27-08-2009

Khoan cắt bê tông

(TBKTSG) - Trên Tuổi Trẻ Cười, tôi nhớ có lần đã có một bức biếm họa, ghi lại sự có mặt của những thông tin quảng cáo về khoan cắt bê tông ở khắp nơi. Lần ấy hàng chữ này được đặt ngay ngắn chững chạc giữa một bức tường, cạnh đó là một mũi tên chỉ rằng phía trước là cổng lên thiên đường! Đúng là một lối làm ăn tùy tiện, bạ chỗ nào cũng đè người ta ra mà... hành sự, khiến chúng ta vừa định cười đã thấy bực bội khó chịu. Lối quảng cáo vô tội vạ này đã bị nhiều người phê phán. Ai cũng thấy đó là một hành động thiếu ý thức xã hội, làm mất mỹ quan thành phố. Phần tôi, khi cần cắt nghĩa sự có mặt tràn lan và tồn tại dai dẳng của nó, tôi muốn nghĩ rộng tới cuộc mưu sinh của nhiều người hiện nay. Một cách lẩn quất, ở đây có mặt của cái triết lý làm liều đang chi phối chúng ta: nhân danh sự kiếm tiền nuôi sống bản thân và gia đình, người ta có quyền làm bất cứ việc gì thấy cần. “Chỉ có những việc người ta không làm được chứ không có việc không được làm”, triết lý tóm lại là vậy. Trong danh sách các tác phẩm viết cho thiếu nhi của Tô Hoài, có một cuốn mang tên Tính ác. Sách viết từ lâu tôi không được đọc, chỉ nghe Tô Hoài kể, đâu toàn chuyện lúc nhỏ khi lang thang trong làng, túi ông lúc nào cũng thủ sẵn vài hòn gạch củ đậu, thấy chó là ném. À, thế thì hiểu rồi, chả Tô Hoài thì không ai dám viết thế. Trong con người thường vẫn có sẵn cái tính... ác ngầm. Thấy ai tử tế là không chịu được. Gặp cái gì đẹp đẽ lành lặn cũng muốn bôi bẩn cho nhem nhuốc giống mình. Nhìn nhiều dòng chữ khoan cắt bê tông nằm chềnh ềnh giữa những bức tường quét vôi đẹp đẽ, tôi thầm đoán rằng người kẻ những dòng chữ ấy, đang sống lại cái cảm giác của đứa trẻ lang thang mà Tô Hoài mô tả ngày nào. Là muốn làm cho những người chủ nhà kia đau đớn và nhiều người đi đường như thấy cái gai đâm vào mắt. Trêu tức được thiên hạ, chẳng phải đã sướng lắm sao? Có thể người kẻ thứ quảng cáo loạn xì ngầu này không nghĩ hẳn ra như thế, nhưng cái mầm của những suy nghĩ kiểu đó đã ủ sẵn trong đầu óc họ. Nhưng hôm nay tôi muốn đề nghị một cách nhìn khác nữa, là xem xét sự phổ biến của “khoan cắt bê tông” dưới góc độ thông tin. Vì nghèo, vì phải tập trung sức lực cho chiến tranh, suốt từ 1954 tới khoảng 1986, trước khi đổi mới, Hà Nội của tôi hầu như không xây dựng gì đáng kể. Chỉ từ 1986 trở đi làm nhà mới thành phong trào. Vì bí quá rồi, kìm hãm mãi rồi, nên khi bung ra, đặc tính của sự xây dựng lúc này là tự phát, nhỏ lẻ, người làm thiếu hiểu biết đã đành mà còn thiếu cả những thông tin tối thiểu. Mua gạch mua ngói ở đâu, loại đất như nhà mình đây thì thứ thép nào? Rồi thuê thợ ra sao, công xá bao nhiêu thì vừa? Tất cả chỉ được làm một cách mò mẫm, nhà nọ hỏi nhà kia, kể cả cái việc chúng ta đang nói là sử dụng máy móc để làm một số việc thay cho sức người như đào móng, trộn bê tông mới, hoặc khoan phá những chỗ bê tông cũ. Cái dịch vụ khoan cắt đang nói ra đời từ lúc đó. Rõ ràng là có người cần và có những người thấy được nhu cầu đó, sẵn sàng đáp ứng. Nhưng làm sao thông tin cho nhau biết bây giờ. Chẳng lẽ cho người đi rao như mấy hàng quà? Cách tốt nhất là người ta vẽ ngay lên các mảng tường trống vốn tồn tại như một thứ không gian hoang vắng chưa ai biết dùng. Sự xuất hiện toe toét nhòe nhoẹt của những hàng chữ “khoan cắt bê tông” như hiện nay, hóa ra là dấu hiệu của một sự chuyển biến. Từ xã hội thiếu thông tin chúng ta chuyển sang đối cực của nó. Cái mới hiện ra nham nhở, và chỉ tố cáo thêm cái quá khứ nghèo nàn thiếu thốn hôm qua. Hàng ngày, tôi cũng làm công việc như của nhiều người già vẫn làm là đi tập thể dục từ lúc mới tờ mờ. Chính trong cái phút vắng vẻ đó, phố xá hiện ra với bộ mặt vốn có của nó. Trên tường, các quảng cáo khoan cắt bê tông chen chúc gợi tôi nhớ tới nhiều thứ. Có lúc tôi nhớ tới những mạng nhện trên trời là các búi dây điện treo ngay trên đầu người đi đường. Có lúc tôi nhớ tới cảnh người chạy xe ôm xúm xít quanh những xe khách từ tỉnh xa về, mời mọc chào đón đấy mà chặt chém người ta cũng ngọt xớt đấy. Cái gì quý cũng hiếm, cái gì xoàng xĩnh thấp kém thì sao mà lắm đến thế, gạt đi không hết! Về phương diện thông tin, xin lưu ý thêm hai điểm rút ra từ những bức tường chi chít hàng chữ khoan cắt bê tông. Thứ nhất, đó là những tin tức đơn điệu tẻ nhạt, người truyền phát cũng cảm thấy chẳng có gì cần, nhưng “thừa giấy làm chi chẳng vẽ voi”, tội gì không kẻ thêm vài hàng, thừa còn hơn thiếu. Thứ hai, một đặc trưng của loại thông tin công cộng này là nội dung càng nghèo nàn thì sự xuất hiện càng dày đặc. Đó là lối “tràn ngập lãnh thổ”, lấy thịt đè người, có thể nói là thứ thông tin pha chút bạo lực vì ép thiên hạ phải nghe, tự biết là gây nhiều khó chịu nhưng lại thoáng một chút hãnh diện vì đã làm khổ được mọi người. Thứ Năm,27/8/2009 Saigon Times Online

Đọc tiếp ...

Bây giờ tôi mới được sống!

Trò chuyện với chúng tôi về chuyên đề Toilet - Nhà nghiên cứu Văn hóa Vương Trí Nhàn phát biểu: Đại tiểu tiện là sự giải thoát, là niềm vui của con người, và nếu giải quyết nó một cách thông minh, không gây khó chịu, không phải là làm cho xong mà tận hưởng được nó, thì không những nó làm cho mình khỏe thêm mà còn làm cho mình ham sống và yêu cuộc sống hơn.

Đọc tiếp ...

24-08-2009

Giới thiệu về nội dung cuốn sách mới xuất bản: Chúng ta đang sống như thế nào? Tại sao lại có cái tình trạng nhân thế như chúng ta đang thấy? Ta đã hiện hình ra sao trong sự vận động của thời gian? Điều gì có thể thay đổi và điều gì sẽ phải chấp nhận mãi ? Để tìm cho mình câu trả lời, mươi năm gần đây Vương Trí Nhàn đã hướng ngòi bút của mình vào thể phiếm luận. Tác giả cảm thấy viết cho mình mà cũng như là đang được đối thoại với bạn đọc. Cả quan sát thể nghiệm lẫn những kiến thức sách vở mà tác giả đọc được trong vai trò một người chuyên viết phê bình văn học đã được huy động. Những trang sách của Nguyễn Công Hoan, Thạch Lam, Nam Cao, Nguyễn Hiến Lê, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải và cả những F. Dostoievski, A. Tchekhov, Lỗ Tấn... thường xuyên trở về có mặt trong các câu chuyện. Khi cảm thấy có một mối liên hệ rõ rệt giữa ngày hôm nay với những thời gian đã qua, cũng là lúc người ta có thể sáng rõ hơn trong việc nhìn nhận chung quanh, nhẹ nhàng hơn trong việc chấp nhận mọi diễn biến của đời sống trước mắt. Những con người khác nhau trong bản thân tác giả vừa nghĩ vừa bàn với nhau, tranh cãi với nhau. Và tác giả ghi nó ra đây vì đó là cách tốt nhất để mời những bạn khác cùng nghĩ tiếp.

Đọc tiếp ...

21-08-2009

Dù ở đâu vẫn phải tôn trọng nhau

TT - Nhà phê bình văn học Vương Trí Nhàn, tác giả nhiều bài viết sắc nét về văn hóa ứng xử của người Việt, lý giải hiện tượng người nói tiếng Anh được đối xử tốt hơn. Những ai có kinh nghiệm sống ở VN hẳn đoán ra ngay yếu tố nào đã khiến nhiều cửa hàng dịch vụ có sự biệt nhãn đối với người nói tiếng Anh như trong bài báo bạn Nguyễn Thân Hiệp (Tuổi Trẻ ngày 18-8-2009) đã nêu và các bạn khác (Tuổi Trẻ ngày 19-8) cũng chia sẻ - đó chính là sự vụ lợi. Người nói tiếng Anh chắc chắn có nhiều tiền hơn, chi phí cho sinh hoạt hằng ngày lớn hơn và cũng dễ “boa” cho người phục vụ hơn... Tuy không ai tuyên bố song người ta ngầm thống nhất phong cho người nói tiếng Anh danh xưng “công dân loại một”, hoặc “thượng đế loại một”.

  • Dù ở đâu và thời nào thì cái tinh thần chi phối cách sống con người vẫn phải là tôn trọng nhau, sung sướng cảm thấy sự có mặt của nhau trong cuộc đời này và cùng hướng tới sự hoàn thiện trong lời nói cũng như hành động.
Đây không phải là chỗ bàn kỹ về thói vụ lợi, tôi chỉ muốn lưu ý lối nhìn thiển cận này hiện là yếu tố chi phối ứng xử của người mình, từ trong mối quan hệ riêng tư đến các việc lớn liên quan đến cả đời người như chọn ngành chọn nghề, chọn nơi làm việc và cả tình yêu, hạnh phúc nữa. Có bạn sẽ hỏi thế trên máy bay các cô phục vụ thừa biết hành khách có mua bán gì đâu, nếu đối xử tốt cũng có hưởng lợi lộc gì ngay đâu, sao họ vẫn niềm nở lịch sự với người nói tiếng Anh và chỏng lỏn hoặc cáu gắt với các loại hành khách khác? Đơn giản lắm, ở đây có sự chi phối của thói quen. Ứng xử của người ta không chỉ là theo sự quy định của tình huống mà là được hình thành từ hoạt động liên tục trong thời gian. Vấn đề theo tôi không phải ở chỗ người phục vụ tử tế niềm nở với người nói tiếng Anh, mà ở chỗ hằng ngày chúng ta đối với nhau không ra sao và thường nghĩ về nhau quá tệ. Nếu bảo thói quen thì đây là một thói quen đã trở nên thuần thục, thế mới hại! Đó là sự suồng sã thô lỗ tầm thường trong ăn nói đối xử. Đó là sự thạo đời theo nghĩa xấu, nhìn đâu cũng thấy lừa dối hư hỏng nên không sao tìm được thái độ thân ái và sự tôn trọng nhau tối thiểu. Đó là một lối sống bất chấp tình người, coi sự tự trọng là xa xỉ, chỉ cốt nhàn thân và bỏ ngoài tai những lời đàm tiếu chính đáng. Một bạn đọc đã viết “hay là người ta nghĩ dân VN rành nhau quá nên không cần màu mè chi cho mệt?”. Quả có thế thật, từ xưa đã thế và nay càng thế. Những ai từng học qua bậc phổ thông thường được học về ca dao tục ngữ và hẳn ghi nhớ trong đầu những ý tưởng sâu sắc của dân gian. Tuy nhiên, chúng ta chỉ được nghe giảng và bảo là phải nhập tâm những Anh em như thể chân tay, Lá lành đùm lá rách, Bầu ơi thương lấy bí cùng, nhưng lại ít biết những Cháy nhà hàng xóm bình chân như vại, Quen thì lèn cho đau, Anh em nắm nem ba đồng, muốn ăn thì trả sáu đồng mà ăn. Trong thái độ đối xử với nhau dân mình từ xưa vẫn có lối quy nguyên nhân mọi bất hạnh của mình vào sự có mặt của người bên cạnh, và “đi guốc vào bụng nhau” bằng khái quát “bụng ai cũng thối hết”. Thời hiện đại mở ra cho con người một trường hoạt động rộng rãi hơn, nhưng cuộc mưu sinh lại tàn bạo hơn và tâm hồn con người càng trở nên cằn cỗi hơn - theo sự đọc được của tôi thì đây là xu thế mà các nhà văn ở nhiều nước đã nêu ra và ở ta sau những năm chiến tranh khốc liệt lại càng thấy rõ. Ai cũng thô lỗ thì mình thô lỗ một chút có sao! Lịch sự tử tế có lợi gì đâu, cốt vài chiêu nói dối là qua hết mọi chuyện... Người ta nghĩ thế và bỏ mặc mình làm tù binh cho những thói xấu. Là một người thuộc về thế hệ cũ, tôi thường nhớ lại thời chúng tôi mới lớn lên với cảm tưởng sao mà lúc đó đời sống thiêng liêng lạ. May được bộ quần áo nhận ra công lao của bao người, mua được quyển sách mới thấy sao có người tài thế, viết ra được những quyển sách giá trị thế. Chẳng những các thầy giáo đối với bọn tôi là những ông thánh mà ngay trong gia đình, bố mẹ đối với bọn tôi cũng là cái gì cao vời. Mỗi lời song thân khuyên nhủ là kỷ niệm sâu sắc, bọn tôi nhớ từng lời dạy bảo chứ không có cái cảnh bố mẹ muốn nói mà con cái lại “biết rồi, khổ lắm, nói mãi” bỏ đi chơi như thời nay. Những nhận xét mà bạn Nguyễn Thân Hiệp và các bạn khác nêu trên Tuổi Trẻ mấy ngày qua là chính xác. Tôi không làm việc bào chữa, tôi chỉ muốn nói tâm trạng của nhiều người chúng tôi, như một câu trong Truyện Kiều: rằng quen mất nết đi rồi, biết mà lại bỏ qua, không chịu sửa. Trong hoàn cảnh nan giải ấy, những cuộc tiếp xúc với các bạn ở xa về và những người nước ngoài khác là dịp tốt để một số chúng tôi thức tỉnh và trở về với tinh thần tốt đẹp của truyền thống. Thứ Sáu, 21/08/2009TUOI TRE ONLINE

Đọc tiếp ...

20-08-2009

Những niềm vui khác nhau

Giở nhiều cuốn tạp chí chuyên về văn học in ra ở nhiều nước Tây Âu khoảng vài chục năm gần đây, người ta thấy phê bình được dành cho một phần đất rộng rãi: trong khi thơ chỉ vẻn vẹn vài ba trang, văn xuôi hơn chục trang thì phê bình đủ loại chiếm tới trên trăm trang. Các tạp chí như vậy, đua nhau ra đời. Không chỉ dừng lại trên mặt báo, mà phê bình được in ra thành sách, và đây là một sự thực khó tin: Trong một tài liệu nghiên cứu về xuất bản ở Tây Đức trước đây, tôi đọc thấy người ta ghi nhận rằng cuốn sách có nội dung phê bình tác phẩm nào đó, lại có số in lớn hơn cả số in của cuốn sách gốc (!) Ở Việt Nam, tuy tình hình chưa đến mức độ ấy, song không khí phê bình đã khá sôi động theo cái nghĩa: nhiều người nhập cuộc Các nhà văn coi viết phê bình là một nghề tay trái lúc nào tiện thì làm. Các nhà báo không chịu dừng lại ở công việc thông tin mà chuyển hẳn sang thẩm định. Có thể nói nay là lúc phê bình đã đạt tới tình trạng gần như thơ, tức là không còn ranh giới giữa chuyên nghiệp và nghiệp dư, giữa người để cả đời làm với nguời tạt ngang tạt ngửa, rỗi rãi nên thử viết cho vui. Và người còn đang ngấp nghé vào nghề mà yếu bóng vía, thật khó có đủ can đảm để tính chuyện làm nghề một cách lâu dài: việc gì mà ai cũng làm được, thì làm cho xuất sắc, gây ấn tượng, cho nổi nênh lên được, lại thật là việc nhọc nhằn khốn khó. Nhưng tôi cho rằng chính đây lại là một thức thách thức thú vị mà một số người muốn chấp nhận vì tìm thấy ở đó những sự hấp dẫn. Các nhà nghiên cứu lịch sử hội hoạ thường kể một mẩu chuyện nhỏ có liên quan đến P. Picasso: ông không chỉ là người biết làm ra cái đẹp, mà còn là người có con mắt tinh đời, nhìn ra cái đáng quý trong cái tầm thường, và làm được một việc hơn người là mang lại vẻ đẹp, mang lại sức sống cho những cái mà người khác cho là xấu xí cổ lỗ, và bỏ qua không để ý. Nhờ có ông mà làng gốm Vallauris trở thành một địa điểm nổi tiếng: ông đã đưa gốm Valllauris vào đời sống mỹ thuật hiện đại! Có thể bảo đây là một sự liên hệ hơi gượng gạo, nhưng quả thật tôi thường tìm thấy ở câu chuyện này một lời khích lệ: Phải biết tìm ra những điều thú vị ở những cái tưởng như nhàm chán. Và dù phê bình là một công việc khó nổi lên được, song không có nghĩa là ở đây cá mè một lứa ai cũng như ai. Trong sự hỗn độn, nhiễu, pha tạp, một số nhà văn và bạn đọc vẫn nhận ra được những tiếng nói đáng tin cậy. Sự công bằng càng khó tìm, thì khi được xác lập một cách vững chắc, nó lại càng đáng quý. Ở trên, tôi đã thử kể lại việc áp dụng - chắc chắn là còn thô thiển- quan niệm trò chơi vào công việc hành nghề. Được tháo tung một tác phẩm văn chương ra, rồi sắp xếp lại theo ý mình, chẳng thú vị lắm sao? Tôi như đứa trẻ sắp hình, từ những nguyên liệu sẵn có của người khác, sắp ra cái hình của mình, kể đã vui rồi. Huống chi ở đây còn có chuyện nhận thức đời sống. Tôi nhận ra cái phần ẩn giấu trong những người quen. Nếu biết làm việc, tôi có dịp hiểu rõ đến tận chân tơ kẽ tóc một hành động, một quá trình sáng tạo. Nhà văn Mỹ sang thăm Việt Nam 8-2000 là R. Butler có nói tới những rủi ro khi đi vào tâm hồn con người. Quả là có rủi ro thật, nhiều khi đang chờ đợi điều này, ta lại nhận ra một điều khác, chẳng ăn nhập với tưởng tượng của mình. Nhưng rủi ro nào mà chẳng bao hàm trong nó một ít thú vị, và nếu sợ rủi ro, ta chẳng bao giờ đạt tới sự khám phá bất ngờ. Từ hơn một thế kỷ trước, nhà văn Pháp A. France đã viết: "Phê bình cũng như triết học và sử học, là một loại tiểu thuyết đối với những đầu óc sáng suốt và muốn tìm hiểu thế giới chung quanh. Một nhà phê bình hấp dẫn là người kể lại những cuộc phiêu lưu của tâm hồn mình qua tác phẩm". ấy là không kể, khi đã coi phê bình là một hoạt động văn học, và có sự nhạy cảm riêng với câu chữ, với hình thức tồn tại của tác phẩm, thì người viết phê bình cũng có niềm vui giống như mọi người cầm bút khác: niềm vui sáng tạo, niềm vui đã tạo ra một vật phẩm, mà trong trường hợp lý tưởng "trước khi nó xuất hiện thì không ai hình dung ra, nhưng khi đã biết nó rồi thì không ai lại có thể từ chối nổi." Cuối cùng, tôi muốn nói tới một niềm vui mà riêng những người viết phê bình mới có. Thuở mới làm nghề, tức là hơn ba chục năm trước, tôi đã nhớ như chôn vào ruột những câu nói chẳng hay ho gì về nghề của mình. Một nhà văn Pháp, hình như là Flaubert thì phải: "Khi không sáng tác được nữa thì người ta quay ra làm phê bình, như khi không làm chiến sĩ được nữa thì đi làm gián điệp". Nhà thơ Chế Lan Viên ở Việt Nam: "Nhà sáng tác học ba tháng đủ thành nhà phê bình, còn nhà phê bình học ba mươi năm cũng không thể sáng tác nổi." Mới đây thôi, tình cờ giở một quyển sách, tôi lại tìm thấy câu này của M. Twain: "Phê bình, đó là cái nghề hèn hạ nhất trong các nghề". Vâng, tôi biết mấy tác giả nói trên đều là những nhà văn lớn, nhưng trong trường hợp này tôi và những người cùng ý tưởng với tôi vẫn mơ tới ngày có thể chứng minh là họ nhầm. Khi ấy, một niềm vui nhỏ đã chờ đợi sẵn - niềm vui trút bỏ được một nỗi buồn từ lâu vốn ủ kín trong tâm trí.

Đọc tiếp ...

12-08-2009

Vài nét về tư duy tự sự của người Việt

I

Thông thường một nền văn học được nghiên cứu bằng cách đi sâu đánh giá phân tích các tác giả tác phẩm quan trọng rồi từ đó hình thành nên các giai đoạn các thời kỳ chủ yếu mà nền văn học đó đã trải qua . Thế nhưng để hiểu một nền văn học trong mối quan hệ với cộng đồng đã sản sinh ra nó,người ta còn có thể đi vào nghiên cứu theo một hệ thống khác : quan niệm toát ra từ nền văn học đó về cái đẹp cái thực ,thậm chí cái không bình thường cái kỳ quặc ma quái… ? Đặc điểm của nền văn học đó bộc lộ qua việc sử dụng các phương thức như tự sự , trữ tình ? Quan niệm về một thể loại nào đó ( như thơ tiểu thuyết ) đã ổn định trong trường kỳ lịch sử ? Rồi quan niệm về việc phiên dịch các sáng tác từ các ngôn ngữ khác sang tiếng bản địa và câu chuyện giao lưu văn hoá nói chung v..v…
Trong trường hợp này , văn học được nghiên cứu theo cái cách người ta làm ra nó, cách này đặc trưng cho từng dân tộc và có sự phân biệt rõ rệt với các dân tộc khác .Đây cũng tức là nghiên cứu văn học từ cái nhìn của văn hoá học .
Sở dĩ có thể nói đây là một hướng nghiên cứu rất có triển vọng bởi lẽ , theo cách này , việc nghiên cứu văn chương trở thành một trong những phương cách tốt nhất giúp cho ngừơi ta hiểu một miền đất một xứ sở ,cũng tức là có thể có đóng góp vào việc tìm hiểu quá trình tự nhận thức của dân tộc. Vì nghĩ như vậy , chúng tôi mạo muội đi vào phác hoạ tư duy tự sự của người Việt. Đề tài quá lớn,dưới đây chỉ là một ít ghi chép sơ bộ còn tản mạn và chắp vá .

II

Các thể tự sự đã có mặt ngay trong văn học dân gian VN.Nhưng nếu nhìn chung đã có thể nói “trong văn hoá dân gian chứa đựng những phần mới chỉ là nguyên liệu của nghệ thuật chứ chưa phải là nghệ thuật “ ( 1)thì điều đó càng đúng với nghệ thuật tự sự .
Trong truyện cổ tích,nghệ thuật tự sự còn rất đơn sơ . Mỗi truyện thường chỉ ngắn gọn ,kể miệng với nhau độ mươi phút và mang in ra khoảng trên dưới ngàn chữ . Phần lớn các truyện này xoay quanh mối quan hệ giữa người nông dân nghèo với các loại nhà giàu trong làng (Cây tre trăm đốt ) hoặc nếu có mở rộng đến các loại vua quan thì mọi chuyện vẫn được hình dung thật giản dị , con đường đến với cung vua chẳng qua chỉ là chính con đường làng được kéo dài ra ( Ai mua hành tôi ) . Cũng có những cốt truyện khá rắc rối như Tấm Cám bao quát gần như cả một đời người nhưng không nhiều . Về mặt kết cấu mà xét , trong các truyện cổ tích này , cốt truyện thường phát triển theo đường thẳng . Nhân vật nhiều khi không có tên ,và địa điểm được nói tới cũng chung chung không cụ thể . Mô hình thế giới hiện ra trong truyện mang nặng tính cách ước lược đến mức tối giản .
So với cổ tích,các truyện cười là một bước tiến trong nghệ thuật tự sự .Ở đây người ta bắt đầu cảm thấy có một sự sắp xếp nào đó để lôi cuốn người nghe vào cuộc ,lại có một sự phân bổ chi tiết , lướt qua những đoạn mào đầu dừng lại lâu hơn ở những đoạn đối thoại có khả năng làm bật ra tiếng cười .Với việc xuất hiện những Trạng Quỳnh ,Trạng Lợn , Ba Giai Tú Xuất , truyện cười còn đánh dấu sự phát triển của nghệ thuật tự sự với nghĩa vượt qua trình độ những mẩu nhỏ rời rạc để theo dõi những giai đoạn khác nhau trong cuộc đời một con người và ghi chép được nhiều sự kiện có liên quan đến con người đó .Có điều cần lưu ý mặc dầu tương đối dài hơi nhưng Trạng Quỳnh vẫn chỉ có kết cấu đơn giản , những mẩu truyện nhỏ tồn tại cạnh nhau theo kiểu những viên gạch được lát liền nhau có thể kéo dài bao nhiêu cũng được mà rút ngắn lại cũng được . Hoặc có thể tạm ví đó là lối cấu trúc của con giun gồm nhiều đơn bào giống hệt nhau ,một đơn bào bị cắt rời ra khỏi cơ thể vẫn tiếp tục sống bình thường . Lối kết cấu như thế này tiện cho việc phổ biến theo lối truyền miệng nhưng không có triển vọng khi vận dụng nghệ thuật tự sự trên văn bản viết .

III

Theo Nguyễn Hiến Lê , văn nhân Trung Hoa thời cổ ít tưởng tượng mà hay thuyết lý . Nhờ đọc kinh Phật ,nhiều truyện tưởng tượng ,nên họ mới bắt chước lối viết truyện của Ân độ ( 2 )
Bà Pearl Buck ,khi bàn về tiểu thuyết Tàu nói một ý tương tự :Các nhà giảng đạo Phật cũng công nhận rằng muốn cho dân hiểu đến thần thánh thì không gì bằng tả cho họ là thần thánh cũng khó nhọc căm cụi chân lấm tay bùn như họ ( 3 )
Đây có lẽ là một ví dụ cho thấy vai trò của tôn giáo đối với sự phát triển của tư duy tự sự .
Cũng theo Nguyễn Hiến Lê ,ngay từ đời Tống ở Trung quốc đã xuất hiện một nghề lạ là nghề kể chuyện giống như các trouveres thời trung cổ bên Pháp.Hạng người đó có tài ăn nói đi từ phố này tới phố khác,vào trong xóm làng đông đúc , các chợ kể truyện,và người ta bu lại nghe, đáp công bao nhiêu tuỳ ý ( 4 ) . Lịch sử văn hoá Trung quốc của nhóm Đàm Gia Kiện thì ghi rõ “ở Biện Kinh có trường sở kể chuyện tương đối quy mô “ và “ nghệ nhân không những có sự phân công tỉ mỉ,họ còn tổ chức thành thư hội “ ( 5 )
Các nghệ nhân trên thường bắt đầu câu chuyện bằng cách thắp một nén hương lên và đến khi nén hương tàn thì câu chuyện của họ cũng chấm dứt .
Cho đến gần đây,các nhà viết tiểu thuyết Trung Hoa còn coi mình cũng có vai trò tương tự như vai trò của đám nghệ nhân ấy và thích thú nhắc lại nghi thức xưa .Chẳng hạn trường hợp Trương Ai Linh một nhà văn Hồng Kông rất nổi tiếng ở Anh Mỹ từng gọi mấy thiên truyện của mình là Lư trầm hường thứ nhất , Lư trầm hương thứ hai “Xin bạn hãy tìm lấy một chiếc lư hương đồng gia truyền đã đốm mốc xanh đốt lên bình trầm hương nghe tôi kể về Hương Cảng trước chiến tranh .Khi lư trầm hương của bạn cháy hết câu chuyện của tôi cũng sẽ kết thúc “.Một trong hai thiên truyện nói trên dẫn người đọc vào truyện bằng đoạn văn như vậy ( 6 ) .
Đến nay chưa thấy có tài liệu nói có sự xuất hiện của loại nghệ nhân nói trên trong đời sống văn hoá người Việt.Những cuộc trò chuyện được hình thành ngẫu nhiên , người nào cũng là người nghe mà cũng có thể là người đứng ra kể truyện,nhưng do không ai sống hẳn bằng việc kể truyện ấy và nâng nó lên thành nghề,nên nghệ thuật tự sự nói chung không phát triển lên được.Trong khi ở Trung Hoa nghệ thuật tự sự dân gian được ghi chép lại chỉnh lý sắp xếp lại thành những pho sách dài như Tam quốc chí ,Thuỷ Hử thì ở ta chỉ có Trạng Quỳnh ,Trạng Lợn.
Nói một cách khái quát,nghệ thuật tự sự có liên quan nhiều đến trình độ phân hoá ngành nghề và nói chung là sự phát triễn của đô thị trong lòng xã hội.Nhưng cả hai yếu tố trên (sự phát triển của tôn giáo và sự phát triển đô thị ) không phải là mặt mạnh của xã hội VN thời trung đại . Nếu tính đến yếu tố chữ viết để ghi chép và cố định tác phẩm về mặt văn học thì sự thua thiệt của tự sự càng hiện ra rõ rệt .

IV

Truyện Kiều là một đỉnh cao nghệ thuật VN nói chung với nghĩa khi cần hình dung ra một con người VN cụ thể với cách xúc động cách suy nghĩ những quan niệm tổng quát về cuộc đời này ,người ta nghĩ ngay đến cô Kiều , và ở chỗ này , cái việc “ không ai còn muốn nhớ thật ra Kiều là một người Tàu sống ở thời Gia Tĩnh triều Minh “ là không có gì đáng trách ,đằng sau các chi tiết chỉ có tính cách hình thức kia là một tâm hồn VN thực thụ .
Cũng nhờ thế có thể nói với Truyện Kiều,văn học VN có được một thành tựu chói lọi,nó đã đáp ứng được cái nhu cầu thiết yếu là nắm được cái thần của con người VN và kể ra một cách sinh động .
Thế nhưng,khi nói về thành tựu của nghệ thuật tự sự ở tác phẩm này,không được phép quên nó được chuyển thể từ cuốn sách của Thanh Tâm tài nhân ,nghĩa là mọi tài năng của tác giả chỉ bộc lộ ở việc kể chuyện một cách gọn ghẽ tinh tế tước bỏ mọi chi tiết thô thiển không cần thiết vốn có trong nguyên bản , ngoài ra không có thay đổi gì đáng kể về mặt cốt truyện . Mà cốt truyện thì biết bao trọng yếu đối với tác phẩm tự sự : ngay khi chỉ được xem như một bộ khung cần được đắp thêm chi tiết mới trở nên sinh động thì cốt truyện đã là một cách hình dung về đời sống,tức một yếu tố đánh dấu trình độ hiểu biết của xã hội về mối quan hệ giữa con người và hoàn cảnh cũng như giữa con người với nhau . Mỗi khi nói đến Truyện Kiều,thường ít ai đả động tới tác phẩm trên phương diện tự sự — lý do là vì như vậy (7 ).
Xuất hiện trước và sau Truyện Kiều , nhiều truyện nôm dân gian và bác học sáng tác trong thời trung đại đều có lối tổ chức cốt truyện tương tự theo kiểu “ hội ngộ –lưu lạc –đoàn viên “ và khi muốn nhận xét về các cốt truyện này người ta chỉ có thể nói nó đơn giản hơn là phức tạp , gọn ghẽ thoáng đãng hơn là nhiều tầng nhiều lớp bề bộn phong phú .Nói chung , cốt truyện trong các truyện nôm thường chỉ loanh quanh trong một đời người trói tròn trong quá trình lập nghiệp hay mưu cầu hạnh phúc của một cá nhân cụ thể mà không bao giờ bao quát được nhiều thế hệ của một dòng họ để thấy sự phát triển liên tục của con người trong một thời gian dài và số nhân vật có liên quan thường cũng chỉ trên dưới mươi người , chứ chưa bao giờ triển khai ra tới hàng trăm nhân vật như ở các tác phẩm tự sự đồ sộ của những nền văn học lớn. (8 )

V

Sự biến chuyển của văn học VN thế kỷ XX là sự chuyễn biến sâu xa của cả một mẫu hình sáng tạo : từ nay mọi mặt quan niệm của chúng ta về văn chương đều đã khác đi . Không phải ngẫu nhiên trong nền văn học trung đại,vị trí trọng yếu thuộc về các thể trữ tình. Trong phạm vi một xã hội gồm nhiều làng xóm độc lập manh mún tồn tại bên nhau , và cả xã hội chưa tạo dựng nổi một mặt bằng văn học thống nhất,thì sự sáng tác dễ dừng lại ở trình độ nói ra để thoả mãn nhu cầu nội tâm của chính chủ thể hơn là tìm cách tác động tới các đối tượng khác . Ngược lại , giờ đây xã hội được tổ chức lại thành một thực thể có trình độ tổ chức cao hơn và sự sáng tác được xã hội hoá theo nghĩa trực tiếp và cụ thể hơn ,nói nôm na là người ta viết văn làm thơ không phải chỉ để tự vui với mình mà phần nhiều là để đăng báo in sách .Trong hoàn cảnh ấy , các thể văn tự sự có chiếm một tỷ trọng cao hơn so với trước kia thì cũng là điều dễ hiểu .
Có thể nói trước khi có Phong trào Thơ mới , sự trưởng thành của nghệ thuật tự sự là kịch bản chủ yếu của những thay đổi đã đến trên phương diện hình thức mà nền văn học đầu thế kỷ đã trải qua. Trên bước đường xây dựng nền quốc văn mới ,các nhà văn lúc ấy thể nghiệm đủ các hình thức tự sự học được từ nước ngoài . Hoặc đó là học của Trung Hoa : nên nhớ rằng trong suốt trường kỳ lịch sử các truyện Tàu được nhà nho xưa đọc thẳng từ nguyên văn ; chỉ đến giai đoạn này do có chữ quốc ngữ , chúng mới được diễn nôm tức là phiên dịch cho mọi người biết đọc biết viết có thể đọc và chính những truyện Tàu này đã đóng vai trò gợi ý để hàng loạt tiểu thuyết cỡ như Phan Yên ngoại sử,tiết phụ gian truân ,Hà hương phong nguyệt ,Đỉnh núi cành mai ,Tiếng sấm đêm đông ...được viết ra cho người mình đọc . Nhưng ảnh hưởng lớn hơn và kéo dài hơn là thuộc về nghệ thuật tự sự của phương Tây mà mặc dù mới lần đầu làm quen nhưng nhiều người thấy hình như hợp với tâm lý người Việt hơn.Việc tập tành viết theo lối mới được triển khai từng bước mò mẫm nhưng chắc chắn và không loại trừ cả một việc các cụ xưa thường vẫn làm là vay mượn cốt truyện .Cay đắng mùi đời của Hồ Biểu Chánh là tác phẩm phóng tác từ Không gia đình của Herto Malot .Ngọn cỏ gió đùa của cùng một tác giả xây dựng cốt truyện bằng cách dựa vào Những người khốn khổ của V.Hugo. Sống chết mặc bay là một cách mô phỏng từ Ván bi-a của A.Daudet — ấy là chỉ kể những tác phẩm vay mượn rõ rệt, còn số cảm đề lấy gợi ý từ tác phẩm xứ người thì nhiều vô kể.Lấy một ví dụ,chắc không phải là khiên cưỡng nếu nói rằng Dế mèn phiêu lưu ký của Tô Hoài là có họ hàng xa gần với Tê-lê-mạc phiêu lưu ký của Fénelon do Nguyễn Văn Vĩnh mang vào tiếng Việt . Lý do ở đây khá rõ ràng : trước đó ở ta chưa ai tính chuyện ghi lại những chuyện phiêu lưu bao giờ và hình như khái niệm phiêu lưu cũng rất ít được sử dụng . Từ sự tiếp xúc với sách vở xứ người rồi từ đây một số mô – típ của nghệ thuật tự sự phương Tây như sự phiêu lưu mới được Việt hoá rồi trở nên quen thuộc đến mức ta quên cả xuất xứ của nó và ta tưởng rằng từ ngàn xưa đã có các thể ghi chép ấy .

VI


Trong sự thay đỗi chung của các quan niệm văn học như trên đã nói ,lẽ tự nhiên là cái cách tự sự cũng có thay đổi . Với việc có ngay một trường thể nghiệm là báo chí và xuất bản,từ nay nghệ thuật viết truyện thoát ly hẳn lối kể truyền miệng mà tìm tới một trường phô diễn mới là trang giấy trắng . Trên các trang sách giờ đây không còn lồ lộ bóng hình người đứng ra kể chuyện như xưa mà lúc này vai trò của tác giả là dựng nên khung cảnh để người đọc như được nhập ngay vào không khí trong truyện. Hình thức tự sự cũng ngày càng trở nên phức tạp , điều này có thể thấy rõ ở hai điểm một là thay cho lối kể trước sau tuần tự dễ gây cảm giác tẻ nhạt nay các tác giả thường hay nhảy ngay vào giữa sự kiện mà miêu tả để gợi không khí tiếp đó mới quay về những nguyên nhân ban đầu ; và hai là không lan man rải ra mỗi chỗ một tí mà chỉ tập trung vào một vài sự kiện có tính cách tiêu biểu ,nhờ thế cái nhìn của độc giả tập trung hơn mà cũng sâu sắc hơn . Thử đọc lại truyện Cô hàng xén của Thạch Lam : câu chuyện bắt đầu bằng cảnh cô Tâm đi chợ về tiếp đó mới ngược lên kể gia cảnh nhà nàng và vai trò của nàng trong gia đình . Rồi tiếp theo đó là chuyện cô Tâm lấy chồng và phải đảm đang công việc bên nhà chồng nhưng tất cả những chuyên này được lướt qua rất nhanh để cuối cùng nhấn mạnh cái ý đời nàng ngày một khó khăn vất vả hơn và cuộc sống cứ thế mà kéo dài mãi. Đọc loại truyện này , giờ đây,với tư cách người đọc của thế kỷ XX và những năm đầu của thế kỷ XXI,chúng ta không lấy làm lạ. Nhưng thử đối chiếu với thi pháp tự sự thời trung đại phải nhận đây là cả một bước rẽ ngoặt .
Phương thức tự sự này đã hình thành ở phương Tây từ nhiều thế kỷ trước , đến thế kỷ XIX thì trở nên thành thục,các nhà văn Việt Nam đã học được rất nhanh để tạo ra một chuyển biến mới cho đời sống văn học , và chỉ cần nhìn vào sự trưởng thành của tiểu thuyết đủ hiểu nghệ thuật tự sự ở Việt Nam thế kỷ XX đã thay đổi như thế nào. Ơ chỗ này trường hợp của Việt Nam cũng là trường hợp của nhiều quốc gia khác ở phương Đông bao gồm từ các nước A rập tới các nước ở Đông Nam Á và cả Trung quốc nữa .

VII

Thế nhưng trong khi vận dụng phương thức tự sự mới , những đặc điểm riêng trong tư duy tự sự của VN các thế kỷ trước vẫn bộc lộ , như những cá tính ở một con người,dù hoàn cảnh có thay đổi đến đâu thì những nết xưa vẫn giữ mãi .
Khi bàn về tiểu thuyết VN ,các nhà văn ở ta thường nhấn mạnh tới tính chất gọn ghẽ cô đúc của nó, nét nó thanh , các đường dây phát triển của nó rành mạch .Thực tế là khoảng đến 90% tiểu thuyết Việt Nam là những cuốn sách ba bốn trăm trang gì đấy . Xưa đã không có những pho nọ pho kia thì ngày nay cũng rất hiếm những tiểu thuyết dày tới trên dưới ngàn trang .Vả chăng cái tư duy tự sự trong cuốn sách mới là chuyện đấng nói . Có thể gọi Vỡ bờ của Nguyễn Đình Thi , Sóng gầm của Nguyên Hồng là những bộ trường thiên tiểu thuyết roman fleuve và nếu biết rằng những tác phẩm này chỉ có thể hình thành từ gợi ý của những Gia đình họ Thibault của R.Martin du Gard hoặc Con đường đau khổ của A.Tolstoi thì vẫn có thể ghi nhận đây là một bước tiến trong việc tiếp nhận nghệ thuật tự sự phương Tây . Nhưng nhìn kỹ thì thấy những Vỡ bờ ,Sóng gầm được triển khai theo chiều rộng kèm theo một khối lượng nhân vật lớn song chưa thể nói là đạt tới một trình độ mới trong việc bao quát hiện thực .Theo ý chúng tôi loại như Nửa đêm của Nam Cao hoặc Giọt máu của Nguyễn Huy Thiệp đáng chú ý hơn vì thời gan được miêu tả trong mỗi truyện kéo dài tới mấy đời người , để rồi hé ra cho thấy mối quan hệ oan nghiệt của các thế hệ trong một dòng họ . Đó là một cách hình dung về sự liên tục của cuộc sống trên cõi nhân gian ,một sự liên tục theo chiều dọc vốn là ít thấy trong cách tư duy của người bình thường ở ta , và lại càng ít khi được miêu tả trong văn chương . Có điều phải nhận là cả hai loại truyện nói ở trên ( cả lối trải ra theo bề rộng lẫn lối biết nhìn nhận đời sống ở những mối liên hệ nhiều đời trong một dòng họ) đều đang quá ít đến mức chưa thể qua đây nói gì về trình độ tự sự nói chung của cả nền văn học,dù đó là thời hiện đại .

VIII

Một khía cạnh khác của nghệ thuật tự sự là khả năng của người kể chuyện trong việc nhìn sâu nhìn kỹ vào một sự vật tả nó ra một cách tỉ mỉ ,tức cũng là khả năng dừng lại kỹ càng ở sự vật đó tìm thấy cho mình một sự hứng thú trong việc nhìn ngắm nó và cảm thấy ở nó một bí mật có thể tìm hiểu mãi mà không chán . Khi bàn về Tính cách văn chương Việt Nam trước thời Au hoá một trí thức khá nổi tiếng thời kỳ 1941-1945 là ông Đinh Gia Trinh đã viết “...Văn chương Việt Nam thiên về sự diễn hoặc ngụ những tư tưởng luân lý và sự tả những niềm riêng của một người . Nó đi vào trong tâm người ta hơn là nó vơ ấp lấy tạo vật .Tả tỉ mỉ một căn phòng một sắc trời một thân thể người như các nhà văn tả chân bên Tây phương ? Không! Ơ văn thuật Việt Nam khi xưa không có chỗ cho tài nghệ của một nhà tiểu thuyết tựa Balzac dành một trang sách để tả cái mặt ngộ nghĩnh của một nhân vật trong truyện Le cousin Pons , hoặc như Flaubert dẫn ta qua những bụi cây bên đường , dán mắt ta qua khe cỏ để cho ta mục kích mấy con nhện xôn xao chạy trên mặt nước “ ( 9 ) .Về căn bản những nhận xét trên đúng với nghệ thuật tự sự Việt Nam thời trung đại . Bước sang thế kỷ XX , các nhà văn chúng ta đã cho phép chúng ta nghĩ khác .Có thể dẫn ra chân dung của những Chí Phèo Thị Nở Lang Rận ở Nam Cao để thấy bây giờ chúng ta đã nhìn kỹ vào gương mặt của nhau nhiều hơn hoặc nhớ lại vài đoạn phân tích tâm lý của Nguyễn Tuân trong các tập tuỳ bút để thấy văn chương đã tiến khá xa trong việc phanh phui đời sống bên trong của con người .Song phải nhận tình hình tiểu thuyết VN hiện đại cũng giống như tình hình bên hội hoạ . Người vẽ ở ta có vẻ thạo các loại phác hoạ hay màu nước hoặc thích làm tranh sơn mài lộng lẫy.Còn như nghệ thuật sơn dầu đặc tả thật kỹ từng sắc thái của sự vật,thì kinh nghiệm chưa nhiều và hình như các hoạ sĩ cũng khồng thích làm nữa . Đi sâu hơn vào kỹ thuật tự sự : trên thế giới ngày nay , bên cạnh lối trần thuật chỉ sử dụng có một điểm nhìn bắt đầu thấy thịnh hành lối tự sự có nhiều điểm nhìn . Đằng sau một chuyện thuần tuý kỹ thuật như thế này là cả một triết lý ;có vẻ như nhờ được nhìn từ nhiều góc độ , thế giới hiện ra trong tác phẩm gần với thế giới thực hơn.Thế nhưng ngay ở thời điểm bắt sang một thiên niên kỷ mới kỹ thuật này với người trần thuật ở VN và với đông đảo bạn đọc nói chung còn đang là một cái gì xa lạ.Người viết văn ở ta không mấy khi bàn bạc kỹ với nhau về các vấn đề kỹ thuật nghề nghiệp và đối với kỹ thuật tự sự thì tình hình cũng là tương tự .

IX

Tìm hiểu tư duy tự sự suy cho cùng tức là tìm hiểu cách hình dung của một dân tộc về cuộc đời với tất cả bề rộng và bề sâu của nó mà họ có được trong quá trình sống , bởi vậy nó còn liên quan đến ít nhất mấy khu vực nữa một là khoa nghiên cứu lịch sử và hai là cách hiểu về cái thực đã trở thành truyền thống trong nền văn học của dân tộc đó. Mà các phương diện này ở ta thì như thế nào ?
Nghề chép sử VN thời trung đại ít phát triển và sự thực là mỡi chỉ có một vài bộ thông sử ghi chép hoạt động của các triều đại các vua chúa , ngoài ra chưa có sử hay đúng hơn gần như chưa bao giờ nghĩ tới chuyện có những bộ sử đi vào các mặt sinh hoạt cụ thể các tầng lớp cụ thể , ví dụ lịch sử nghề nông , lịch sử đê điều , lịch sử trí thức,lịch sử tôn giáo….và hàng ngàn loại lịch sử khác như ở một nước cạnh ta là Trung quốc họ đã làm . Sang thời hiện đại, một số công việc loại trên mới được bắt đầu song lại chẳng có tài liệu gì nhiều để làm việc .Đến như các loại lịch sử ăn mày lịch sử cờ bạc lịch sử kỹ nữ… ( 10 ) chắc chắn ở VN không ai dám nghĩ tới việc viết như các đồng nghiệp ở Bắc Kinh Thượng Hải : Lâu nay trong quan niệm của ông cha ta đây là những sự thực không đáng ghi chép thì người hôm nay biết dựa vào đâu để viết ? Và do chỗ hôm nay cũng khồng ai nghĩ chuyện ghi chép nên năm mươi năm sau cũng sẽ không ai viết nổi!
Sở dĩ chúng tôi nhấn mạnh tới khoa chép sử vì ở nhiều nước , thực tế lịch sử chính là cái nguồn vô tận cung cấp đề tài và cốt truyện cho sáng tác .
Bởi tự sự là kể về đời thực,cho nên lẽ tự nhiên là quan niệm về cái thực của một dân tộc có vai trò chi phối đối với nghệ thuật tự sự ở dân tộc ấy.Thành thử chỉ cần nhớ lại một nhận xét cho rằng cái thực trong văn chương cổ điển VN không phải là cái thực khách quan mà là cái thực của tâm do nhà nghiên cứu Trần Đình Hượu nêu lên ( 11 ) thì người ta đã có một cứ liệu vững chắc để giải thích tình trạng yếu kém đơn điệu của nghệ thuật tự sự ở VN thời trung đại và tình trạng phát triển ngập ngừng của nó trong thời hiện đại .Cố nhiên đối với nghệ thuật trữ tình thì phải nhận định một cách khác ./.

Chú thích

(1)Đinh Gia Khánh và Chu Xuân Diên Văn học dân gian , ,NXB Đại học và trung học chuyên nghiệp H. 1974 , t.II , tr .70
(2)Nguyễn Hiến Lê Sử Trung quốc NXB Văn hoá H. 1997 , t.I ,tr . 351
(3)Pearl Buck ,Lê Đình Chân dịch Tiểu thuyết Tàu ,tạp chí Thanh Nghị 1944 từ số 83 trở đi
(4) Như (2) ,t .II ,tr.67
(5) Đàm Gia Kiện chủ biên Lịch sử văn hoá hoá Trung quốc Trương Chính ,Nguyễn Thạch Giang Phan Văn Các dịch NXB Khoa học xã hội H. 1993 , tr .277
(6)Trương Ai Linh Hoa hồng trắng hoa hồng đỏ ,NXB Phụ nữ H. 2001, tr.7
(7)Chú ý là trong văn học cổ điển VN còn nhiều trường hợp có sự vay mượn cốt truyện từ văn học Trung quốc như Truyền Kỳ mạn lục , Ngọc Kiều Lê hoặc về sau một chút là Đào hoa ký…
(8)Câu chuyện trong Hoàng Lê nhất thống chí có thể bao quát mấy đời vua và số lượng nhân vật ở đây cũng khá lớn . Nhưng đây là do nhu cầu của việc ghi lại lịch sử chứ không liên quan đến tư duy tự sự .
(9)Đinh Gia Trinh Tính cách văn chương VN trước thời Âuu hoá tạp chí Thanh Nghị 1941 số 2-3 ,in lại trong Hoài vọng của lý trí NXB Văn học 1996 ,tr.27
(10)Đây là một xê-ri sách được NXB Trẻ TP HCM cho dịch in trong năm 2001
(11) Trần Đình Hượu Thực tại cái thực và vấn đề chủ nghĩa hiện thực trong văn học VN trung cận đại in trong Nho giáo và văn học VN trung cận đại NXB Văn hoá thông tin H.1995 tr.443

Đọc tiếp ...

09-08-2009

Truy tìm căn nguyên thói “háo danh” của trí thức

(TuanVietNam)- Không phải người trí thức Việt Nam sinh ra đã ham chức danh như chúng ta thấy. Hoàn cảnh đẩy họ đến chỗ phải làm vậy. Sự mệt mỏi và nghiệp dư trong quản lý khiến cho công việc càng về sau càng được làm qua loa dễ dãi. Những người cơ hội kém cỏi chỉ chờ có thế. Họ “lẻn” ngay vào những chỗ đất trống... Nói như Cao Xuân Hạo, thói háo danh “có thể tăng rất nhanh theo cấp số nhân và biến thành một bệnh dịch quật ngã hàng triệu người” Ngành văn chương mà tôi làm việc thuộc khu vực mà người ta hay nhấn mạnh tính bản địa. Ngoài cái háo danh kiểu vô thức tập thể - cho rằng văn chương nước mình chẳng kém gì thế giới, rồi thường xuyên mũ cao áo dài vái lậy, tôn vinh nhau ngay trong sinh hoạt hàng ngày, còn một lối chạy theo danh vị kín đáo hơn, nhưng chắc chắn hơn. Đó là lo mấy câu thơ của mình được đưa vào sách giáo khoa cho học sinh cả nước học, lo tên tuổi của mình thường xuyên được nhắc nhở trên các phương tiện thông tin đại chúng, nịnh nọt những người được phân công viết văn học sử đương đại, cốt họ dành cho mình vài dòng trong sách và nhờ thế mình sẽ ở lại với vĩnh viễn. Sự phát triển tính hiếu danh”vượt xa kế hoạch” như thế này có những liên quan đến tình trạng của giới trí thức đương thời cũng như quan niệm của xã hội về họ. Hệ quả của một thời chiến tranh Xã hội sau 1945, căn bản là xã hội của tư duy công nông nghĩa là của những người hành động. Mọi sự tính toán xa xôi, những công việc không có lợi ích ngay cho sự nghiệp nếu không bị thù ghét thì cũng không thể được xem trọng như đáng lẽ phải có. Cuộc sống hàng ngày quá ư vất vả, thành ra tuy vẫn hiểu chủ trương lớn là trọng trí thức, nhưng trong thực tế người ta vẫn thành kiến với họ, chí ít là không tôn trọng họ, thấy họ quá kềnh càng phiền phức. Nên nhớ nét chủ đạo của hoàn cảnh là không khí thời chiến. Chiến tranh cào bằng tất cả. Chiến tranh tước đi những tự do tối thiểu của mọi công dân vì lúc ấy cần phải vậy. Sự tập trung cho chiến tranh làm nảy sinh trong xã hội VN dăm sáu chục năm nay một tâm lý thường trực, là chỉ tính chuyện ăn ngay trước mắt. Ngay trong thời kỳ 1946-54, một nền giáo dục thời chiến đã được tổ chức để đào tạo nhân tài. Nhưng cũng vì cần phục vụ ngay nên đó là một nền giáo dục mang nặng tính thực dụng, không muốn và không thấy cần đạt tới chuẩn mực cần thiết. Tình trạng phi chuẩn này còn được kéo dài mãi và trở nên nặng căn thêm bởi lý do sau đây. Khẩu hiệu của cách mạng là giáo dục phổ cập. Nhưng kinh tế thì chưa bao giờ hết khó khăn để đáp ứng nổi nhu cầu của đại chúng về giáo dục. Ngoài cách pha loãng, làm nhẹ, làm giảm thiểu chất lượng, không còn có cách nào khác. Theo những quy luật đã chi phối kẻ sĩ thời phong kiến, như vậy là tính háo danh và bệnh vĩ cuồng đã có đủ điều kiện để bắt rễ vào tư duy và nếp sống của lớp trí thức mới được đào tạo. Nhìn vào giáo dục những năm hoà bình 1954-65, cũng như thời chống Mỹ, thấy số năm học ở phổ thông, ở đại học có thể tăng, một số thầy giáo được đi học ở Nga, Trung Quốc và các nước Đông Âu... Nhưng về căn bản, cái hồn cốt của giáo dục vẫn là chắp vá, tạm bợ, không có khả năng hội nhập với giáo dục thế giới. Các bằng cấp của chúng ta chưa bao giờ được đông đảo các nền giáo dục khác công nhận là một bằng chứng về tình trạng cô lập kéo dài đó. Giai đoạn “phong cấp, phong tước” thời hậu chiến Đánh dấu bước ngoặt trong ngành giáo dục cũng như trong quan niệm về giới trí thức là năm 1958 và mấy năm sau। Chịu ảnh hưởng của cuộc đấu tranh chống phái hữu ở Trung Quốc, và cuộc đấu tranh chống nhóm Nhân văn bên Văn nghệ, giới Đại học trước tiên là khu vực khoa học xã hội đã có một cuộc “thay máu”। Các giáo sư nòng cốt như Nguyễn Mạnh Tường, Trần Đức Thảo, Đào Duy Anh, Trương Tửu và lớp trẻ đầy tài năng như Cao Xuân Hạo, Phan Ngọc... bị cho thôi việc hoặc chuyển sang các viện nghiên cứu, thực tế là chỉ ngồi chơi xơi nước hoặc làm những việc không quan trọng như dịch tài liệu. Lớp người thay thế được chọn ra chủ yếu theo tiêu chuẩn chính trị. Ban đầu, nhiều người trong số mới lên này nhũn nhặn, tự nhận là mình chỉ đóng vai trò thay thế, không đòi hỏi gì về chức danh, vui vẻ với đồng lương bé mọn mà vẫn chăm chỉ làm việc, và trong thực tế họ đã đóng vai trò thúc đẩy khoa học tiến tới. Tuy nhiên đến khoảng 1973-74 thì có một tình hình mới. Trong thực tế giảng dạy và nghiên cứu, nhu cầu chuẩn hoá dù không được đặt ra chính thức, song vẫn như một xu thế mà bất cứ nền giáo dục nào cũng phải hướng tới. Ít ra là bề ngoài ta phải có được hình thức cho dễ coi một chút! Lại thêm những khía cạnh mới trong tình hình xã hội đòi hỏi điều đó. Cuộc chiến tranh giải phóng bước vào giai đoạn kết thúc. Có một phương án sau này không xảy ra nhưng lúc đó được tính tới, đó là những cuộc đối thoại giữa hai xã hội miền Bắc và miền Nam. Trong cuộc đối thoại đó, không thể bỏ qua tiếng nói của giới trí thức. Ta cần phải có những giáo sư của ta những trí thức của ta chứ! Phải chứng minh cho phía bên kia thấy rõ là miền Bắc không chỉ biết làm chiến tranh mà còn biết làm học thuật. Và thế là nhu cầu phong cấp phong chức nổi lên, nó là đòi hỏi từ hai phía cả từ bên trong bản thân giới học thuật lẫn nhu cầu của xã hội. Cái cách của xã hội ta xưa nay vẫn vậy. Thấy cần là làm, không đủ điều kiện cũng làm, làm bất kể phép tắc. Và từ chỗ ban đầu còn chặt chẽ nghiêm túc, sự mệt mỏi và nghiệp dư trong quản lý khiến cho công việc càng về sau càng được làm qua loa dễ dãi, chín bỏ làm mười mà có khi chỉ năm sáu thôi cũng đã coi là mười. Những người cơ hội kém cỏi chỉ chờ có thế. Họ “lẻn” ngay vào những chỗ đất trống (tôi mượn chữ lẻn từ câu Kiều "Đẩy song đã thấy Sở Khanh lẻn vào” ) và từ chỗ xấu hổ, biết điều, quay ra chủ động thao túng tình hình. Mỗi chúng tôi đã bị làm hỏng như thế nào? Không phải người trí thức Việt Nam sinh ra đã ham chức danh như chúng ta thấy. Hoàn cảnh đẩy họ đến chỗ phải làm vậy. Cách đây khoảng hai chục năm, tôi đọc được trên tấm danh thiếp của anh C. một người quen, bên cạnh tên tuổi có ghi thêm các chức danh sau đây, mỗi chức danh một dòng, tổng cộng chín dòng. dòng 1:Nghề anh học ở đại học dòng 2: Nghề anh đang làm dòng 3 : Chủ tịch Hội.... dòng 4: Tổng biên tập báo... dòng 5: Đại biểu Quốc hội (năm đó anh đang là một ông nghị) dòng 6: Thành viên Uỷ ban xxx của Quốc hội Ngoài ra là ba chức danh nữa, tôi không nhớ xuể nhưng hình như là các loại giải thưởng được trao tặng. Thú thực ban đầu tôi cũng thấy buồn cười, nhưng sau thì thông cảm. Hồi ấy anh bạn tôi sau những nỗ lực bền bỉ, từ công việc chuyên môn được ngắm nghía để cơ cấu vào giới quan chức. Lớn lên từ đám học sinh Hà Nội rồi thành cán bộ nhà nước, chúng tôi đã nếm đủ những đau xót của một bọn người mang tiếng là người làm nghề sáng tạo trong xã hội, luôn luôn cảm thấy mình có tội vì đã coi trọng việc học. Đó là về tinh thần. Còn vật chất thì sao? Bao giờ đến lượt được mua xe đạp, bao giờ đến lượt được tăng lương, những việc đó chờ đã mỏi cổ, nói chi đến việc có được một cái nhà, xoay được một chuyến đi ngoại quốc? Không ai tuyên bố chính thức, nhưng tất cả thực tế hình như đồng thanh rót vào tai mình, chỉ có một cách hết nghèo hết khổ là lọt vào tầm mắt của lãnh đạo. Trở thành quan chức thì tốt nhất. Nếu không thì cũng phải có được những chức danh trong nghề, nó là cái dấu hiệu đánh dấu mình. Dù có phải luồn cúi chạy chọt một chút song vì cuộc sống bản thân và gia đình, hãy ráng mà giành lấy cho mình những danh vị cần thiết. Tôi đã nói là cần thông cảm với anh bạn C với tấm danh thiếp chín chức danh của mình. Vì hồi ấy sau khi ghé chân quan trường, đoàn thể, anh đang lo xin đất làm nhà. Một là, tuy biết trên nguyên tắc trước sau làm quan sẽ sớm được chia nhà, nhưng trong thực tế không đơn giản có ghế là có nhà ngay. Muốn được miếng ngon miếng sốt, còn phải cạnh tranh chán với các vị quan khác thì mới được như ý. Hơn nữa, quan trong văn nghệ là do dân cử, có khi chỉ ngồi được vài năm. Vốn tính thực dụng, anh bạn tôi hoàn toàn hiểu điều đó. Ngồi chưa ấm ghế, anh bắt tay ngay vào việc xin đất. Mà anh làm thật khôn ngoan. Người khác hách dịch công khai huy động cả cơ quan lo chuyện riêng cho mình. Còn C. thì hoàn toàn lặng lẽ tự mình làm hết. Lặng lẽ viết công văn. Lặng lẽ đóng dấu. Lặng lẽ đến các nơi có liên quan. Chính tấm danh thiếp chín dòng của C mà tôi dẫn ra ở trên xuất hiện trong thời gian đó. Tôi thầm dự đoán anh bạn đã phải loay hoay rất nhiều trong việc soạn ra danh sách các chức vụ để không quên một chức nào. Đây là tôi nói loại người còn đang hiền lành, nhân biết cái danh có thể đổi ra tiền thì lợi dụng nó. Lại còn loại người thứ hai là điên cuồng săn đuổi danh vị, sau đó mượn danh vị để tiến thân, ngày càng leo mãi lên trong hệ thống quan chức, dù chỉ là trong phạm vi quan chức chuyên môn. So với họ, anh C. của tôi còn tử tế chán. Nhưng cả loại người này nữa cũng không phải là “từ trên trời rơi xuống”. Mà họ cũng là sản phẩm của một sự thích ứng - thích ứng với cách đánh giá người và dùng người của xã hội. Nhưng đây là vấn đề thuộc về khoa xã hội học quan chức mà tôi chưa có dịp nghiên cứu. Trong bài này, trong chừng mực nào đó, tôi đã mở rộng ra nói về thói háo danh và căn bệnh vĩ cuồng mà người mình thường mắc, từ xưa trong hoàn cảnh nhược tiểu đã mắc, tới nay trong hoàn cảnh chớm hội nhập với thế giới bệnh lại trầm trọng hơn. Đây là những quan sát bước đầu, cần sự chia sẻ phản bác của các đồng nghiệp. Để kết thúc, tôi đưa ra hai kết luận cuối cùng : Một là hãy thông cảm với những người trong cuộc. Không phải người trí thức Việt Nam sinh ra đã ham chức danh như chúng ta thấy. Hoàn cảnh đẩy họ đến chỗ phải làm vậy. Hai là, bệnh khó chữa lắm. Vì nó chỉ là một biểu hiện của tình trạng tha hóa trí thức cần được nghiên cứu trên quy mô rộng hơn và có tầm khái quát hơn. 09/08/2009 TUANVIETNAM

Đọc tiếp ...

08-08-2009

"Giới thông thái chân đất"

(TuanVietnam) - Công cuộc phát triển đòi hỏi đất nước phải có một tầng lớp trí thức ngang tầm quốc tế và khu vực, ở đó không thể có sự nửa vời, sự tự hạ thấp tiêu chuẩn để làm dáng. Nền giáo dục đơn sơ Nhiều năm qua chúng ta hay nói một cách hồn nhiên rằng dân ta ham học và trong quá khứ ta có một nền giáo dục chẳng kém gì những nước khác. Bản thân tôi ban đầu cũng tin như thế, sau thực tế ngày càng thấy phải nói ngược lại. Trong một cuốn sách lịch sử giáo dục (1) tôi thấy người ta chỉ ra rằng thật ra giáo dục là chuyện xài sang. Chỉ những đất nước giàu có mới có tiền của để chi cho giáo dục theo đúng nghĩa của nó. Khi nền kinh tế ở trình độ tiểu nông manh mún, thậm chí trình độ hái lượm, con người có mỗi việc kiếm ăn đã không làm nổi, ta chỉ có thứ giáo dục ở dạng đơn sơ, kém cỏi. Ta hay khoe, người dân quê nào ở nông thôn VN cũng sẵn sàng bớt ăn bớt mặc cho con đến học ở các thầy đồ lấy “năm ba chữ thánh hiền”. Nhưng hãy nhìn kỹ vào những lớp học đó. Trường sở sơ sài. Sách vở tài liệu không có, đến bữa cơm chắc bụng cho người dạy cũng không có nốt (nhiều truyện tiếu lâm toàn ghi lại chuyện thầy đồ ăn vụng) - thử hỏi sau mấy năm theo học các ông thầy ấy, phần lớn các cậu học trò nhà quê học được gì ? Biết dăm ba chữ để đủ đọc tên mình trong khế ước văn tự thế thôi chứ làm sao hơn được?! Sự ham học có tính cá nhân nông nổi đó chưa bao giờ kết hợp với nỗ lực của cộng đồng để xây dựng nổi cơ chế giáo dục hợp lý và một nội dung giáo dục lâu dài, có triển vọng. Đọc lịch sử, đời Lê, sau khi đánh xong giặc Minh, nhà vua lo cầu hiền tài để chọn quan lại ở cấp cơ sở. Chọn như thế nào? Chẳng qua chỉ một số người tinh nhanh đủ chữ ghi chép và … biết làm tính (2). Theo như cách nói của một tác giả trên tạp chí Văn hóa nghệ thuật thì một nét đặc thù của trí thức VN trong lịch sử là tính cách lưỡng phân. Ông Nguyễn An Ninh, tác giả bài này giải thích: Họ vừa là kẻ sĩ vừa là nông dân. Khi không thể sống bằng chữ tức bằng nghề của mình, nhu cầu trí tuệ của họ bị giảm thiểu. Những xung lực cho hoạt động trí tuệ ở họ thường xuyên bị kìm hãm. Gặp hoàn cảnh khó khăn , họ dễ bị hư hỏng. Tính cách lưỡng phân ấy là cả một ám ảnh, như ám ảnh về quê hương nghèo đói. Ta hiểu tại sao một số trí thức tỉnh táo khi đã thành đạt, vẫn không thể quên nguồn gốc của mình, cái nơi mà từ đó mình đi tới. Đây là lời dặn của Nguyễn Khuyến cho con cái: Các con nối nghiệp cha nên biết Nghiên bút đừng quên đậu lúa cà Thế sao những người nông dân một nửa này vẫn miệt mài đèn sách để có ngày lều chõng khoa cử thì sao? Bởi việc nhồi vào óc một ít kiến thức cổ lỗ sở dĩ thu hút được toàn bộ tinh hoa nghị lực của nhiều người vì đó là con đường ngắn nhất để được gia nhập vào hàng ngũ quan chức. Không có sản phẩm trí thức Tự hào về nền giáo dục xưa, ta hay đưa dẫn chứng là trong lịch sử, các triều đại đã mở nhiều khoa thi và đã lấy được nhiều tiến sĩ, các bia tiến sĩ đó còn được đặt trong Văn miếu. Nhưng thử hỏi trước tác của các vị tiến sĩ đó là gì hay chỉ là những bài văn mòn sáo sau khi dâng vua thì chính người viết ra nó cũng quên nó luôn. Có thể chứng minh sự kém cỏi của nền giáo dục cổ ở một khía cạnh khác. Nhân xem xét danh sách các tác gia văn học VN bằng con mắt thống kê, người ta đã phát hiện ra một nghịch lý vui vui. Đó là nhiều nhà văn nhà thơ VN thời trước nổi tiếng mà không có tác phẩm (đây là nói những tác phẩm dày dặn, có chất lượng đáng kể, được truyền tụng về sau và trở thành một đối tượng mô tả bắt buộc của các bộ từ điển). Từ điển văn học Việt Nam do Lại Nguyên Ân biên soạn với sư cộng tác của Bùi Văn Trọng Cường có 276 mục dành cho tác giả trong khi chỉ có 132 mục dành cho tác phẩm. Từ thế kỷ thứ X đến hết thế kỷ XIX, tính đổ đồng, mỗi thế kỷ chỉ có 7 tác phẩm; riêng thế kỷ XIX khá hơn, có tới 68 tác phẩm được ghi vào từ điển, nhưng số tác giả cũng lớn hơn, tới 78 người. Cái hiện tượng cây không trái này (đúng hơn, có thể là toàn những trái chua trái héo, không cần cho ai, đời sau không ai buồn nhớ) càng thấy rõ khi nhìn vào hàng ngũ các ông trạng - chúng tôi muốn nói tới trạng chính thống chứ không phải trạng theo nghĩa dân gian. Theo Vũ Ngọc Khánh trong cuốn Kho tàng về các ông trạng VN thì không kể triều Nguyễn không lấy trạng nguyên, các triều đại Lý Trần Lê có tới 47 người được phong trạng. Nhưng phần lớn họ không có tên trong danh sách các tác gia nổi tiếng ở nước ta. Ngược lại, xét chung các nhà sáng tác thơ văn, từ Nguyễn Du tới Nguyễn Đình Chiểu, từ Nguyễn Gia Thiều Phạm Thái cho tới Tú Xương, nhiều người không thuộc loại đỗ đạt cao. Riêng về biên khảo, một học giả thực thụ như Phan Huy Chú, tác giả của bộ sách đồ sộ, mang tính cách tổng kết lớn, một thứ bách khoa toàn thư là Lịch triều hiến chương loại chí, chỉ đỗ đến tú tài. Câu chuyện người đỗ không giỏi và người giỏi không đỗ không chỉ tố cáo sự kém cỏi của hệ thống giáo dục mà còn cho thấy một phần thực chất con người của nhiều ông trạng. Họ chính là điển hình của loại học trò thuộc bài, chỉ biết tầm chương trích cú rồi làm theo những khuôn mẫu sẵn có, nói chung là những cá tính tầm thường, không có quan hệ gì tới tư duy độc lập và sự sáng tạo. Ta đã có tầng lớp tri thức đúng nghĩa? Ta đã có tầng lớp tri thức đúng nghĩa chưa? Bước vào giai đoạn hội nhập, gần đây, những cuộc bàn cãi xuất hiện đều đều trên mặt báo ở ta cho thấy vấn đề về giới trí thức đang là mối quan tâm chung của xã hội. Điều này có lý do chính đáng của nó. Sự trì trệ kéo dài hàng ngàn năm mà đến nay ta vẫn lĩnh đủ có một nguyên nhân sâu xa: cộng đồng không hình thành nổi bộ phận tinh hoa (elite) của mình. Một chủ nghĩa bình quân tối đa đã níu kéo tất cả lại. Tôi muốn đặt vấn đề: liệu trong thực tế lịch sử chúng ta đã có một tầng lớp trí thức đúng nghĩa chưa? Nếu tạm thời chấp nhận là có một tầng lớp như vậy, thì quá trình hình thành của họ có đặc điểm gì? Tại sao họ dễ bị làm hỏng đến vậy? Trước 1945, những Phan Kế Bính, Phạm Quỳnh, Đào Duy Anh, Nguyễn Văn Huyên, các tác giả có bài thường xuyên trên Tri Tân Thanh Nghị… đã có ý kiến về vấn đề này mà chưa ai có dịp tổng kết. Tuy không nói ra, nhưng có vẻ như với nhiều người, kẻ sĩ Việt Nam chỉ là một loại trí thức chân đất. Một số nhà nghiên cứu gần đây đôi khi còn đi tới những khái quát cực đoan hơn. Trong một bài viết mang tên Tâm lý dân tộc với cuộc Cải cách hành chính hiện nay nhà xã hội học lão thành Đỗ Thái Đồng cho rằng xã hội cổ truyền VN thiếu ba chỗ dựa cơ bản: - Không có giai cấp quý tộc trong khi có đông đảo đám quan lại nhất thời. - Không có tầng lớp trí thức để có được các trào lưu học thuật tư tưởng riêng. Rất hiếm thấy cái cốt cách như Lý Bạch“ Thiên tử hô lai bất thượng thuyền”. Học để làm quan, tuyệt đại đa số kẻ sĩ đều mộng làm quan hơn là giữ vai trò thầy đồ… áo rách. - Không có lớp doanh nhân tung hoành về thương mại hay công nghệ trong nước cũng như ngoài nước. Trong ba đặc điểm tôi cho là được nêu ra chính xác này, cái thứ hai liên quan đến chủ đề trí thức chúng ta đang nói. Thói háo danh chẳng qua chỉ là dấu hiệu của một tầng lớp trí thức non yếu. Còn mọi thái độ dễ dãi với họ chiều nịnh họ mà không dám yêu cầu cao ở họ cuối cùng chỉ đẩy họ sa đà mãi trong tình trạng bần cùng về trí tuệ và nẩy sinh những căn bệnh mới. Cũng nên nói thêm, sự dễ dãi này ban đầu có vẻ là một thiện ý hoặc nói như chữ nghĩa thời nay – một sự chia sẻ, nó bắt đầu từ một cảm nhận chung về sức ép của hoàn cảnh. Nó là cách nghĩ từng ngự trị trong xã hội một thời gian dài. Đất nước lo gồng mình lên để chống ngoại xâm. Cuộc sống khó khăn đến nỗi, khi nghĩ về nhau người ta chỉ thấy những điều tốt đẹp, cốt sao giữ lấy cho nhau niềm tự tin, rồi động viên nhau hợp sức trong việc chống trọi lại các thế lực thù địch từ bên ngoài tới. Tức nó là sản phẩm của những thời đại mà mọi nỗ lực của con người là lo tồn tại, tới mức có thể bảo nền văn hóa của chúng ta là văn hóa để tồn tại. Còn nếu như đặt vấn đề tồn tại chỉ là chuyện tối thiểu, cái đáng lo hơn, như hôm nay, là chuyện phát triển, chúng ta sẽ phải nghĩ khác về quá khứ và luôn thể nhìn lại khác đi về nhau. Nay là lúc mọi sự vuốt ve nhau dễ dãi, là không đủ nữa. Công cuộc phát triển đòi hỏi đất nước phải có một tầng lớp trí thức ngang tầm quốc tế và khu vực, ở đó không thể có sự nửa vời, sự tự hạ thấp tiêu chuẩn để làm dáng. Ghi chú: (1) Roger Gal Lịch sử giáo dục, bản dịch Lê Thanh Hoàng Dân-- Trần Hữu Đức. NXB Trẻ-- Sài gòn, 1971 (2) Dẫn theo Đại Việt sử ký toàn thư của nhà xuất bản Khoa học xã hội 1983, tập II tr 296 (5) Nguyễn An Ninh Tính chất lưỡng phân, một nét đặc thù của trí thức Việt nam trong lịch sử Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật 1998, số 1 Chú ý xin đừng lầm với Nguyễn An Ninh (1900-1943), nhà hoạt động xã hội ở đầu thế kỷ XX. Có điều thú vị là nhà trí thức lớn Nguyễn An Ninh trước đây cũng từng nhận xét xứ ta là nơi mà “chỉ với một chút xíu khoa học” người ta đã có thể tự coi mình là nhà thông thái, tương tự như “với hai xu trong túi, người ta đã trở thành những nhà giàu.” Khi lưu ý tình trạng nhiều người “cảm thấy thỏa mãn vừa lòng khi chui rúc trong một túp lều”, hình như ông muốn nói rằng tình trạng thiếu khát vọng và ý chí đã kìm giữ mãi chúng ta trong khung cảnh lạc hậu. 08/08/2009 TUANVIETNAM

Đọc tiếp ...

07-08-2009

Thói háo danh và vĩ cuồng của trí thức

(TuanVietNam) - Thói háo danh và căn bệnh vĩ cuồng, từ xưa trong hoàn cảnh nhược tiểu nhiều người đã mắc, tới nay trong hoàn cảnh chớm hội nhập với thế giới, bệnh lại trầm trọng hơn trong một bộ phận trí thức. Lời TS: Trí thức là một thành phần quan trọng, đóng vai trò định hình tư tưởng, dẫn dắt xã hội. Tuy vậy, theo nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn, không phải toàn bộ nhưng ít nhất một bộ phận trong số họ có những nhược điểm cố hữu. Tuần Việt Nam xin giới thiệu một số bài viết của ông về chủ đề này với mục đích tự nhìn lại mình, phản tư để thấu hiểu và thay đổi chính mình. Bệnh sùng bái danh hiệu, chức vụ... trong giới trí thức vừa được Đặng Hữu Phúc xem như một quốc nạn. Chỉ có thể chia sẻ với một khái quát như thế nếu người ta nhận ra những gì đứng đằng sau cái căn bệnh có vẻ dễ thương đó là sự liên đới của nhiều “chứng nan y“ cùng là sự tha hoá của giới trí thức cũng như của nhiều lớp người khác. Bài viết Tôi chỉ là Ashkenazy! Hay quốc nạn loạn chức danh, học vị gợi tôi nhớ tới một câu chuyện trong sử cũ. Nhìn người bằng... chức danh Nửa cuối thế kỷ thứ XVII, có một trí thức Trung Quốc là Chu Thuấn Thuỷ trên bước đường chống Thanh phục Minh nhiều lần đến Việt Nam. Lần ấy, khoảng 1657, nghe Chúa Nguyễn có hịch chiêu mộ những ai biết chữ để giúp vào việc nước, Chu ra trình diện. Nhưng ông cảm thấy chung quanh không hiểu mình, không thi thố được tài năng, lại bị làm phiền, nên bỏ sang Nhật. Sau ông đóng góp rất nhiều vào viêc phát triển xã hội Nhật. Chu không phải là loại người đọc sách xa lánh sự đời. Một học giả Nhật đã viết về Chu “ .(Cái học của tiên sinh nhấn mạnh về "kinh bang tế thế". Giả sử nếu cần biến một vùng đất hoang thành phố thị, phải tập hợp sĩ nông công thương, thì một tay tiên sinh có thể cáng đáng để xây dựng nên phố thị. Thay vì “ thi thư lễ nhạc” tiên sinh thích nghiên cứu và tìm hiểu sâu sắc về cách canh tác ruộng nương và cách xây dựng nhà cửa, cách làm rượu làm tương... Tiên sinh có thể dạy người ta bất cứ việc gì (1) Riêng chuyện bộ máy chính quyền Đàng Trong không thể chấp nhận một người như trên, đủ cho ta hiểu trình độ của bộ máy đó là như thế nào. Trong tập ký sự của mình, Chu Thuấn Thuỷ kể khi trình diện nhà cầm quyền địa phương, gặp chuyện buồn cười là người Việt Đàng Trong bắt ông ứng khấu ngay một bài thơ rồi viết trên giấy. Tiếp đó câu đầu tiên bị hỏi là “Cống sĩ với cử nhân và tiến sĩ, bên nào hơn ?“. Khi biết Chu chỉ là cống sĩ, viên quan địa phương có ý xem thường, cho học lực của Chu không thể nào đọ được các vị khoa bảng nhà mình. Từ câu chuyện về Chu Thuấn Thuỷ tới câu chuỵên về nghệ sĩ Nga Vladimir Ashkennazy mà Đặng Hữu Phúc vừa kể, như là có sự nối tiếp. Hoặc có thể nói cả hai phối hợp với nhau làm nên một đôi câu đối khá chỉnh. Một bên thì không thể hiểu người nổi tiếng lại không có một chức danh nào, còn bên kia thì không cần biết trước mặt mình là người đã được hoàng đế nhà Minh mời ra giúp nước, chỉ nghe cái bằng cống sĩ đã bĩu môi chê bai - giữa người ngày xưa với người ngày nay, sao mà có sự ăn ý đến thế! Từ háo danh tới vĩ cuồng Đặng Hữu Phúc đã nói tới cái khó chịu khi phải nghe đám người “mở miệng là họ nói tới chức tước “ - tức đám người háo danh - trò chuyện với nhau. Ai đã sống trong giới trí thức ở ta hẳn thấy chuyện đó chẳng có gì xa lạ. Anh A và anh B vốn cùng nghề và cùng cơ quan, họ cùng dự buổi họp nhỏ, chứ không phải đăng đàn diễn thuyết trước bàn dân thiên hạ gì. Thế mà cứ động phát biểu thì từ miệng anh A, vang lên nào là “như giáo sư B đã nói” (gọi đầy đủ cả tên họ), nào là “tôi hoàn toàn đồng tình với các luận điểm giáo sư B. vừa trình bày“ (Thực ra có luận điểm khoa học gì đâu mà chỉ là mấy nhận xét vụn). Và B cũng đáp lại bằng cách nói tương tự. Khi phải dự những cuộc hội thảo ở đó cách xưng hô và nói năng giữa các thành viên theo kiểu như thế này, tôi chỉ có cách ráng chịu một lúc rồi lảng. Tôi không sao nhớ nổi họ nói với nhau điều gì. Và tôi đoán họ cũng vậy. Vì mỗi người trong họ có vẻ còn mải để ý xem người phát biểu đã gọi người khác đúng chức danh chưa, hay để sót, chứ đâu có chú ý tới nội dung các phát biểu. Không khí nhang nhác như những buổi họp quan viên trong các làng xóm xưa, mà Ngô Tất Tố hay Nam Cao đã tả. Tại sao chúng ta khó chịu với lớp người háo danh này? Đơn giản lắm, ta thấy họ ấu trĩ, non dại, thực chất họ thấp hơn cái vị thế mà họ chiếm được, không xứng với chức danh họ nhăm nhăm mang ra khoe. Ai đã thử quan sát tình trạng tinh thần của đám người mê tín hẳn biết, người càng thiếu lòng tin, thì khi vào cuộc mê tín càng cuồng nhiệt. Giới trí thức cũng vậy, cái sự thích kêu cho to chẳng qua là một cách để xoá bỏ mặc cảm. Kẻ yếu bóng vía lấy cái mã bên ngoài để làm dáng che đậy cho sự trống rỗng bên trong. Mấy thói xấu mà Đặng Hữu Phúc nêu lên chỉ đáng để người ta cười giễu, ghét bỏ, thương hại. Song ác một nỗi chính nó lại là dấu hiệu đầu tiên của nhiều chứng nan y khác chẳng hạn căn bệnh mà Cao Xuân Hạo trong một bài viết ở cuốn Tâm lý người Việt nhìn từ nhiều góc độ (2) gọi là bệnh vĩ cuồng ( me’ganomanie). Cao Xuân Hạo kể một chuyện mà thoạt nghe chắc chẳng ai dám tin. Hàng năm cơ quan lưu trữ nước mình thường phải thanh lý hàng tấn những hồ sơ “sáng kiến phát minh“ gồm toàn đề nghị viển vông do người trong nước ùn ùn gửi tới, ví dụ một người đề nghị ta cần mượn của Liên Xô (hồi đó còn Liên xô ) tên lửa vượt đại châu để bắn vào bắc cực khiến trục trái đất lệch thêm mười độ sao cho VN thay đổi vĩ độ và trở thành một nước ôn đới (vì tác giả “đề án” này tin rằng chỉ có khí hậu ôn đới mới thích hợp với một tốc độ vũ bão, giúp nước ta đuổi kịp và vượt xa các nước tiên tiến trên thế giới). Cao Xuân Hạo nói thêm điều đáng lo là ở chỗ phần đông chúng ta khi nghe những điều quái gở ở đây đều thấy bình thường, cùng lắm thì là loại sai lầm dễ tha thứ; còn ai tỏ ý kinh hoàng thì bị mọi người coi là bệnh hoạn vô đạo đức vì đã không tin vào khả năng sáng tạo của những người bình thường. Cần phải gộp cả thói háo danh và bệnh vĩ cuồng nói trên để phân tích vì giữa chúng có một điểm chung là đều xuất phát từ những người và nhóm người sống trong tình trạng cô lập, không có khả năng tự nhận thức, đứng ngoài nhịp phát triển tự nhiên của thế giới. Tình hình lại cần được xem là tệ hại bởi nó bám rễ vào bộ phận tinh hoa của xã hội. Trí thức là bộ phận mũi nhọn của một cộng đồng, của những thể nghiệm làm người của cộng đồng đó. Những nhược điểm của trí thức chẳng qua chỉ là phóng to nhược điểm của cộng đồng. Và nếu như những nhược điểm này đã thâm căn cố, đế trở thành một sự tha hoá, thì tình trạng của người trí thức sẽ là một phòng thí nghiệm hợp lý để nghiên cứu về tình trạng tha hoá nói chung. Phải nghiên cứu kỹ lưỡng thì may ra mới có cơ hội chữa chạy hay ít nhiều cũng giảm thiểu tình hình nguy hại. (1) Chu Thuấn Thuỷ Ký sự đến Việt Nam năm 1657 (An Nam cung dịch kỷ sự), Vĩnh Sính dịch và chú thích, Hội khoa học lịch sử Việt Nam 1999, tr.11 (2) Trung tâm nghiên cứu tâm lý dân tộc -- Tâm lý Người Việt nam nhìn từ nhiều góc độ, Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh,2000, tr.82-8 07/08/2009 TUANVIETNAM

Đọc tiếp ...

06-08-2009

Đi tìm một hướng nghĩ về sử Việt nam

Mấy năm nay ở ta có hiện tượng điểm sử của các học sinh trong các kỳ thi trung học kém một cách thảm hại. Và nói rộng hơn, lớp trẻ hiện nay ngán các bài sử ở trường đến tận mang tai, bất đắc dĩ phải học sử, lúc học lên có không biết thi vào trường nào khác mới chịu thi vào sử.
Tại sao như vậy ? Tại sao học sinh kém sử?
Nhiều người nói là các giáo viên chúng ta không biết dạy। Có người dám viết rằng đã gọi là lịch sử thì bao giờ cũng nhàm chán khô khan,khó hiểu lặp đi lặp lại।Họ tính chuyện tăng tính hấp dẫn của môn sử bằng tranh vẽ với lại phim ảnh,bởi tin rằng chỉ các biện pháp kỹ thuật thật xịn ấy mới giúp cho môn học đỡ ngấy.
Nếu chúng ta biết rằng ở các nước, lịch sử vẫn được người ta coi là một môn học sinh động và có sức lôi cuốn bậc nhất với học sinh, thì có thể thấy đầu mối câu chuyện không phải là ở chỗ ấy. Lịch sử sao lại nhàm chán cho được?!
Việc học sinh và người dân ở ta ngán sử,theo tôi có nhiều nguyên nhân khác nhau.
Các bài sử được giảng khô cứng tẻ nhạt thiếu hẳn chi tiết thực tế.Chuyên ngày xưa được kể lại mà cứ như chuyện ngày .Ngôn từ và cách nói của lịch sử thiếu vắng. Cũng như thiếu hẳn cảm giác về một thời gian đã qua, vừa xa lạ vừa gần gũi.Thế thì ai mà thích được ?
Vỏ đã vậy, còn ruột thì sao? Một môn học chỉ hấp dẫn khi người ta tạo cho người học cảm tưởng ở trong đó có rất nhiều bí mật, kể cả những chuyện có thực mà không một đầu óc nào tưởng tượng nổi.Nó mời gọi người ta khám phá, chứng kiến, lý giải.
Cái hồn này của sử ở ta không có।Ngược lại,người viết sử chỉ cho thấy một thứ lịch sử trên sơ đồ,lịch sử đã chưng cất phục vụ cho một mục đích giáo dục đúng đắn nhưng quá đơn điệu.Thí dụ nói đến nhà Trần đánh quân Nguyên chỉ toàn cho thấy mấy lần vua tôi bàn nhau quyết tâm Sát Thát, nói đến vua Quang Trung chỉ nói đến chiến thắng Đống Đa Ngọc Hồi …Ở trung học cũng vậy,mà lên đại học cũng vậy.Còn chuyện những người cầm quân và làm việc nước lúc ấy quan hệ với nhau ra sao,suy nghĩ cụ thể như thế nào trong hành động,có những chính sách cụ thể ra sao sau chiến thắng – tương tự như hai mẩu chuyện tôi vừa đọc được – thì không bao giờ cho học sinh biết và gợi cho chúng cần biết.
Sau khi học qua chục năm ở trường phổ thông đám trẻ thông minh hiện nay lúc vui đùa thường mang những công thức mà chúng học được trong các giờ sử ra giễu cợt : nào “có áp bức có đấu tranh “, nào “tinh thần yêu nước và căm thù giặc đã tạo nên sức mạnh “.
Khi cảm thấy không được tôn trọng,không cảm thấy cái thiêng liêng trong kiến thức mà vẫn buộc phải học,người ta không có cách phản ứng nào khác.
Muối mà không mặn còn gì là muối, sử mà không có cái phập phồng của đời sống con người trong quá khứ,làm sao gọi là sử được ?

Ghi chép của người yêu sử
Xu thế của con người là muốn hiểu, muốn biết quá khứ của mình. Con người tìm thấy sự hấp dẫn của Sử khi từ quá khứ nhận ra những mối liên hệ với ngày hôm nay, thấy ngày hôm nay là tiếp nối của ngày hôm qua. Tôi cũng vậy, tôi thích sử bởi tôi thấy các vấn đề xảy ra trong trong lịch sử dân tộc đang đổ bóng vào cuộc sống hàng ngày tôi đang sống.

Một lần đọc Hà văn Tấn tôi thấy ông trích dẫn một câu khá hay của nhà triết học B. Russel,“ đọc sử để biết những ngu xuẩn của quá khứ, nhờ thế người ta có thể chịu đựng tốt hơn những ngu xuẩn của hiện tại “
Trần Khánh Dư (không rõ năm sinh, mất năm 1339 ),thường được biết tới như một trong những công thần trong cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông.Có điều ông cũng rất giỏi tham lam vơ vét. Khi làm trấn thủ Vân Đồn, tục ở đấy quần áo đồ dùng còn bắt chước người Trung quốc, ông ra lệnh cho quân không được đội các nón kiểu phương bắc mà phải đội nón của một làng gần đấy gọi là nón ma lôi để phân biệt.Nghe thì có vẻ rất nghiêm !Có biết đâu,trước đó ông đã sai người nhà mua sẵn nón về bán, mỗi chiếc giá đắt gần bằng một tấm vải, nhờ thế cũng có được một “chiến công tưng bừng” trên phương diện kiếm lợi bỏ túi.
Câu chuyện trên không thấy ghi trong các bộ sử hiện đại, kể cả Việt nam sử lược, tôi chỉ biết được nhờ mấy hôm buồn tình lấy bộ Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú ra đọc. Đến khi tìm lại Đại việt sử ký toàn thư thấy có thêm một chi tiết có sức tố cáo mạnh hơn. Có lần người dân đã kiện Trần Khánh Dư đến tận triều đình, nhưng ông không sợ mà còn công khai tuyên bố: “ Tướng là chim ưng, dân lính là vịt, dùng vịt để nuôi chim ưng có gì là lạ ? ”.
Câu chuyện về Trần Khánh Dư trước tiên mang lại cho tôi một sự an ủi, hoá ra nhiều chuyện đời nay chỉ là phóng chiếu những chuyện đời xưa.
Về tham nhũng, Đại việt sử ký toàn thư ghi, không phải đến thời vua Lê chúa Trịnh, mà ngay từ đời Lê Nhân Tôn ( sau Lê Thái Tổ và Lê Thái Tôn, trước Lê Thánh Tôn ), tức khi vương triều thịnh trị, đã có hiện tượng “ trên thì tể tướng, dưới thì trăm quan, hối lộ bừa bãi ”.
Về những dễ dãi trong việc ban quan tước, sách Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú ghi: “ Triều Tây Sơn phong tước quá lạm, đến cả phu quét chợ, lính đẩy xe cũng đều trao cho tước hầu tước bá. Danh khí tồi đến như thế ! Muốn cho khỏi loạn,có thể được không ?”.

Chống tham nhũng đang là vấn đề “nóng”. Tôi đọc sử và phát hiện ra trong lịch sử các triều đình xưa đầy rẫy chuyện tham nhũng. Từ đời Lê Thái Tổ trở đi đã có tham nhũng rồi. Một trong những lý do đẻ ra tham nhũng bởi vì lương của quan chức ở ta thời xưa thấp quá, bù lại, triều đình thả ra cho họ tha hồ kiếm chác ở dân. Hay hiện tượng mua quan bán chức cũng sớm phổ biến, thời nào cũng có, từ trong các làng xã ngược mãi lên đến cả triều đình. Tạp chí Nghiên cứu lịch sử số ra đầu 2008, có bài nói về ngoại thương thời chúa Trịnh. Hóa ra bản chất của vấn đề y như bây giờ. Các chúa chỉ tính tới ngoại thương khi yếu quá và muốn lợi dụng khả năng quân sự của nước ngoài để đánh nhau, chứ không phải vì muốn buôn bán gì cả. Lúc thì cấm, lúc thì cho phép, lung tung tuỳ tiện. Những người làm ngoại thương vì xã hội thì ít mà vì chính mình thì nhiều.Các quan chức nghề này thường lợi dụng việc xuống tàu kiểm tra để xin xỏ. Đọc lại tự nhiên thấy cảm ơn các nhà viết sử thời xưa và muốn đi tìm để đọc tiếp.


Quan niệm về sử của chúng ta có vấn đề
Trong số ý kiến ngắn đăng ở Talawas cuối 2007 , có lá thư của Trần Văn Tích, thống kê số sách vở mất mát sau cuộc kháng chiến chống nhà Minh
Đoạn văn có một chi tiết mà tôi không tìm thấy ở đâu : Khi đưa ra con số này trong Việt nam sử lược, cả Trần Trọng Kim cũng chỉ nói người Minh mang về Trung quốc mà quên đi rằng chính là người nông dân Việt khi vào các kinh thành cũng đã đốt rất nhiều sách. Trong Lịch triều hiến chương loại chí, Phan Huy Chú đã viết thế
Chi tiết này gợi cho tôi mấy ý nghĩ
1/ Hóa ra không phải đến các nhà viết sử hiện thời mà cả những Trần Trọng Kim Đào Duy Anh cũng có lối viết đổ cả những kém cỏi trong sự phát triển của xã hội Việt Nam cho người nước ngoài.
2/ Chúng ta có một lối nghĩ về sử khá quan liêu, tức là bằng lòng với những huyền thoại। Chẳng hạn khi nghiên cứu về sử thời giặc Minh ai cũng chỉ nghĩ tới công thức băt dân ta lên rừng tìm thú quý, xuống biển mò ngọc châu mà Thí dụ mà TVT nêu ở trên giúp chúng ta giải huyền thoại này , và chợt nhận ra bao công việc phải làm
Khi nói về sach vở , người mình chỉ nghĩ đến văn thơ,tính chung trong số người liệt vào loại danh nhân đất nước,cứ một trăm người thì phải đến tám chín chục phần trăm . Trong khi đó, đọc các tài liệu nghiên cứu về Trung Hoa chẳng hạn, thấy trong độ một trăm danh nhân của họ thì số nhà văn nhà thơ chỉ độ 20%
Học thuật ở ta không được chú ý đúng mức.Chúng ta chỉ thích nói chuyện tình cảm , mà không để ý tới sự nghĩ
Chúng ta nhìn về quá khứ giống như một khối mờ mờ. Các giai đoạn lịch sử mới được gọi tên nhiều hơn là được nhận thức. Con người VN các thời đại trước đây sống ra làm sao, đi lại, ăn uống, đọc sách như thế nào? Các đô thị hình thành ra làm sao? Các sứ thần mang về những cái gì từ Trung Quốc? Các thuyền buôn nước ngoài đến VN ra làm sao? Những câu hỏi đó chỉ mới được trả lời sơ sài và nhiều khi là chưa được ai đề cập tới.

. Một trong những lý do đẻ ra tham nhũng bởi vì lương của quan chức ở ta thời xưa thấp quá, bù lại, triều đình thả ra cho họ tha hồ kiếm chác ở dân. Hay hiện tượng mua quan bán chức cũng sớm phổ biến, thời nào cũng có, từ trong các làng xã ngược mãi lên đến cả triều đình.


Tôi bắt đầu chú ý tới sử khi muốn tìm hiểu sâu hơn về thực tế đời sống ở VN hôm nay.
Càng đọc lại sử, tôi càng thấy mình có lỗi. Hóa ra nước mình có mấy bộ sử quý như Đại Việt sử ký toàn thư, như Đại nam thực lục. Thế mà mang danh là những người cầm bút mấy ai đã đọc những bộ sử đó.
Nhưng chúng ta chưa có cái Sử đó. Thường xuyên chỉ có những bức tranh chung chung được đưa ra, chúng hết sức xa lạ với mối quan tâm hàng ngày của con người đương thời.

Một trình độ cổ lỗ
Đi sâu vào khoa nghiên cứu lịch sử thấy có quá nhiều chuyện và lý do sâu xa khiến không ai muốn dạy sử, không ai muốn học sử phải tìm ở đấy.
Chúng ta chỉ nhìn quá khứ với con mắt vụ lợi. Cái gì có lợi cho mình, ta nhắc lại. Cái gì có vẻ như không có lợi tức thì, lờ đi. Đó là một thứ chủ nghĩa thực dụng sát mặt đất. Thế thì làm sao có Sử được ? Không ai muốn nhận nhưng rõ ràng chúng ta không nghiêm túc trong nhìn nhận quá khứ. Lại rất quan liêu nữa. May lắm thì trong sử chúng ta đang đọc và dạy nhau hôm nay chỉ có các sự kiện chính trị xã hội. Trong khi đó Trung Quốc người ta có lịch sử ăn mày, lịch sử thương nhân, lịch sử trang phục...Ở Đức, người ta nghiên cứu lại cả những đám cưới thời Hitler.Cách hiểu về quá khứ của ta quá cổ lỗ và đơn điệu. Mình sắp làm phim về Lý Công Uẩn, tôi ngờ lắm. Chúng ta có biết gì về thời gian đó đâu . Cung điện thời đó ra sao ? thành quách thế nào? Con người ăn mặc nói năng ra sao ? Không ai biết. Gần đây nghe nói người ta còn định sang Trung Quốc để thuê ngựa về quay và ông Dương Trung Quốc đã phải nói ngay là dân ta xưa đâu có sử dụng ngựa nhiều. Từ đây mà suy ra, thì khi đối diện với cái cuộc sống hiện ra trong phim, ai còn tin được điều gì.
Hoặc như lịch sử hiện đại. Hoạt động sưu tầm và quản lý sử liệu quá kém, các kho lưu trữ lại không mở ra cho các nhà làm sử tham khảo. Các tài liệu phụ trợ như hồi ký thư từ, không được khai thác, hoặc trong không ít trường hợp là của giả. Nói chung, chúng ta coi mảng lịch sử đó như một cái gì đã thành, chứ không đặt vấn đề nghiên cứu tìm hiểu và phát hiện lại. Nói lịch sử chết cứng trong các công thức cũ là với nghĩa vậy, và việc không có công trình nghiên cứu lịch sử nào ra hồn là chuyện đương nhiên
Ngay khối lượng thuần túy sách vở về sử ở ta đã không đạt yêu cầu Ở nước ngoài, từng triều đại từng giai đoạn người ta nghiên cứu nát ra. Còn mình mỗi thứ có được vài ba quyển, lại trùng hợp nhau chép lẫn của nhau. Gần đây có một thực tế là người nước ngoài viết về Sử Việt Nam tốt hơn người Việt Nam. Nhiều nhà nghiên cứu lịch sử tiếng Hán không biết, tiếng Pháp, tiếng Anh... không biết. Kể cả một số thầy đầu ngành vài chục năm nay cũng chỉ mài một số hiểu biết cũ ra viết lại. Các lớp trò sau mỗi ngày kém đi một chút. Hỏi đến học sinh phổ thông, còn được cái gì?!

Nhận thức về quá khứ vốn là nhu cầu chính đáng của con người. Làm như hiện nay tức là chúng ta tước bỏ nhu cầu đó và hướng họ sang những chuyện vô bổ, họ chịu mãi sao đươc !

Đọc tiếp ...