa hàng dịch vụ có sự biệt nhãn đối với người nói tiếng Anh như trong bài báo bạn Nguyễn Thân Hiệp (Tuổi Trẻ ngày 18-8-2009) đã nêu và các bạn khác (Tuổi Trẻ ngày 19-8) cũng chia sẻ - đó chính là sự vụ lợi. Người nói tiếng Anh chắc chắn có nhiều tiền hơn, chi phí cho sinh hoạt hằng ngày lớn hơn và cũng dễ “boa” cho người phục vụ hơn... Tuy không ai tuyên bố song người ta ngầm thống nhất phong cho người nói tiếng Anh danh xưng “công dân loại một”, hoặc “thượng đế loại một”.

  • Dù ở đâu và thời nào thì cái tinh thần chi phối cách sống con người vẫn phải là tôn trọng nhau, sung sướng cảm thấy sự có mặt của nhau trong cuộc đời này và cùng hướng tới sự hoàn thiện trong lời nói cũng như hành động.
Đây không phải là chỗ bàn kỹ về thói vụ lợi, tôi chỉ muốn lưu ý lối nhìn thiển cận này hiện là yếu tố chi phối ứng xử của người mình, từ trong mối quan hệ riêng tư đến các việc lớn liên quan đến cả đời người như chọn ngành chọn nghề, chọn nơi làm việc và cả tình yêu, hạnh phúc nữa. Có bạn sẽ hỏi thế trên máy bay các cô phục vụ thừa biết hành khách có mua bán gì đâu, nếu đối xử tốt cũng có hưởng lợi lộc gì ngay đâu, sao họ vẫn niềm nở lịch sự với người nói tiếng Anh và chỏng lỏn hoặc cáu gắt với các loại hành khách khác? Đơn giản lắm, ở đây có sự chi phối của thói quen. Ứng xử của người ta không chỉ là theo sự quy định của tình huống mà là được hình thành từ hoạt động liên tục trong thời gian. Vấn đề theo tôi không phải ở chỗ người phục vụ tử tế niềm nở với người nói tiếng Anh, mà ở chỗ hằng ngày chúng ta đối với nhau không ra sao và thường nghĩ về nhau quá tệ. Nếu bảo thói quen thì đây là một thói quen đã trở nên thuần thục, thế mới hại! Đó là sự suồng sã thô lỗ tầm thường trong ăn nói đối xử. Đó là sự thạo đời theo nghĩa xấu, nhìn đâu cũng thấy lừa dối hư hỏng nên không sao tìm được thái độ thân ái và sự tôn trọng nhau tối thiểu. Đó là một lối sống bất chấp tình người, coi sự tự trọng là xa xỉ, chỉ cốt nhàn thân và bỏ ngoài tai những lời đàm tiếu chính đáng. Một bạn đọc đã viết “hay là người ta nghĩ dân VN rành nhau quá nên không cần màu mè chi cho mệt?”. Quả có thế thật, từ xưa đã thế và nay càng thế. Những ai từng học qua bậc phổ thông thường được học về ca dao tục ngữ và hẳn ghi nhớ trong đầu những ý tưởng sâu sắc của dân gian. Tuy nhiên, chúng ta chỉ được nghe giảng và bảo là phải nhập tâm những Anh em như thể chân tay, Lá lành đùm lá rách, Bầu ơi thương lấy bí cùng, nhưng lại ít biết những Cháy nhà hàng xóm bình chân như vại, Quen thì lèn cho đau, Anh em nắm nem ba đồng, muốn ăn thì trả sáu đồng mà ăn. Trong thái độ đối xử với nhau dân mình từ xưa vẫn có lối quy nguyên nhân mọi bất hạnh của mình vào sự có mặt của người bên cạnh, và “đi guốc vào bụng nhau” bằng khái quát “bụng ai cũng thối hết”. Thời hiện đại mở ra cho con người một trường hoạt động rộng rãi hơn, nhưng cuộc mưu sinh lại tàn bạo hơn và tâm hồn con người càng trở nên cằn cỗi hơn - theo sự đọc được của tôi thì đây là xu thế mà các nhà văn ở nhiều nước đã nêu ra và ở ta sau những năm chiến tranh khốc liệt lại càng thấy rõ. Ai cũng thô lỗ thì mình thô lỗ một chút có sao! Lịch sự tử tế có lợi gì đâu, cốt vài chiêu nói dối là qua hết mọi chuyện... Người ta nghĩ thế và bỏ mặc mình làm tù binh cho những thói xấu. Là một người thuộc về thế hệ cũ, tôi thường nhớ lại thời chúng tôi mới lớn lên với cảm tưởng sao mà lúc đó đời sống thiêng liêng lạ. May được bộ quần áo nhận ra công lao của bao người, mua được quyển sách mới thấy sao có người tài thế, viết ra được những quyển sách giá trị thế. Chẳng những các thầy giáo đối với bọn tôi là những ông thánh mà ngay trong gia đình, bố mẹ đối với bọn tôi cũng là cái gì cao vời. Mỗi lời song thân khuyên nhủ là kỷ niệm sâu sắc, bọn tôi nhớ từng lời dạy bảo chứ không có cái cảnh bố mẹ muốn nói mà con cái lại “biết rồi, khổ lắm, nói mãi” bỏ đi chơi như thời nay. Những nhận xét mà bạn Nguyễn Thân Hiệp và các bạn khác nêu trên Tuổi Trẻ mấy ngày qua là chính xác. Tôi không làm việc bào chữa, tôi chỉ muốn nói tâm trạng của nhiều người chúng tôi, như một câu trong Truyện Kiều: rằng quen mất nết đi rồi, biết mà lại bỏ qua, không chịu sửa. Trong hoàn cảnh nan giải ấy, những cuộc tiếp xúc với các bạn ở xa về và những người nước ngoài khác là dịp tốt để một số chúng tôi thức tỉnh và trở về với tinh thần tốt đẹp của truyền thống. Thứ Sáu, 21/08/2009TUOI TRE ONLINE

Đọc tiếp ...

20 thg 8, 2009

Những niềm vui khác nhau

Giở nhiều cuốn tạp chí chuyên về văn học in ra ở nhiều nước Tây Âu khoảng vài chục năm gần đây, người ta thấy phê bình được dành cho một phần đất rộng rãi: trong khi thơ chỉ vẻn vẹn vài ba trang, văn xuôi hơn chục trang thì phê bình đủ loại chiếm tới trên trăm trang. Các tạp chí như vậy, đua nhau ra đời.

Đọc tiếp ...

12 thg 8, 2009

Vài nét về tư duy tự sự của người Việt

I

Thông thường một nền văn học được nghiên cứu bằng cách đi sâu đánh giá phân tích các tác giả tác phẩm quan trọng rồi từ đó hình thành nên các giai đoạn các thời kỳ chủ yếu mà nền văn học đó đã trải qua .

Đọc tiếp ...

9 thg 8, 2009

Truy tìm căn nguyên thói “háo danh” của trí thức

(TuanVietNam)- Không phải người trí thức Việt Nam sinh ra đã ham chức danh như chúng ta thấy. Hoàn cảnh đẩy họ đến chỗ phải làm vậy. Sự mệt mỏi và nghiệp dư trong quản lý khiến cho công việc càng về sau càng được làm qua loa dễ dãi. Những người cơ hội kém cỏi chỉ chờ có thế. Họ “lẻn” ngay vào những chỗ đất trống... Nói như Cao Xuân Hạo, thói háo danh “có thể tăng rất nhanh theo cấp số nhân và biến thành một bệnh dịch quật ngã hàng triệu người” Ngành văn chương mà tôi làm việc thuộc khu vực mà người ta hay nhấn mạnh tính bản địa. Ngoài cái háo danh kiểu vô thức tập thể - cho rằng văn chương nước mình chẳng kém gì thế giới, rồi thường xuyên mũ cao áo dài vái lậy, tôn vinh nhau ngay trong sinh hoạt hàng ngày, còn một lối chạy theo danh vị kín đáo hơn, nhưng chắc chắn hơn. Đó là lo mấy câu thơ của mình được đưa vào sách giáo khoa cho học sinh cả nước học, lo tên tuổi của mình thường xuyên được nhắc nhở trên các phương tiện thông tin đại chúng, nịnh nọt những người được phân công viết văn học sử đương đại, cốt họ dành cho mình vài dòng trong sách và nhờ thế mình sẽ ở lại với vĩnh viễn. Sự phát triển tính hiếu danh”vượt xa kế hoạch” như thế này có những liên quan đến tình trạng của giới trí thức đương thời cũng như quan niệm của xã hội về họ. Hệ quả của một thời chiến tranh Xã hội sau 1945, căn bản là xã hội của tư duy công nông nghĩa là của những người hành động. Mọi sự tính toán xa xôi, những công việc không có lợi ích ngay cho sự nghiệp nếu không bị thù ghét thì cũng không thể được xem trọng như đáng lẽ phải có. Cuộc sống hàng ngày quá ư vất vả, thành ra tuy vẫn hiểu chủ trương lớn là trọng trí thức, nhưng trong thực tế người ta vẫn thành kiến với họ, chí ít là không tôn trọng họ, thấy họ quá kềnh càng phiền phức. Nên nhớ nét chủ đạo của hoàn cảnh là không khí thời chiến. Chiến tranh cào bằng tất cả. Chiến tranh tước đi những tự do tối thiểu của mọi công dân vì lúc ấy cần phải vậy. Sự tập trung cho chiến tranh làm nảy sinh trong xã hội VN dăm sáu chục năm nay một tâm lý thường trực, là chỉ tính chuyện ăn ngay trước mắt. Ngay trong thời kỳ 1946-54, một nền giáo dục thời chiến đã được tổ chức để đào tạo nhân tài. Nhưng cũng vì cần phục vụ ngay nên đó là một nền giáo dục mang nặng tính thực dụng, không muốn và không thấy cần đạt tới chuẩn mực cần thiết. Tình trạng phi chuẩn này còn được kéo dài mãi và trở nên nặng căn thêm bởi lý do sau đây. Khẩu hiệu của cách mạng là giáo dục phổ cập. Nhưng kinh tế thì chưa bao giờ hết khó khăn để đáp ứng nổi nhu cầu của đại chúng về giáo dục. Ngoài cách pha loãng, làm nhẹ, làm giảm thiểu chất lượng, không còn có cách nào khác. Theo những quy luật đã chi phối kẻ sĩ thời phong kiến, như vậy là tính háo danh và bệnh vĩ cuồng đã có đủ điều kiện để bắt rễ vào tư duy và nếp sống của lớp trí thức mới được đào tạo. Nhìn vào giáo dục những năm hoà bình 1954-65, cũng như thời chống Mỹ, thấy số năm học ở phổ thông, ở đại học có thể tăng, một số thầy giáo được đi học ở Nga, Trung Quốc và các nước Đông Âu... Nhưng về căn bản, cái hồn cốt của giáo dục vẫn là chắp vá, tạm bợ, không có khả năng hội nhập với giáo dục thế giới. Các bằng cấp của chúng ta chưa bao giờ được đông đảo các nền giáo dục khác công nhận là một bằng chứng về tình trạng cô lập kéo dài đó. Giai đoạn “phong cấp, phong tước” thời hậu chiến Đánh dấu bước ngoặt trong ngành giáo dục cũng như trong quan niệm về giới trí thức là năm 1958 và mấy năm sau। Chịu ảnh hưởng của cuộc đấu tranh chống phái hữu ở Trung Quốc, và cuộc đấu tranh chống nhóm Nhân văn bên Văn nghệ, giới Đại học trước tiên là khu vực khoa học xã hội đã có một cuộc “thay máu”। Các giáo sư nòng cốt như Nguyễn Mạnh Tường, Trần Đức Thảo, Đào Duy Anh, Trương Tửu và lớp trẻ đầy tài năng như Cao Xuân Hạo, Phan Ngọc... bị cho thôi việc hoặc chuyển sang các viện nghiên cứu, thực tế là chỉ ngồi chơi xơi nước hoặc làm những việc không quan trọng như dịch tài liệu. Lớp người thay thế được chọn ra chủ yếu theo tiêu chuẩn chính trị. Ban đầu, nhiều người trong số mới lên này nhũn nhặn, tự nhận là mình chỉ đóng vai trò thay thế, không đòi hỏi gì về chức danh, vui vẻ với đồng lương bé mọn mà vẫn chăm chỉ làm việc, và trong thực tế họ đã đóng vai trò thúc đẩy khoa học tiến tới. Tuy nhiên đến khoảng 1973-74 thì có một tình hình mới. Trong thực tế giảng dạy và nghiên cứu, nhu cầu chuẩn hoá dù không được đặt ra chính thức, song vẫn như một xu thế mà bất cứ nền giáo dục nào cũng phải hướng tới. Ít ra là bề ngoài ta phải có được hình thức cho dễ coi một chút! Lại thêm những khía cạnh mới trong tình hình xã hội đòi hỏi điều đó. Cuộc chiến tranh giải phóng bước vào giai đoạn kết thúc. Có một phương án sau này không xảy ra nhưng lúc đó được tính tới, đó là những cuộc đối thoại giữa hai xã hội miền Bắc và miền Nam. Trong cuộc đối thoại đó, không thể bỏ qua tiếng nói của giới trí thức. Ta cần phải có những giáo sư của ta những trí thức của ta chứ! Phải chứng minh cho phía bên kia thấy rõ là miền Bắc không chỉ biết làm chiến tranh mà còn biết làm học thuật. Và thế là nhu cầu phong cấp phong chức nổi lên, nó là đòi hỏi từ hai phía cả từ bên trong bản thân giới học thuật lẫn nhu cầu của xã hội. Cái cách của xã hội ta xưa nay vẫn vậy. Thấy cần là làm, không đủ điều kiện cũng làm, làm bất kể phép tắc. Và từ chỗ ban đầu còn chặt chẽ nghiêm túc, sự mệt mỏi và nghiệp dư trong quản lý khiến cho công việc càng về sau càng được làm qua loa dễ dãi, chín bỏ làm mười mà có khi chỉ năm sáu thôi cũng đã coi là mười. Những người cơ hội kém cỏi chỉ chờ có thế. Họ “lẻn” ngay vào những chỗ đất trống (tôi mượn chữ lẻn từ câu Kiều "Đẩy song đã thấy Sở Khanh lẻn vào” ) và từ chỗ xấu hổ, biết điều, quay ra chủ động thao túng tình hình. Mỗi chúng tôi đã bị làm hỏng như thế nào? Không phải người trí thức Việt Nam sinh ra đã ham chức danh như chúng ta thấy. Hoàn cảnh đẩy họ đến chỗ phải làm vậy. Cách đây khoảng hai chục năm, tôi đọc được trên tấm danh thiếp của anh C. một người quen, bên cạnh tên tuổi có ghi thêm các chức danh sau đây, mỗi chức danh một dòng, tổng cộng chín dòng. dòng 1:Nghề anh học ở đại học dòng 2: Nghề anh đang làm dòng 3 : Chủ tịch Hội.... dòng 4: Tổng biên tập báo... dòng 5: Đại biểu Quốc hội (năm đó anh đang là một ông nghị) dòng 6: Thành viên Uỷ ban xxx của Quốc hội Ngoài ra là ba chức danh nữa, tôi không nhớ xuể nhưng hình như là các loại giải thưởng được trao tặng. Thú thực ban đầu tôi cũng thấy buồn cười, nhưng sau thì thông cảm. Hồi ấy anh bạn tôi sau những nỗ lực bền bỉ, từ công việc chuyên môn được ngắm nghía để cơ cấu vào giới quan chức. Lớn lên từ đám học sinh Hà Nội rồi thành cán bộ nhà nước, chúng tôi đã nếm đủ những đau xót của một bọn người mang tiếng là người làm nghề sáng tạo trong xã hội, luôn luôn cảm thấy mình có tội vì đã coi trọng việc học. Đó là về tinh thần. Còn vật chất thì sao? Bao giờ đến lượt được mua xe đạp, bao giờ đến lượt được tăng lương, những việc đó chờ đã mỏi cổ, nói chi đến việc có được một cái nhà, xoay được một chuyến đi ngoại quốc? Không ai tuyên bố chính thức, nhưng tất cả thực tế hình như đồng thanh rót vào tai mình, chỉ có một cách hết nghèo hết khổ là lọt vào tầm mắt của lãnh đạo. Trở thành quan chức thì tốt nhất. Nếu không thì cũng phải có được những chức danh trong nghề, nó là cái dấu hiệu đánh dấu mình. Dù có phải luồn cúi chạy chọt một chút song vì cuộc sống bản thân và gia đình, hãy ráng mà giành lấy cho mình những danh vị cần thiết. Tôi đã nói là cần thông cảm với anh bạn C với tấm danh thiếp chín chức danh của mình. Vì hồi ấy sau khi ghé chân quan trường, đoàn thể, anh đang lo xin đất làm nhà. Một là, tuy biết trên nguyên tắc trước sau làm quan sẽ sớm được chia nhà, nhưng trong thực tế không đơn giản có ghế là có nhà ngay. Muốn được miếng ngon miếng sốt, còn phải cạnh tranh chán với các vị quan khác thì mới được như ý. Hơn nữa, quan trong văn nghệ là do dân cử, có khi chỉ ngồi được vài năm. Vốn tính thực dụng, anh bạn tôi hoàn toàn hiểu điều đó. Ngồi chưa ấm ghế, anh bắt tay ngay vào việc xin đất. Mà anh làm thật khôn ngoan. Người khác hách dịch công khai huy động cả cơ quan lo chuyện riêng cho mình. Còn C. thì hoàn toàn lặng lẽ tự mình làm hết. Lặng lẽ viết công văn. Lặng lẽ đóng dấu. Lặng lẽ đến các nơi có liên quan. Chính tấm danh thiếp chín dòng của C mà tôi dẫn ra ở trên xuất hiện trong thời gian đó. Tôi thầm dự đoán anh bạn đã phải loay hoay rất nhiều trong việc soạn ra danh sách các chức vụ để không quên một chức nào. Đây là tôi nói loại người còn đang hiền lành, nhân biết cái danh có thể đổi ra tiền thì lợi dụng nó. Lại còn loại người thứ hai là điên cuồng săn đuổi danh vị, sau đó mượn danh vị để tiến thân, ngày càng leo mãi lên trong hệ thống quan chức, dù chỉ là trong phạm vi quan chức chuyên môn. So với họ, anh C. của tôi còn tử tế chán. Nhưng cả loại người này nữa cũng không phải là “từ trên trời rơi xuống”. Mà họ cũng là sản phẩm của một sự thích ứng - thích ứng với cách đánh giá người và dùng người của xã hội. Nhưng đây là vấn đề thuộc về khoa xã hội học quan chức mà tôi chưa có dịp nghiên cứu. Trong bài này, trong chừng mực nào đó, tôi đã mở rộng ra nói về thói háo danh và căn bệnh vĩ cuồng mà người mình thường mắc, từ xưa trong hoàn cảnh nhược tiểu đã mắc, tới nay trong hoàn cảnh chớm hội nhập với thế giới bệnh lại trầm trọng hơn. Đây là những quan sát bước đầu, cần sự chia sẻ phản bác của các đồng nghiệp. Để kết thúc, tôi đưa ra hai kết luận cuối cùng : Một là hãy thông cảm với những người trong cuộc. Không phải người trí thức Việt Nam sinh ra đã ham chức danh như chúng ta thấy. Hoàn cảnh đẩy họ đến chỗ phải làm vậy. Hai là, bệnh khó chữa lắm. Vì nó chỉ là một biểu hiện của tình trạng tha hóa trí thức cần được nghiên cứu trên quy mô rộng hơn và có tầm khái quát hơn. 09/08/2009 TUANVIETNAM

Đọc tiếp ...

8 thg 8, 2009

"Giới thông thái chân đất"

(TuanVietnam) - Công cuộc phát triển đòi hỏi đất nước phải có một tầng lớp trí thức ngang tầm quốc tế và khu vực, ở đó không thể có sự nửa vời, sự tự hạ thấp tiêu chuẩn để làm dáng. Nền giáo dục đơn sơ Nhiều năm qua chúng ta hay nói một cách hồn nhiên rằng dân ta ham học và trong quá khứ ta có một nền giáo dục chẳng kém gì những nước khác. Bản thân tôi ban đầu cũng tin như thế, sau thực tế ngày càng thấy phải nói ngược lại. Trong một cuốn sách lịch sử giáo dục (1) tôi thấy người ta chỉ ra rằng thật ra giáo dục là chuyện xài sang. Chỉ những đất nước giàu có mới có tiền của để chi cho giáo dục theo đúng nghĩa của nó. Khi nền kinh tế ở trình độ tiểu nông manh mún, thậm chí trình độ hái lượm, con người có mỗi việc kiếm ăn đã không làm nổi, ta chỉ có thứ giáo dục ở dạng đơn sơ, kém cỏi. Ta hay khoe, người dân quê nào ở nông thôn VN cũng sẵn sàng bớt ăn bớt mặc cho con đến học ở các thầy đồ lấy “năm ba chữ thánh hiền”. Nhưng hãy nhìn kỹ vào những lớp học đó. Trường sở sơ sài. Sách vở tài liệu không có, đến bữa cơm chắc bụng cho người dạy cũng không có nốt (nhiều truyện tiếu lâm toàn ghi lại chuyện thầy đồ ăn vụng) - thử hỏi sau mấy năm theo học các ông thầy ấy, phần lớn các cậu học trò nhà quê học được gì ? Biết dăm ba chữ để đủ đọc tên mình trong khế ước văn tự thế thôi chứ làm sao hơn được?! Sự ham học có tính cá nhân nông nổi đó chưa bao giờ kết hợp với nỗ lực của cộng đồng để xây dựng nổi cơ chế giáo dục hợp lý và một nội dung giáo dục lâu dài, có triển vọng. Đọc lịch sử, đời Lê, sau khi đánh xong giặc Minh, nhà vua lo cầu hiền tài để chọn quan lại ở cấp cơ sở. Chọn như thế nào? Chẳng qua chỉ một số người tinh nhanh đủ chữ ghi chép và … biết làm tính (2). Theo như cách nói của một tác giả trên tạp chí Văn hóa nghệ thuật thì một nét đặc thù của trí thức VN trong lịch sử là tính cách lưỡng phân. Ông Nguyễn An Ninh, tác giả bài này giải thích: Họ vừa là kẻ sĩ vừa là nông dân. Khi không thể sống bằng chữ tức bằng nghề của mình, nhu cầu trí tuệ của họ bị giảm thiểu. Những xung lực cho hoạt động trí tuệ ở họ thường xuyên bị kìm hãm. Gặp hoàn cảnh khó khăn , họ dễ bị hư hỏng. Tính cách lưỡng phân ấy là cả một ám ảnh, như ám ảnh về quê hương nghèo đói. Ta hiểu tại sao một số trí thức tỉnh táo khi đã thành đạt, vẫn không thể quên nguồn gốc của mình, cái nơi mà từ đó mình đi tới. Đây là lời dặn của Nguyễn Khuyến cho con cái: Các con nối nghiệp cha nên biết Nghiên bút đừng quên đậu lúa cà Thế sao những người nông dân một nửa này vẫn miệt mài đèn sách để có ngày lều chõng khoa cử thì sao? Bởi việc nhồi vào óc một ít kiến thức cổ lỗ sở dĩ thu hút được toàn bộ tinh hoa nghị lực của nhiều người vì đó là con đường ngắn nhất để được gia nhập vào hàng ngũ quan chức. Không có sản phẩm trí thức Tự hào về nền giáo dục xưa, ta hay đưa dẫn chứng là trong lịch sử, các triều đại đã mở nhiều khoa thi và đã lấy được nhiều tiến sĩ, các bia tiến sĩ đó còn được đặt trong Văn miếu. Nhưng thử hỏi trước tác của các vị tiến sĩ đó là gì hay chỉ là những bài văn mòn sáo sau khi dâng vua thì chính người viết ra nó cũng quên nó luôn. Có thể chứng minh sự kém cỏi của nền giáo dục cổ ở một khía cạnh khác. Nhân xem xét danh sách các tác gia văn học VN bằng con mắt thống kê, người ta đã phát hiện ra một nghịch lý vui vui. Đó là nhiều nhà văn nhà thơ VN thời trước nổi tiếng mà không có tác phẩm (đây là nói những tác phẩm dày dặn, có chất lượng đáng kể, được truyền tụng về sau và trở thành một đối tượng mô tả bắt buộc của các bộ từ điển). Từ điển văn học Việt Nam do Lại Nguyên Ân biên soạn với sư cộng tác của Bùi Văn Trọng Cường có 276 mục dành cho tác giả trong khi chỉ có 132 mục dành cho tác phẩm. Từ thế kỷ thứ X đến hết thế kỷ XIX, tính đổ đồng, mỗi thế kỷ chỉ có 7 tác phẩm; riêng thế kỷ XIX khá hơn, có tới 68 tác phẩm được ghi vào từ điển, nhưng số tác giả cũng lớn hơn, tới 78 người. Cái hiện tượng cây không trái này (đúng hơn, có thể là toàn những trái chua trái héo, không cần cho ai, đời sau không ai buồn nhớ) càng thấy rõ khi nhìn vào hàng ngũ các ông trạng - chúng tôi muốn nói tới trạng chính thống chứ không phải trạng theo nghĩa dân gian. Theo Vũ Ngọc Khánh trong cuốn Kho tàng về các ông trạng VN thì không kể triều Nguyễn không lấy trạng nguyên, các triều đại Lý Trần Lê có tới 47 người được phong trạng. Nhưng phần lớn họ không có tên trong danh sách các tác gia nổi tiếng ở nước ta. Ngược lại, xét chung các nhà sáng tác thơ văn, từ Nguyễn Du tới Nguyễn Đình Chiểu, từ Nguyễn Gia Thiều Phạm Thái cho tới Tú Xương, nhiều người không thuộc loại đỗ đạt cao. Riêng về biên khảo, một học giả thực thụ như Phan Huy Chú, tác giả của bộ sách đồ sộ, mang tính cách tổng kết lớn, một thứ bách khoa toàn thư là Lịch triều hiến chương loại chí, chỉ đỗ đến tú tài. Câu chuyện người đỗ không giỏi và người giỏi không đỗ không chỉ tố cáo sự kém cỏi của hệ thống giáo dục mà còn cho thấy một phần thực chất con người của nhiều ông trạng. Họ chính là điển hình của loại học trò thuộc bài, chỉ biết tầm chương trích cú rồi làm theo những khuôn mẫu sẵn có, nói chung là những cá tính tầm thường, không có quan hệ gì tới tư duy độc lập và sự sáng tạo. Ta đã có tầng lớp tri thức đúng nghĩa? Ta đã có tầng lớp tri thức đúng nghĩa chưa? Bước vào giai đoạn hội nhập, gần đây, những cuộc bàn cãi xuất hiện đều đều trên mặt báo ở ta cho thấy vấn đề về giới trí thức đang là mối quan tâm chung của xã hội. Điều này có lý do chính đáng của nó. Sự trì trệ kéo dài hàng ngàn năm mà đến nay ta vẫn lĩnh đủ có một nguyên nhân sâu xa: cộng đồng không hình thành nổi bộ phận tinh hoa (elite) của mình. Một chủ nghĩa bình quân tối đa đã níu kéo tất cả lại. Tôi muốn đặt vấn đề: liệu trong thực tế lịch sử chúng ta đã có một tầng lớp trí thức đúng nghĩa chưa? Nếu tạm thời chấp nhận là có một tầng lớp như vậy, thì quá trình hình thành của họ có đặc điểm gì? Tại sao họ dễ bị làm hỏng đến vậy? Trước 1945, những Phan Kế Bính, Phạm Quỳnh, Đào Duy Anh, Nguyễn Văn Huyên, các tác giả có bài thường xuyên trên Tri Tân Thanh Nghị… đã có ý kiến về vấn đề này mà chưa ai có dịp tổng kết. Tuy không nói ra, nhưng có vẻ như với nhiều người, kẻ sĩ Việt Nam chỉ là một loại trí thức chân đất. Một số nhà nghiên cứu gần đây đôi khi còn đi tới những khái quát cực đoan hơn. Trong một bài viết mang tên Tâm lý dân tộc với cuộc Cải cách hành chính hiện nay nhà xã hội học lão thành Đỗ Thái Đồng cho rằng xã hội cổ truyền VN thiếu ba chỗ dựa cơ bản: - Không có giai cấp quý tộc trong khi có đông đảo đám quan lại nhất thời. - Không có tầng lớp trí thức để có được các trào lưu học thuật tư tưởng riêng. Rất hiếm thấy cái cốt cách như Lý Bạch“ Thiên tử hô lai bất thượng thuyền”. Học để làm quan, tuyệt đại đa số kẻ sĩ đều mộng làm quan hơn là giữ vai trò thầy đồ… áo rách. - Không có lớp doanh nhân tung hoành về thương mại hay công nghệ trong nước cũng như ngoài nước. Trong ba đặc điểm tôi cho là được nêu ra chính xác này, cái thứ hai liên quan đến chủ đề trí thức chúng ta đang nói. Thói háo danh chẳng qua chỉ là dấu hiệu của một tầng lớp trí thức non yếu. Còn mọi thái độ dễ dãi với họ chiều nịnh họ mà không dám yêu cầu cao ở họ cuối cùng chỉ đẩy họ sa đà mãi trong tình trạng bần cùng về trí tuệ và nẩy sinh những căn bệnh mới. Cũng nên nói thêm, sự dễ dãi này ban đầu có vẻ là một thiện ý hoặc nói như chữ nghĩa thời nay – một sự chia sẻ, nó bắt đầu từ một cảm nhận chung về sức ép của hoàn cảnh. Nó là cách nghĩ từng ngự trị trong xã hội một thời gian dài. Đất nước lo gồng mình lên để chống ngoại xâm. Cuộc sống khó khăn đến nỗi, khi nghĩ về nhau người ta chỉ thấy những điều tốt đẹp, cốt sao giữ lấy cho nhau niềm tự tin, rồi động viên nhau hợp sức trong việc chống trọi lại các thế lực thù địch từ bên ngoài tới. Tức nó là sản phẩm của những thời đại mà mọi nỗ lực của con người là lo tồn tại, tới mức có thể bảo nền văn hóa của chúng ta là văn hóa để tồn tại. Còn nếu như đặt vấn đề tồn tại chỉ là chuyện tối thiểu, cái đáng lo hơn, như hôm nay, là chuyện phát triển, chúng ta sẽ phải nghĩ khác về quá khứ và luôn thể nhìn lại khác đi về nhau. Nay là lúc mọi sự vuốt ve nhau dễ dãi, là không đủ nữa. Công cuộc phát triển đòi hỏi đất nước phải có một tầng lớp trí thức ngang tầm quốc tế và khu vực, ở đó không thể có sự nửa vời, sự tự hạ thấp tiêu chuẩn để làm dáng. Ghi chú: (1) Roger Gal Lịch sử giáo dục, bản dịch Lê Thanh Hoàng Dân-- Trần Hữu Đức. NXB Trẻ-- Sài gòn, 1971 (2) Dẫn theo Đại Việt sử ký toàn thư của nhà xuất bản Khoa học xã hội 1983, tập II tr 296 (5) Nguyễn An Ninh Tính chất lưỡng phân, một nét đặc thù của trí thức Việt nam trong lịch sử Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật 1998, số 1 Chú ý xin đừng lầm với Nguyễn An Ninh (1900-1943), nhà hoạt động xã hội ở đầu thế kỷ XX. Có điều thú vị là nhà trí thức lớn Nguyễn An Ninh trước đây cũng từng nhận xét xứ ta là nơi mà “chỉ với một chút xíu khoa học” người ta đã có thể tự coi mình là nhà thông thái, tương tự như “với hai xu trong túi, người ta đã trở thành những nhà giàu.” Khi lưu ý tình trạng nhiều người “cảm thấy thỏa mãn vừa lòng khi chui rúc trong một túp lều”, hình như ông muốn nói rằng tình trạng thiếu khát vọng và ý chí đã kìm giữ mãi chúng ta trong khung cảnh lạc hậu. 08/08/2009 TUANVIETNAM

Đọc tiếp ...

7 thg 8, 2009

Thói háo danh và vĩ cuồng của trí thức

(TuanVietNam) - Thói háo danh và căn bệnh vĩ cuồng, từ xưa trong hoàn cảnh nhược tiểu nhiều người đã mắc, tới nay trong hoàn cảnh chớm hội nhập với thế giới, bệnh lại trầm trọng hơn trong một bộ phận trí thức. Lời TS: Trí thức là một thành phần quan trọng, đóng vai trò định hình tư tưởng, dẫn dắt xã hội. Tuy vậy, theo nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn, không phải toàn bộ nhưng ít nhất một bộ phận trong số họ có những nhược điểm cố hữu. Tuần Việt Nam xin giới thiệu một số bài viết của ông về chủ đề này với mục đích tự nhìn lại mình, phản tư để thấu hiểu và thay đổi chính mình. Bệnh sùng bái danh hiệu, chức vụ... trong giới trí thức vừa được Đặng Hữu Phúc xem như một quốc nạn. Chỉ có thể chia sẻ với một khái quát như thế nếu người ta nhận ra những gì đứng đằng sau cái căn bệnh có vẻ dễ thương đó là sự liên đới của nhiều “chứng nan y“ cùng là sự tha hoá của giới trí thức cũng như của nhiều lớp người khác. Bài viết Tôi chỉ là Ashkenazy! Hay quốc nạn loạn chức danh, học vị gợi tôi nhớ tới một câu chuyện trong sử cũ. Nhìn người bằng... chức danh Nửa cuối thế kỷ thứ XVII, có một trí thức Trung Quốc là Chu Thuấn Thuỷ trên bước đường chống Thanh phục Minh nhiều lần đến Việt Nam. Lần ấy, khoảng 1657, nghe Chúa Nguyễn có hịch chiêu mộ những ai biết chữ để giúp vào việc nước, Chu ra trình diện. Nhưng ông cảm thấy chung quanh không hiểu mình, không thi thố được tài năng, lại bị làm phiền, nên bỏ sang Nhật. Sau ông đóng góp rất nhiều vào viêc phát triển xã hội Nhật. Chu không phải là loại người đọc sách xa lánh sự đời. Một học giả Nhật đã viết về Chu “ .(Cái học của tiên sinh nhấn mạnh về "kinh bang tế thế". Giả sử nếu cần biến một vùng đất hoang thành phố thị, phải tập hợp sĩ nông công thương, thì một tay tiên sinh có thể cáng đáng để xây dựng nên phố thị. Thay vì “ thi thư lễ nhạc” tiên sinh thích nghiên cứu và tìm hiểu sâu sắc về cách canh tác ruộng nương và cách xây dựng nhà cửa, cách làm rượu làm tương... Tiên sinh có thể dạy người ta bất cứ việc gì (1) Riêng chuyện bộ máy chính quyền Đàng Trong không thể chấp nhận một người như trên, đủ cho ta hiểu trình độ của bộ máy đó là như thế nào. Trong tập ký sự của mình, Chu Thuấn Thuỷ kể khi trình diện nhà cầm quyền địa phương, gặp chuyện buồn cười là người Việt Đàng Trong bắt ông ứng khấu ngay một bài thơ rồi viết trên giấy. Tiếp đó câu đầu tiên bị hỏi là “Cống sĩ với cử nhân và tiến sĩ, bên nào hơn ?“. Khi biết Chu chỉ là cống sĩ, viên quan địa phương có ý xem thường, cho học lực của Chu không thể nào đọ được các vị khoa bảng nhà mình. Từ câu chuyện về Chu Thuấn Thuỷ tới câu chuỵên về nghệ sĩ Nga Vladimir Ashkennazy mà Đặng Hữu Phúc vừa kể, như là có sự nối tiếp. Hoặc có thể nói cả hai phối hợp với nhau làm nên một đôi câu đối khá chỉnh. Một bên thì không thể hiểu người nổi tiếng lại không có một chức danh nào, còn bên kia thì không cần biết trước mặt mình là người đã được hoàng đế nhà Minh mời ra giúp nước, chỉ nghe cái bằng cống sĩ đã bĩu môi chê bai - giữa người ngày xưa với người ngày nay, sao mà có sự ăn ý đến thế! Từ háo danh tới vĩ cuồng Đặng Hữu Phúc đã nói tới cái khó chịu khi phải nghe đám người “mở miệng là họ nói tới chức tước “ - tức đám người háo danh - trò chuyện với nhau. Ai đã sống trong giới trí thức ở ta hẳn thấy chuyện đó chẳng có gì xa lạ. Anh A và anh B vốn cùng nghề và cùng cơ quan, họ cùng dự buổi họp nhỏ, chứ không phải đăng đàn diễn thuyết trước bàn dân thiên hạ gì. Thế mà cứ động phát biểu thì từ miệng anh A, vang lên nào là “như giáo sư B đã nói” (gọi đầy đủ cả tên họ), nào là “tôi hoàn toàn đồng tình với các luận điểm giáo sư B. vừa trình bày“ (Thực ra có luận điểm khoa học gì đâu mà chỉ là mấy nhận xét vụn). Và B cũng đáp lại bằng cách nói tương tự. Khi phải dự những cuộc hội thảo ở đó cách xưng hô và nói năng giữa các thành viên theo kiểu như thế này, tôi chỉ có cách ráng chịu một lúc rồi lảng. Tôi không sao nhớ nổi họ nói với nhau điều gì. Và tôi đoán họ cũng vậy. Vì mỗi người trong họ có vẻ còn mải để ý xem người phát biểu đã gọi người khác đúng chức danh chưa, hay để sót, chứ đâu có chú ý tới nội dung các phát biểu. Không khí nhang nhác như những buổi họp quan viên trong các làng xóm xưa, mà Ngô Tất Tố hay Nam Cao đã tả. Tại sao chúng ta khó chịu với lớp người háo danh này? Đơn giản lắm, ta thấy họ ấu trĩ, non dại, thực chất họ thấp hơn cái vị thế mà họ chiếm được, không xứng với chức danh họ nhăm nhăm mang ra khoe. Ai đã thử quan sát tình trạng tinh thần của đám người mê tín hẳn biết, người càng thiếu lòng tin, thì khi vào cuộc mê tín càng cuồng nhiệt. Giới trí thức cũng vậy, cái sự thích kêu cho to chẳng qua là một cách để xoá bỏ mặc cảm. Kẻ yếu bóng vía lấy cái mã bên ngoài để làm dáng che đậy cho sự trống rỗng bên trong. Mấy thói xấu mà Đặng Hữu Phúc nêu lên chỉ đáng để người ta cười giễu, ghét bỏ, thương hại. Song ác một nỗi chính nó lại là dấu hiệu đầu tiên của nhiều chứng nan y khác chẳng hạn căn bệnh mà Cao Xuân Hạo trong một bài viết ở cuốn Tâm lý người Việt nhìn từ nhiều góc độ (2) gọi là bệnh vĩ cuồng ( me’ganomanie). Cao Xuân Hạo kể một chuyện mà thoạt nghe chắc chẳng ai dám tin. Hàng năm cơ quan lưu trữ nước mình thường phải thanh lý hàng tấn những hồ sơ “sáng kiến phát minh“ gồm toàn đề nghị viển vông do người trong nước ùn ùn gửi tới, ví dụ một người đề nghị ta cần mượn của Liên Xô (hồi đó còn Liên xô ) tên lửa vượt đại châu để bắn vào bắc cực khiến trục trái đất lệch thêm mười độ sao cho VN thay đổi vĩ độ và trở thành một nước ôn đới (vì tác giả “đề án” này tin rằng chỉ có khí hậu ôn đới mới thích hợp với một tốc độ vũ bão, giúp nước ta đuổi kịp và vượt xa các nước tiên tiến trên thế giới). Cao Xuân Hạo nói thêm điều đáng lo là ở chỗ phần đông chúng ta khi nghe những điều quái gở ở đây đều thấy bình thường, cùng lắm thì là loại sai lầm dễ tha thứ; còn ai tỏ ý kinh hoàng thì bị mọi người coi là bệnh hoạn vô đạo đức vì đã không tin vào khả năng sáng tạo của những người bình thường. Cần phải gộp cả thói háo danh và bệnh vĩ cuồng nói trên để phân tích vì giữa chúng có một điểm chung là đều xuất phát từ những người và nhóm người sống trong tình trạng cô lập, không có khả năng tự nhận thức, đứng ngoài nhịp phát triển tự nhiên của thế giới. Tình hình lại cần được xem là tệ hại bởi nó bám rễ vào bộ phận tinh hoa của xã hội. Trí thức là bộ phận mũi nhọn của một cộng đồng, của những thể nghiệm làm người của cộng đồng đó. Những nhược điểm của trí thức chẳng qua chỉ là phóng to nhược điểm của cộng đồng. Và nếu như những nhược điểm này đã thâm căn cố, đế trở thành một sự tha hoá, thì tình trạng của người trí thức sẽ là một phòng thí nghiệm hợp lý để nghiên cứu về tình trạng tha hoá nói chung. Phải nghiên cứu kỹ lưỡng thì may ra mới có cơ hội chữa chạy hay ít nhiều cũng giảm thiểu tình hình nguy hại. (1) Chu Thuấn Thuỷ Ký sự đến Việt Nam năm 1657 (An Nam cung dịch kỷ sự), Vĩnh Sính dịch và chú thích, Hội khoa học lịch sử Việt Nam 1999, tr.11 (2) Trung tâm nghiên cứu tâm lý dân tộc -- Tâm lý Người Việt nam nhìn từ nhiều góc độ, Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh,2000, tr.82-8 07/08/2009 TUANVIETNAM

Đọc tiếp ...

6 thg 8, 2009

Đi tìm một hướng nghĩ về sử Việt nam

Mấy năm nay ở ta có hiện tượng điểm sử của các học sinh trong các kỳ thi trung học kém một cách thảm hại. Và nói rộng hơn, lớp trẻ hiện nay ngán các bài sử ở trường đến tận mang tai, bất đắc dĩ phải học sử, lúc học lên có không biết thi vào trường nào khác mới chịu thi vào sử.
Tại sao như vậy ? Tại sao học sinh kém sử?
Nhiều người nói là các giáo viên chúng ta không biết dạy। Có người dám viết rằng đã gọi là lịch sử thì bao giờ cũng nhàm chán khô khan,khó hiểu lặp đi lặp lại।Họ tính chuyện tăng tính hấp dẫn của môn sử bằng tranh vẽ với lại phim ảnh,bởi tin rằng chỉ các biện pháp kỹ thuật thật xịn ấy mới giúp cho môn học đỡ ngấy.
Nếu chúng ta biết rằng ở các nước, lịch sử vẫn được người ta coi là một môn học sinh động và có sức lôi cuốn bậc nhất với học sinh, thì có thể thấy đầu mối câu chuyện không phải là ở chỗ ấy. Lịch sử sao lại nhàm chán cho được?!
Việc học sinh và người dân ở ta ngán sử,theo tôi có nhiều nguyên nhân khác nhau.
Các bài sử được giảng khô cứng tẻ nhạt thiếu hẳn chi tiết thực tế.Chuyên ngày xưa được kể lại mà cứ như chuyện ngày .Ngôn từ và cách nói của lịch sử thiếu vắng. Cũng như thiếu hẳn cảm giác về một thời gian đã qua, vừa xa lạ vừa gần gũi.Thế thì ai mà thích được ?
Vỏ đã vậy, còn ruột thì sao? Một môn học chỉ hấp dẫn khi người ta tạo cho người học cảm tưởng ở trong đó có rất nhiều bí mật, kể cả những chuyện có thực mà không một đầu óc nào tưởng tượng nổi.Nó mời gọi người ta khám phá, chứng kiến, lý giải.
Cái hồn này của sử ở ta không có।Ngược lại,người viết sử chỉ cho thấy một thứ lịch sử trên sơ đồ,lịch sử đã chưng cất phục vụ cho một mục đích giáo dục đúng đắn nhưng quá đơn điệu.Thí dụ nói đến nhà Trần đánh quân Nguyên chỉ toàn cho thấy mấy lần vua tôi bàn nhau quyết tâm Sát Thát, nói đến vua Quang Trung chỉ nói đến chiến thắng Đống Đa Ngọc Hồi …Ở trung học cũng vậy,mà lên đại học cũng vậy.Còn chuyện những người cầm quân và làm việc nước lúc ấy quan hệ với nhau ra sao,suy nghĩ cụ thể như thế nào trong hành động,có những chính sách cụ thể ra sao sau chiến thắng – tương tự như hai mẩu chuyện tôi vừa đọc được – thì không bao giờ cho học sinh biết và gợi cho chúng cần biết.
Sau khi học qua chục năm ở trường phổ thông đám trẻ thông minh hiện nay lúc vui đùa thường mang những công thức mà chúng học được trong các giờ sử ra giễu cợt : nào “có áp bức có đấu tranh “, nào “tinh thần yêu nước và căm thù giặc đã tạo nên sức mạnh “.
Khi cảm thấy không được tôn trọng,không cảm thấy cái thiêng liêng trong kiến thức mà vẫn buộc phải học,người ta không có cách phản ứng nào khác.
Muối mà không mặn còn gì là muối, sử mà không có cái phập phồng của đời sống con người trong quá khứ,làm sao gọi là sử được ?

Ghi chép của người yêu sử
Xu thế của con người là muốn hiểu, muốn biết quá khứ của mình. Con người tìm thấy sự hấp dẫn của Sử khi từ quá khứ nhận ra những mối liên hệ với ngày hôm nay, thấy ngày hôm nay là tiếp nối của ngày hôm qua. Tôi cũng vậy, tôi thích sử bởi tôi thấy các vấn đề xảy ra trong trong lịch sử dân tộc đang đổ bóng vào cuộc sống hàng ngày tôi đang sống.

Một lần đọc Hà văn Tấn tôi thấy ông trích dẫn một câu khá hay của nhà triết học B. Russel,“ đọc sử để biết những ngu xuẩn của quá khứ, nhờ thế người ta có thể chịu đựng tốt hơn những ngu xuẩn của hiện tại “
Trần Khánh Dư (không rõ năm sinh, mất năm 1339 ),thường được biết tới như một trong những công thần trong cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông.Có điều ông cũng rất giỏi tham lam vơ vét. Khi làm trấn thủ Vân Đồn, tục ở đấy quần áo đồ dùng còn bắt chước người Trung quốc, ông ra lệnh cho quân không được đội các nón kiểu phương bắc mà phải đội nón của một làng gần đấy gọi là nón ma lôi để phân biệt.Nghe thì có vẻ rất nghiêm !Có biết đâu,trước đó ông đã sai người nhà mua sẵn nón về bán, mỗi chiếc giá đắt gần bằng một tấm vải, nhờ thế cũng có được một “chiến công tưng bừng” trên phương diện kiếm lợi bỏ túi.
Câu chuyện trên không thấy ghi trong các bộ sử hiện đại, kể cả Việt nam sử lược, tôi chỉ biết được nhờ mấy hôm buồn tình lấy bộ Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú ra đọc. Đến khi tìm lại Đại việt sử ký toàn thư thấy có thêm một chi tiết có sức tố cáo mạnh hơn. Có lần người dân đã kiện Trần Khánh Dư đến tận triều đình, nhưng ông không sợ mà còn công khai tuyên bố: “ Tướng là chim ưng, dân lính là vịt, dùng vịt để nuôi chim ưng có gì là lạ ? ”.
Câu chuyện về Trần Khánh Dư trước tiên mang lại cho tôi một sự an ủi, hoá ra nhiều chuyện đời nay chỉ là phóng chiếu những chuyện đời xưa.
Về tham nhũng, Đại việt sử ký toàn thư ghi, không phải đến thời vua Lê chúa Trịnh, mà ngay từ đời Lê Nhân Tôn ( sau Lê Thái Tổ và Lê Thái Tôn, trước Lê Thánh Tôn ), tức khi vương triều thịnh trị, đã có hiện tượng “ trên thì tể tướng, dưới thì trăm quan, hối lộ bừa bãi ”.
Về những dễ dãi trong việc ban quan tước, sách Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú ghi: “ Triều Tây Sơn phong tước quá lạm, đến cả phu quét chợ, lính đẩy xe cũng đều trao cho tước hầu tước bá. Danh khí tồi đến như thế ! Muốn cho khỏi loạn,có thể được không ?”.

Chống tham nhũng đang là vấn đề “nóng”. Tôi đọc sử và phát hiện ra trong lịch sử các triều đình xưa đầy rẫy chuyện tham nhũng. Từ đời Lê Thái Tổ trở đi đã có tham nhũng rồi. Một trong những lý do đẻ ra tham nhũng bởi vì lương của quan chức ở ta thời xưa thấp quá, bù lại, triều đình thả ra cho họ tha hồ kiếm chác ở dân. Hay hiện tượng mua quan bán chức cũng sớm phổ biến, thời nào cũng có, từ trong các làng xã ngược mãi lên đến cả triều đình. Tạp chí Nghiên cứu lịch sử số ra đầu 2008, có bài nói về ngoại thương thời chúa Trịnh. Hóa ra bản chất của vấn đề y như bây giờ. Các chúa chỉ tính tới ngoại thương khi yếu quá và muốn lợi dụng khả năng quân sự của nước ngoài để đánh nhau, chứ không phải vì muốn buôn bán gì cả. Lúc thì cấm, lúc thì cho phép, lung tung tuỳ tiện. Những người làm ngoại thương vì xã hội thì ít mà vì chính mình thì nhiều.Các quan chức nghề này thường lợi dụng việc xuống tàu kiểm tra để xin xỏ. Đọc lại tự nhiên thấy cảm ơn các nhà viết sử thời xưa và muốn đi tìm để đọc tiếp.


Quan niệm về sử của chúng ta có vấn đề
Trong số ý kiến ngắn đăng ở Talawas cuối 2007 , có lá thư của Trần Văn Tích, thống kê số sách vở mất mát sau cuộc kháng chiến chống nhà Minh
Đoạn văn có một chi tiết mà tôi không tìm thấy ở đâu : Khi đưa ra con số này trong Việt nam sử lược, cả Trần Trọng Kim cũng chỉ nói người Minh mang về Trung quốc mà quên đi rằng chính là người nông dân Việt khi vào các kinh thành cũng đã đốt rất nhiều sách. Trong Lịch triều hiến chương loại chí, Phan Huy Chú đã viết thế
Chi tiết này gợi cho tôi mấy ý nghĩ
1/ Hóa ra không phải đến các nhà viết sử hiện thời mà cả những Trần Trọng Kim Đào Duy Anh cũng có lối viết đổ cả những kém cỏi trong sự phát triển của xã hội Việt Nam cho người nước ngoài.
2/ Chúng ta có một lối nghĩ về sử khá quan liêu, tức là bằng lòng với những huyền thoại। Chẳng hạn khi nghiên cứu về sử thời giặc Minh ai cũng chỉ nghĩ tới công thức băt dân ta lên rừng tìm thú quý, xuống biển mò ngọc châu mà Thí dụ mà TVT nêu ở trên giúp chúng ta giải huyền thoại này , và chợt nhận ra bao công việc phải làm
Khi nói về sach vở , người mình chỉ nghĩ đến văn thơ,tính chung trong số người liệt vào loại danh nhân đất nước,cứ một trăm người thì phải đến tám chín chục phần trăm . Trong khi đó, đọc các tài liệu nghiên cứu về Trung Hoa chẳng hạn, thấy trong độ một trăm danh nhân của họ thì số nhà văn nhà thơ chỉ độ 20%
Học thuật ở ta không được chú ý đúng mức.Chúng ta chỉ thích nói chuyện tình cảm , mà không để ý tới sự nghĩ
Chúng ta nhìn về quá khứ giống như một khối mờ mờ. Các giai đoạn lịch sử mới được gọi tên nhiều hơn là được nhận thức. Con người VN các thời đại trước đây sống ra làm sao, đi lại, ăn uống, đọc sách như thế nào? Các đô thị hình thành ra làm sao? Các sứ thần mang về những cái gì từ Trung Quốc? Các thuyền buôn nước ngoài đến VN ra làm sao? Những câu hỏi đó chỉ mới được trả lời sơ sài và nhiều khi là chưa được ai đề cập tới.

. Một trong những lý do đẻ ra tham nhũng bởi vì lương của quan chức ở ta thời xưa thấp quá, bù lại, triều đình thả ra cho họ tha hồ kiếm chác ở dân. Hay hiện tượng mua quan bán chức cũng sớm phổ biến, thời nào cũng có, từ trong các làng xã ngược mãi lên đến cả triều đình.


Tôi bắt đầu chú ý tới sử khi muốn tìm hiểu sâu hơn về thực tế đời sống ở VN hôm nay.
Càng đọc lại sử, tôi càng thấy mình có lỗi. Hóa ra nước mình có mấy bộ sử quý như Đại Việt sử ký toàn thư, như Đại nam thực lục. Thế mà mang danh là những người cầm bút mấy ai đã đọc những bộ sử đó.
Nhưng chúng ta chưa có cái Sử đó. Thường xuyên chỉ có những bức tranh chung chung được đưa ra, chúng hết sức xa lạ với mối quan tâm hàng ngày của con người đương thời.

Một trình độ cổ lỗ
Đi sâu vào khoa nghiên cứu lịch sử thấy có quá nhiều chuyện và lý do sâu xa khiến không ai muốn dạy sử, không ai muốn học sử phải tìm ở đấy.
Chúng ta chỉ nhìn quá khứ với con mắt vụ lợi. Cái gì có lợi cho mình, ta nhắc lại. Cái gì có vẻ như không có lợi tức thì, lờ đi. Đó là một thứ chủ nghĩa thực dụng sát mặt đất. Thế thì làm sao có Sử được ? Không ai muốn nhận nhưng rõ ràng chúng ta không nghiêm túc trong nhìn nhận quá khứ. Lại rất quan liêu nữa. May lắm thì trong sử chúng ta đang đọc và dạy nhau hôm nay chỉ có các sự kiện chính trị xã hội. Trong khi đó Trung Quốc người ta có lịch sử ăn mày, lịch sử thương nhân, lịch sử trang phục...Ở Đức, người ta nghiên cứu lại cả những đám cưới thời Hitler.Cách hiểu về quá khứ của ta quá cổ lỗ và đơn điệu. Mình sắp làm phim về Lý Công Uẩn, tôi ngờ lắm. Chúng ta có biết gì về thời gian đó đâu . Cung điện thời đó ra sao ? thành quách thế nào? Con người ăn mặc nói năng ra sao ? Không ai biết. Gần đây nghe nói người ta còn định sang Trung Quốc để thuê ngựa về quay và ông Dương Trung Quốc đã phải nói ngay là dân ta xưa đâu có sử dụng ngựa nhiều. Từ đây mà suy ra, thì khi đối diện với cái cuộc sống hiện ra trong phim, ai còn tin được điều gì.
Hoặc như lịch sử hiện đại. Hoạt động sưu tầm và quản lý sử liệu quá kém, các kho lưu trữ lại không mở ra cho các nhà làm sử tham khảo. Các tài liệu phụ trợ như hồi ký thư từ, không được khai thác, hoặc trong không ít trường hợp là của giả. Nói chung, chúng ta coi mảng lịch sử đó như một cái gì đã thành, chứ không đặt vấn đề nghiên cứu tìm hiểu và phát hiện lại. Nói lịch sử chết cứng trong các công thức cũ là với nghĩa vậy, và việc không có công trình nghiên cứu lịch sử nào ra hồn là chuyện đương nhiên
Ngay khối lượng thuần túy sách vở về sử ở ta đã không đạt yêu cầu Ở nước ngoài, từng triều đại từng giai đoạn người ta nghiên cứu nát ra. Còn mình mỗi thứ có được vài ba quyển, lại trùng hợp nhau chép lẫn của nhau. Gần đây có một thực tế là người nước ngoài viết về Sử Việt Nam tốt hơn người Việt Nam. Nhiều nhà nghiên cứu lịch sử tiếng Hán không biết, tiếng Pháp, tiếng Anh... không biết. Kể cả một số thầy đầu ngành vài chục năm nay cũng chỉ mài một số hiểu biết cũ ra viết lại. Các lớp trò sau mỗi ngày kém đi một chút. Hỏi đến học sinh phổ thông, còn được cái gì?!

Nhận thức về quá khứ vốn là nhu cầu chính đáng của con người. Làm như hiện nay tức là chúng ta tước bỏ nhu cầu đó và hướng họ sang những chuyện vô bổ, họ chịu mãi sao đươc !

Đọc tiếp ...

1 thg 8, 2009

Sau tội là bệnh

(TBKTSG) - Chúng ta đang ở trong một hoàn cảnh chung. Đất nước từ chiến tranh chuyển sang hòa bình mấy chục năm nay, những di lụy của nó để lại trong tâm lý con người kể sao cho xiết. Đặc điểm của chiến tranh là bạo lực. Trở về từ chiến tranh, mải làm ăn kiếm sống, ta tưởng ta thoát khỏi nó...

Một cô giáo ở Thái Bình phạt một bé gái bằng cách cho cả lớp 32 học sinh tát thẳng vào mặt người bạn có lỗi, nạn nhân phải đưa đi bệnh viện. Một thầy giáo ở Đình Tổ, Bắc Ninh xâm hại tình dục mấy học sinh 9 tuổi trong lớp mình đang dạy đến mức các gia đình học sinh rủ nhau đi kiện.

Hai sự kiện này tôi nghe được từ mấy năm trước. Ngày nay việc bạo hành xảy ra còn ở mức tày đình hơn nhiều. Nhưng chỉ hai việc nhỏ trên cũng đã đủ gợi ra một số suy nghĩ.

Cô giáo kia là một người lâu năm trong nghề, từng là cô giáo dạy giỏi. Trên màn hình VTV, tôi đã thấy vẻ mặt cô khi nhận lỗi, trông không có gì là giả dối. Thành thử tự nhiên cứ phân vân. Và tôi nhớ tới những lầm lỗi mà mình đã mắc hàng ngày. Lúc ấy mình không còn là mình nữa. Nói ra không mấy ai tin nhưng hình như lúc đó có ai xui khiến mình làm bậy vậy, có muốn tỉnh táo cũng không được.

Mặt khác, nếu được tìm hiểu kỹ hoàn cảnh cô giáo mắc lỗi biết đâu người ta chẳng thấy được nhiều nguyên cớ cụ thể. Hôm đó có thể cô đã gặp một chuyện gì rất phiền lòng trong gia đình? Hoặc trước đó trong lớp đã xảy ra những chuyện làm cô phải bực bội, đến mức quá giận mất khôn.

Lại như trường hợp thứ hai. Trong hành động của người thầy giáo trẻ tuổi kia có gì kỳ dị vượt ra ngoài tình trạng tâm sinh lý thông thường. Một thứ bệnh hoạn - tôi nghĩ vậy.

Nhưng thử nhìn rộng ra xem, các nhà khoa học cho biết trong thời buổi hiện nay, thiên nhiên đang xảy ra nhiều đột biến. Thời tiết thất thường. Nhiều loại vi trùng kháng thuốc. Nhiều loại sâu bệnh mới xuất hiện. Xã hội cũng vậy, trên các trang báo hàng ngày tràn ngập tin tức về các vụ việc mà trước kia không ai hình dung nổi và không nước nào không có. Làm sao cái xu thế đó không hằn sâu vào tâm lý con người cho được?

Trạng thái cân bằng cổ điển trở thành một thứ hồi ức xa vời trong tâm tưởng ta. Mỗi chúng ta chịu sự thao túng của bao nhiêu dồn nén, bao nhiêu ẩn ức.

Những ai từng đọc tiểu thuyết Số đỏ hẳn nhớ trường hợp nhân vật cậu Phước với cái căn bệnh kỳ cục phải nói là suy cho cùng thì có họ hàng xa gần với bệnh của người thầy giáo ở Đình Tổ nói trên. Nhà văn Vũ Trọng Phụng đã tỏ ra có lý khi mượn mồm một bác sĩ để đề nghị rằng chỉ có thể cắt nghĩa bệnh của cậu quí tử đó bằng các lý thuyết phân tâm học của Sigmund Freud.

Sách Đại Việt sử lược (chưa rõ tác giả), một trong những bộ sử cổ nhất của ta ghi về Lê Long Đĩnh, tức Lê Ngọa Triều (trị vì từ 1006 - 1009) như sau: “Tính vua ưa chém giết. Có người phạm tội sắp phải hành hình thì vua bắt lấy cỏ tranh quấn vào người rồi đốt. Có khi vua đi chơi ở sông Chi Ninh, sông có nhiều thuồng luồng, bèn trói người ở một bên ghe, rồi cho ghe qua lại giữa dòng nước, khiến cho thuồng luồng sát hại. Phàm những con vật đem cung cho nhà bếp, trước tiên sai người khiêng vào để tự tay vua đâm chết đã. Hoặc đêm đến sai làm thịt mèo cho các thân vương xơi, ăn xong vua đem đầu mèo bày ra, ai nấy đều mửa thốc mửa tháo…”.

Trước mắt chúng ta là một ca bệnh nữa, ở mức quái đản. Giá như ngày nay, hẳn có người đã đề nghị buộc Lê Ngọa Triều phải hầu tòa.

Mọi tội lỗi phải được xử theo pháp luật. Nhưng tôi cho rằng trong một số trường hợp, những người có tội đồng thời phải được xem như những người có bệnh. Trong những con người không may ấy, vấn đề không còn chỉ là sự điều khiển của ý thức, mà là một thứ bản năng chi phối. Giống như các loài cỏ dại, nó nảy nở tự phát trong con người họ, và tùy hoàn cảnh mà bản năng bùng nổ thành tội ác. Nói cách khác, trong cái việc họ không còn đủ sáng suốt điều chỉnh hành vi của mình, có sự có mặt của những yếu tố mà tâm lý học gọi là vô thức (bao gồm cả vô thức cá nhân lẫn vô thức tập thể).

Đồng thời với tòa án, viện kiểm sát làm công việc lập hồ sơ, xem xét tội danh, xử án... lẽ ra những người nghiên cứu tâm lý xã hội phải có mặt.

Chúng ta đang ở trong một hoàn cảnh chung. Đất nước từ chiến tranh chuyển sang hòa bình mấy chục năm nay, những di lụy của nó để lại trong tâm lý con người kể sao cho xiết. Đặc điểm của chiến tranh là bạo lực. Trở về từ chiến tranh, mải làm ăn kiếm sống, ta tưởng ta thoát khỏi nó. Biết đâu nó vẫn tiềm ẩn trong con người và sẽ tìm những chỗ bất ngờ nhất để phát lộ.

Mặt khác, từ chỗ quen sống khép kín, nay xã hội ta mở cửa ra với thế giới. Cùng với bao điều tốt đẹp thì những căn bệnh chỉ xã hội hiện đại mới có cũng ùa vào ta và cũng tìm thấy ở xứ ta một mảnh đất tốt.

Từ nhận thức “không nỗi đau nào là của riêng ai”, đã đến lúc nên nói với nhau “không bệnh tật nào là của riêng ai”. Có đi vào cơ chế đời sống tinh thần cụ thể của con người thì mới thể tất được cho nhau.

Phải có sự điều trị dần dần, theo những phác đồ hợp lý, chung cho cả xã hội.

Đó cũng là cách tốt nhất để những hành động tương tự sẽ bớt dần chứ không phải ngày mỗi tăng lên như hiện nay.

Thứ Năm, 30/7/2009
Saigon times Online

Đọc tiếp ...