28-05-2009

Những nỗi đau riêng của thời nay

Nghề nghiệp buộc tôi luôn luôn phải trở lại với văn chương quá khứ. Qua các trang sách đã đọc, tôi hiểu con người thời nào cũng có những nỗi đau khổ lớn lao. Song nếu được so sánh tôi vẫn cảm thấy so với họ, con người thời nay đau đớn gấp bội.

Đọc tiếp ...

22-05-2009

Tinh hoa một thuở



Trường Chu Văn An và niên học 1955-56
Trước 10-1954, gia đình tôi ở một ngõ nhỏ trong phố Thụy Khuê – quãng giữa Sở xe điện và Nhà máy giặt. Những năm còn học ở trường tiểu học Thụy Khuê, tôi đã được nghe nói nhiều về Trường Bưởi. Với lòng ngưỡng mộ của tuổi học trò, nhiều phen ngồi tàu điện xuôi ngược Chợ Bưởi -- Đồng Xuân, tôi không khỏi liếc mắt về dãy nhà nằm bên Hồ Tây của Chu Văn An cũ.
Gọi là cũ, vì khu nhà đồ sộ, cây cối rợp bóng mát ở đầu phố, lúc ấy do nhà binh Pháp đóng, có tài liệu nói một binh đoàn xe tăng, nhưng tôi nhớ hình như là một đơn vị lính dù. Xe đỗ ngổn ngang bên trong, bên ngoài nhiều quãng còn chăng dây thép gai. Tôi chỉ nghe người lớn nói lại mà biết đó là trường Bưởi lừng lẫy.
Những năm tạm chiếm, học sinh Chu Văn An phải chuyển xuống học ở ngôi trường phố Cửa Bắc. Sau khi giải phóng thủ đô, trường mới dọn lên địa điểm hiện nay. Đấy cũng là năm tôi vừa vặn học xong tiểu học để chuẩn bị thi vào trường. Trong hai năm 1954-55 và 55-56, trường còn gộp chung cả trung học đệ nhất cấp ( bốn năm, đệ thất cho tới đệ tứ, ngày nay chúng ta gọi là trung học cơ sở), và đệ nhị cấp ( ba năm, đệ tam cho tới đệ nhất – tương đương phổ thông trung học).
Nhưng tôi còn phải vô duyên với Chu Văn An một năm nữa: lần đầu thi vào trường, khóa 1954 -55, tôi trượt.
Một năm thi trượt là một năm tôi đi học thêm, chờ năm sau thi lại. Một hai tháng vào tạm trường tư thục Thăng Long ở cuối phố Phùng Hưng. Rồi phần chính thời gian là đến một lớp ôn luyện ở phố Trần Quốc Toản. Ngày trước Quảng trường Ba Đình chỉ là một vườn hoa nhỏ tên nôm na gọi là vườn hoa Con Cóc. Từ phía Bách Thảo, có lối đi qua vườn hoa để thông ra đường Cột Cờ ( đại lộ Điện Biên Phủ ngày nay ) xuống phía Cửa Nam. Từ chỗ ở bên Thụy Khuê, sau khi đi dọc một quãng đường Hoàng Hoa Thám, tôi đã men theo con đường Cột Cờ -- Cửa Nam này mới tới được nơi học.
Tôi đã đi như thế gần một năm ròng. Bước chân hướng về phía nam thành phố, nhưng lòng hướng cả về phía bắc, nơi có ngôi trường Chu Văn An thần thánh.
Có lẽ câu chuyện định hướng đời mình kiểu như thế này đối với một số bạn trẻ bây giờ có phần khó hiểu. Lớp người ít tuổi hơn tôi, lớp tuổi các cháu ở nhà, mới bắt đầu đi học không biết cảm giác đó. Quy trình thông thường là lớn lên ở đâu thì học cấp I ngay ở đấy. Rồi vào cấp II nào gần với nhà mình nhất. Không vào trường này thì vào trường khác. Tất cả hầm bà làng, cá mè một lứa hết. Đâu chẳng thế. Chẳng có trường nào hơn trường nào. Người ta tưởng là hàng đời nay, mọi người vẫn nghĩ như vậy.
Từ hồi kinh tế thị trường trở lại dân Hà Nội mới có chuyện phải cố cho con cái vào trường Hà Nội - Amsterdam, trường Chu Văn An.
Nhưng đối với gia đình tôi và bản thân tôi, mấy năm 1954-55 đã chỉ có một đinh ninh là phải vào Trường Bưởi. Cái chuyện chọn trường để học nó là đương nhiên như chuyện sống còn của con người. Tưởng như nó ở sẵn trong đầu óc, không phải nghe ai hoặc học theo ai hết.
Sau này nghĩ lại thấy thời gian chờ đợi ấy cũng lạ. Đằng đẵng một năm trời đi bộ hàng ngày năm sáu cây số để học thêm, chứ có ít đâu. Vậy mà chẳng cần vận dụng quyết tâm nghị lực gì cả. Bởi đây không phải là trường hợp riêng của tôi. Hồi ấy chung quanh mọi người đều nghĩ thế, ở địa vị mình mọi người đều làm thế. Vào trung học thì phải vào Chu Văn An. Và nếu chưa vào được thì bỏ ra học tư một năm để năm sau thi lại cũng không sao.
Một sớm cuối tháng tám 1955, sự chờ đợi đã được đền đáp xứng đáng. Cổng trường , trên cái bảng đặt sau tấm lưới mắt cáo có dán danh sách học sinh trúng tuyển, tên tôi đặt ở hàng thứ chín. Mấy hôm sau thì tựu trường.
Suốt đời không bao giờ tôi quên được cái cảnh là đám học sinh đệ thất ( tương đương lớp sáu bây giờ) chờ ở ngoài cổng. Đúng giờ chúng tôi được hướng dẫn bước qua cổng trường. Từ phía sân trường, các anh chị lớp trên ùa ra đón. Là những người cuối cấp, dân đệ tam, đệ nhị các anh chị toàn những người to lớn, người nào cũng khiến chúng tôi choáng ngợp. Còn nhớ một anh bế thốc tôi lên, làm tôi đến nghẹt thở. Sau này đã vào trường, thỉnh thoảng tôi cứ thoáng đưa mắt tìm xem anh nào hôm ấy đã bế mình đó, mà chịu không nhận ra nổi.
Thiêng liêng làm sao cái cảm giác của buổi đầu nhập học! Cảm giác đó theo mãi trong tôi, nó như một thứ hương vị chan hòa trong không khí, lúc nào bọn tôi cũng ngây ngất.
Cảm giác ấy còn đến từ thày bạn mà tôi mới tiếp xúc.
Tôi cho rằng một trong những bất hạnh lớn nhất của con người hiện nay là không còn cảm giác thiêng liêng. Như đám cán bộ -- công chức già cỗi không cảm thấy cái thiêng liêng của buổi đi làm. Mà đám học trò không cảm thấy thiêng liêng của buổi đi học thì cũng tương tự.
Thỉnh thoảng, có dịp hỏi han con cái trong nhà, tôi thấy chúng không có hiểu biết gì nhiều về trường chúng học. Ngoài cô giáo chính và một vài cô có dạy ở lớp, chúng chẳng biết một thày một cô nào ở trường. Hoặc có biết chăng thì toàn biết những chuyện không đâu vào đâu thường khi là những nét đời tư lặt vặt của họ.
Hồi những năm năm mươi của thế kỷ trước thì có khác. Cuối năm 1954, trường Thăng Long còn mở ở cái địa điểm cũ, đường Phùng Hưng. Một trường tư thục đệ nhất cấp thôi. Nhưng tôi nhớ ngoài cổng có một bảng kê ghi rõ trường có những giáo sư nào, giáo sư đó học ở những trường nào ra và đã từng dạy ở những trường nào.
Thói quen nghĩ tới các thày như những trí thức, mỗi thày giáo – dù chỉ tương đương trung học cơ sở hôm nay thôi – đã là một trí thức độc lập, là điều tôi được lây truyền từ hoàn cảnh xã hội và tôi mang nó vào trong cái nhìn về trường Chu Văn An.
Tuy mới chỉ năm đầu tức học đệ thất, nhưng tôi đã được nghe rằng trường tôi vừa nhập học có những giáo sư nổi tiếng dạy các lớp ban Tú tài. Thày Bùi Phùng dạy hóa. Thày Huấn dạy Sinh vật. Thày Nghiêm Sách dạy địa. Thường đi xích lô đến trường là thày Nguyễn Tường Phượng dạy văn. Dạy tiếng Pháp có ông bà mơ-xi-ơ Tongas. Dạy Hán văn là hai cụ đồ Nho, một cụ hơi mập, cụ Can, một cụ gày hơn, cụ Tiếp. Trong khi các thày khác mặc complet thì hai cụ cử cử đều khăn đóng áo dài.
Năm cuối cùng của chương trình học trong Hà Nội cũ còn ghi nhận sự có mặt của các thày từ kháng chiến mới bổ sung. Cảm tưởng của tôi chẳng có cơ sở gì, nhưng không hiểu sao tôi cứ tin rằng những người thày mới này, từ Thái Nguyên về hay từ Đức Thọ Hà Tĩnh ra, đều ghi nhớ rằng mình đang được chuyển về dạy ở một trường lớn, tầm cỡ quốc gia. Mỗi người có dịp tự nâng mình lên cho xứng với cái cơ sở giáo dục danh giá nhất mà mình được làm việc.
Giờ đây, ta không có loại trường chung cả cấp II lẫn cấp III nữa. Để dễ quản lý, tôi cũng thấy lý do đó là đúng. Nhưng hãy để cho tôi nói thêm như một ngoại lệ : kiểu gộp cả học sinh trung học vào một trường sáu bảy năm gì đó có cái hay của nó. Nó giúp cho bọn học trò tiểu học hôm qua chúng tôi dứt khoát với quá khứ của mình. Nó thầm thì vào tai rằng chúng tôi đã bước vào một quãng đời khác. Trước mắt chúng tôi, các anh chị học lớp trên hình như đã rất chững chạc. Chu Văn An 1955-56 là vậy.Tuy mới học năm đẩu, tôi đã nghe loáng thoáng đến tên tuổi các anh cán bộ hiệu đoàn. Anh Trai. Anh Dương Tự Minh. Một lần nào đó liên hoan, anh Qúy Dương cùng với anh Trần Hiếu song ca . Những tinh hoa đó có mặt trong trí nhớ của tôi về trường Chu Văn An một thuở.
Niên học 1955-56, bọn học sinh đệ thất chúng tôi học mãi ở cuối ngôi trường như thuở ban đầu của nó, tức ngôi nhà ba tầng sâu vào bên trong, giáp sang Sở trồng hoa và ươm cây, và gần với ngôi nhà biệt thự Hồ Tây của ông hiệu trưởng trường Bưởi cũ. Chỉ riêng cái việc bước qua cổng trường rồi còn phải đi mãi tới cuối trường đối với bọn học trò tuổi mười hai mười ba chúng tôi năm ấy đã là những chuyến đi kỳ lạ. Con đường xi măng bình dị. Những hàng cây cao đến mức ngửa hết cả cổ lên mới thấy ngọn. Lá lim lớp đang lưng trời phất phơ, lớp đã nằm im dưới đất mà sao trông vẫn sạch bong. Phải chúng tôi đang đi qua một nhà thờ lớn ? Không biết, chỉ nhớ tất cả là khang trang cao ráo là thanh bình yên ả.
Đó là không kể lúc đó trường còn dải đất ven hồ, chạy suốt từ phía Công ty Công viên cho tới cái sân vận động mà mãi tới 1961, khi tôi rời trường, sân vẫn còn. Theo lệ thường thì không học sinh nào được bén mảng tới khu vực nguy hiểm đó. Nhưng chính vì vậy chúng tôi càng hướng về nó như một mảnh đất huyền bí. Sau những năm chiến tranh nơi ăn chốn ở nhập nhèm hỗn loạn, nay dải đất ven hồ đã trở thành khu nhà dân. Nhưng sao tôi cứ ước ao có ngày Chu Văn An lấy lại được phần tiếp giáp với hồ của mình. Cái phần mà chúng tôi không được bén mảng tới, cái phần dư thừa ấy từng làm cho hình ảnh của trường lung linh trong tâm trí lớp trẻ chúng tôi. Ước chi nó cũng tồn tại như thế trong lòng lớp trẻ tài năng về sau.
Cái sự rộng rãi chuẩn mực của trường như luôn thì thào vào tai chúng tôi rằng tất cả đang ở trong không khí của học vấn, chúng tôi vào đây là để học, chúng tôi được tôn trọng do đó cần phải giỏi giang chăm chỉ để trở nên anh tài đất nước, -- không ai bảo ai mà cảm giác đó cứ lây lan và lắng đọng trong lòng người.
Thế Lữ có hai câu thơ mà Xuân Diệu rất thích nhắc lại Cái thuở ban đầu lưu luyến ấy – Ngàn năm chưa dễ đã ai quên. Những cảm giác trên đối với tôi là thiêng liêng vì nó thuộc về thuở ban đầu năm đệ thất.
Những năm từ khoảng 1958 trở đi, Chu Văn An cũ được xẻ ra thành hai trường riêng. Cấp II học buổi chiều, cấp III học buổi sáng. Nét quán xuyến trong đời sống giáo dục của chúng ta những năm về sau này là sự gần gũi với đời sống. Vẫn còn kỷ niệm về những giờ lên lớp, nhưng ấn tượng hơn lại là những buổi học ngoại khóa. Hồi cấp III, học sinh lớp 8C chúng tôi – lớp có Đặng Thùy Trâm -- xuống xã Phú Thượng đâu đến nửa tháng, tham gia gặt lúa. Hàng tuần vào hai buổi sáng thứ tư thứ sáu, chúng tôi ra đường thanh niên, một số đi xe bò chở cát lên đầu giốc, một số theo xe goòng đổ cát xuống hồ mở rộng con đường Cổ Ngư gầy guộc cũ thành đường Thanh Niên bề thế. Hồi cấp II, có lần lớp sáu chúng tôi còn được điều xuống san đất ở Mai Dịch. Theo sự bươn trải chung của xã hội, các nhà trường trở về với sự lầm lụi hàng ngày. Ngay lúc ấy, một số kỷ niệm mấy năm về trước đã bắt đầu hiện về. Còn nhớ các anh lớp trên – tương đương lớp 11- 12 hiện nay --lúc ấy đã rất chững chạc, và các chị dưới trường Trưng Vương thì mặc áo dài, vận động mãi các chị mới mặc áo ngắn đi học.
Mới một hai năm qua đi, mà đã cảm thấy như xa lăm lắm.
Thế nhưng tinh thần của một cái gì tinh hoa, vượt lên thông thường, tôi nghĩ vẫn còn mãi trong lớp học sinh học Chu Văn An năm ấy.
Sắp tới kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long. Năm ngoái 2006, có người hỏi tôi có phải như Hà Nội mấy chục năm nay đã sa sút đi, con người Hà Nội xô bồ và quê mùa tỉnh lẻ hơn. Tôi bảo làm sao không mòn mỏi được, bởi cuộc chiến tranh lớn như vậy xô đẩy, và nhìn chung nửa thế kỷ qua, Hà Nội chưa bao giờ được là chính mình.
Những năm trước chiến tranh lớp thanh niên mới lớn chúng tôi nghĩ chuyện học xong là đi xa, chứ mấy khi nghĩ là mình sẽ cống hiến ở ngay Hà Nội.
Dẫu chưa hết hẳn, nhưng cách nghĩ ấy ngày nay không ai muốn nhớ tới nữa.
Bản thân cái việc giờ đây, nhiều người bắt đầu thấy cần phải nghĩ lại về Hà Nội và muốn đi tìm cái chất cao quý riêng của con người Hà Nội – riêng việc đó thôi cũng chứng tỏ có một Hà Nội kỳ lạ, Hà Nội mông lung mà cụ thể, một thứ chất Hà Nội không một biến động nào làm phai mờ nổi. Cả người sinh ra ở đây, cả người mới đến đây năm năm mười năm hai mươi năm, bất cứ ai bắt đầu tự hỏi về mình, mối quan hệ của mình với mảnh đất kinh kỳ thiêng liêng, và tưởng tượng ra một Hà Nội sang trọng để soi mình, ấy là lúc trong họ bắt đầu có một con người Hà Nội chân chính hình thành.
Số phận trường Chu Văn An – một địa danh văn hóa Thủ đô – có gì cũng giống như chính số phận Hà Nội.
Con người sẽ trở nên tốt đẹp hơn nếu những gì được chắt lọc trong thời gian, những gì gọi là tinh hoa thực sự , sẽ quay trở lại dẫn dắt cuộc sống đi tới.
7-2007

Đọc tiếp ...

20-05-2009

Sự nghèo nàn của văn hóa sách ở VN

(TT&VH) - Trước khi đòi hỏi người đọc Việt Nam đến với sách, nên nhớ là chúng ta, những người làm văn hóa, thường chỉ đưa đến họ những cuốn sách tẻ nhạt phù phiếm xa lạ với cuộc sống của chính họ. Sự nghèo nàn của văn hóa sách Việt Nam là một căn bệnh kéo dài kinh niên trong lịch sử. 1. Văn hóa Việt Nam thường được miêu tả qua các phương diện như tín ngưỡng tôn giáo lễ tiết, thi cử, các ngành nghệ thuật, rồi phong tục tập quán, các nghề thủ công, nhà ở, đồ ăn thức uống. Giở những cuốn lịch sử văn hóa quen thuộc từ Việt Nam văn hoá sử cương (1938) của Đào Duy Anh, qua Văn minh Việt Nam (1943) của Nguyễn Văn Huyên, Hiểu biết về Việt Nam (1954) của P.Huard và M.Durand, không đâu người ta thấy nói tới nghề làm sách. Đọc lướt qua các bộ Đại Việt sử ký toàn thư, Việt sử thông giám cương mục, thấy những chữ lên ngôi, thiết triều, hạ chiếu, chinh phạt, khởi loạn, rồi ban thưởng, xướng họa,... đầy rẫy và lặp đi lặp lại dày đặc bao nhiêu thì chữ sách, đọc sách, soạn sách, dịch sách hiếm hoi bấy nhiêu. Chưa một triều đại nào trong quá khứ có thời giờ nghĩ nhiều đến sách và coi sách là việc lớn của vương triều mình. Phải công nhận trong khi ghi chép và phân loại thành tựu văn hóa trong quá khứ, Lịch triều hiến chương loại chí Phan Huy Chú đi xa hơn cả. Tác giả đã dành cả một chương mang tên văn tịch chí ghi lại sách vở các đời. Thế nhưng đó vẫn không phải là lịch sử sách, càng không phải là sự trình bày quan niệm về sách, vai trò của sách vở trong đời sống của người Việt. Mà lý do chính là vì trong xã hội bấy giờ, những ý niệm này chưa xuất hiện, tác giả có muốn cũng không làm được. Trong khi đó chỉ cần đọc lướt qua những cuốn lịch sử những nước có nền văn hóa phát triển người ta thấy ở xứ người, sách được dành cho một vị trí như thế nào. Sự ra đời của những cuốn sách lớn được ghi nhận như những cái mốc lớn lao đánh dấu thành tựu của cộng đồng trong việc chinh phục thiên nhiên và tự nhận thức về mình, làm chủ cuộc sống của mình. 2. Để sang một bên cái nhìn lịch đại, mà chỉ xét trên phương diện đồng đại tức là nhìn tình hình sách trên một bình diện thời gian nhất định, cũng có thể thấy ngay là văn hóa sách của chúng ta khá đơn sơ. Về kiểu loại sách: Nếu trên phương diện kinh tế, hàng hóa chúng ta sản xuất ra quá nghèo nàn về mẫu mã và chủng loại thì ở sách cũng có tình trạng tương tự. Sách được hiểu chủ yếu là các tập thơ tập văn. Trong khi đó, cả ở phương Tây lẫn phương Đông, xuất bản phẩm có nghĩa rộng hơn nhiều, sách thường tổ chức theo một hệ thống thể loại chặt chẽ, bao gồm đủ loại từ các biên khảo, các sách biên niên sử, rồi từ điển và bách khoa thư. Việc làm một cuốn sách một bộ sách có khi được người ta dành cho cả một đời người. Về nội dung sách: Trong cuốn Bản sắc văn hóa Việt Nam, nhà nghiên cứu Phan Ngọc, khi tìm hiểu thư mục di sản văn hóa Hán Nôm Việt Nam đã chỉ rõ trong số 6000 quyển sách tạm gọi là tiêu biểu cho tâm thức của trí thức Việt Nam trước khi tiếp xúc với văn hóa Pháp, có quá nửa là sách học để đi thi, các bài mẫu, các sách giảng về các kinh truyện, các bài thơ phú viết theo lối văn chương hàn lâm. Tức theo Phan Ngọc, đây chỉ là một nền xuất bản phục vụ cho việc học để làm quan! Trong số 70 quyển thuộc loại nông nghiệp có 9 quyển nói về địa bạ, 4 quyển về cách kê khai ruộng đất, 5 quyển về đê điều, 18 quyển về việc đóng thuế, còn lại là nói về các thổ sản. Trong sách về thủ công nghiệp chỉ thấy nói về tiểu sử các ông thành hoàng các nghề... Về việc bảo quản giữ gìn sách: Sau khi được sao chép ra với số lượng ít ỏi, sách chỉ có cuộc sống ngắn ngủi. Ta hay đổ cho nước ngoài - rõ nhất là thời kỳ quan quân nhà Minh sang đô hộ - tịch thu và tiêu hủy nhiều sách của ta. Song theo Phan Huy Chú, trước đó sách từng là nạn nhân của những cuộc khởi nghĩa, khi Thăng Long bị cướp phá, sách vở đã bị đốt rất nhiều. Một phương diện nữa đánh dấu sự phát triển của văn hóa sách một quốc gia là khả năng trao đổi của sách với các tài liệu in ấn từ nước ngoài, tức là vấn đề xuất nhập khẩu sách (từ đây mở đường cho những cuốn sách lớn trở thành tài sản chung của nhân loại). Trong một tài liệu viết về thư tịch chữ Hán ở Nhật Bản (in trên tạp chí Nghiên cứu văn học ra ở Hà Nội số 4-2008), tôi thấy người ta cho biết triều đình Nhật có cả một Thư viện gọi là Văn khố hoàng gia, sau gọi là Sảnh thư, chuyên cất giữ sách Trung Quốc. Một văn khố khác mang tên Văn khố Hồng diệp sơn hoặc Văn khố nội các, hoặc Quốc lập công văn thư quán, đến nay còn lưu giữ 185.000 quyển. Đại khái có thể ước tính 50% điển tịch đời Tùy, 51,25 % điển tịch đời Đường đã được nhập vào xứ sở Phù Tang. Tài liệu trên còn đưa ra một con số: tới đầu thế kỷ XIX từ 70 đến 80% sách in ở Trung Quốc đã được chuyển sang Nhật. Mà ở Trung Quốc sách in ra lúc đó đã tới 100.000 loại (loại chứ không phải cuốn ). Còn ở Việt Nam thì sao? Trên tôi đã nói là sử ta không mấy khi nhắc tới việc buôn bán trao đổi sách. Chỉ đọc cuốn lịch sử Đông Nam Á của một tác giả người Mỹ tôi mới thấy ghi thời thế kỷ XVII, chúa Trịnh từng có lệnh cấm truyền tay sách Trung Quốc (sách này do những người Tàu nhập cư mang vào). Các chúa Nguyễn có chú ý hơn tới sách vở, nhưng chắc là chỉ khá hơn các triều trước chứ hãy còn đơn sơ, chắp nhặt lắm. Có lần tôi được nhà sử học Dương Trung Quốc cho biết ngày xưa các vị quan đi sứ, khi về hàng hóa bị kiểm tra rất ngặt nghèo, chỉ có hai thứ được khuyến khích là thuốc quý và sách. Nhập hàng theo lối tiểu ngạch như vậy, mà lại nhỏ giọt, nên khi mang về sách trở thành quá ư là quý hóa, thường người mang về chỉ giữ cho riêng mình. Tệ nhất là trường hợp vị sứ giả kia – không hề có ý thức rằng mình là sứ giả văn hóa - thuổng luôn của người ta, lấy của người làm của mình hoặc coi đó làm mẫu, mô phỏng theo. Trong trường hợp khá hơn, thì người có sách lại thỉnh thoảng kín kín hở hở mang ra khoe để trộ thiên hạ. Sách ngoại như vậy là chết luôn sau khi nhập khẩu, còn đâu vai trò kích thích việc làm sách trong nước. thethaovanhoa

Đọc tiếp ...

07-05-2009

Nhật ký Đặng thùy Trâm và đời sống tinh thần người Việt sau chiến tranh

Từ một quan niệm kéo dài trong lịch sử và đã trở thành tâm thức dân gian Qua một chương trình phim truyền hình thời sự, có lần tôi được thấy cảnh những người lính Nga trở về từ chiến tranh, một số còn sống đến tận cuối thế kỷ XX, đầu XXI . Điều khiến tôi lạ nhất là cuộc sống hòa bình với nhiều người trong họ hình như không còn thích hợp. Chỉ làm việc để đủ sống tàm tạm, ngoài ra như đã bị chiến tranh lấy hết hồn vía, mỗi người là một cái bóng. Tình hình ở VN ít nhiều có khác. Trong số những người trở về sau chiến tranh, lác đác cũng có ít người rơi vào tâm trạng buông trôi bất lực. Nhưng số đó quá ít và gần như lạc lõng trong cộng đồng. Phổ biến hơn là một tình trạng ngược lại. Sống sót sau những năm tháng khốc liệt, ý nghĩ đầu tiên của người ta là làm gì đó để cứu gia đình khỏi cảnh đói rét đã kéo dài. Cởi quân phục là vớ lấy chiếc xe đi buôn. Hoặc xông vào tìm bằng được một chỗ đứng trong các cơ quan nhà nước, nhân danh người đã có công đòi lấy một vị trí thuận lợi để kiếm ra tiền, bù đắp lại những ngày bị thiệt. Trong sự mải miết sống với quá khứ, những con người Nga có mặt trong chiến tranh trở về kia dành hẳn một phần tâm trí của mình cho các đồng đội đã hy sinh. Tôi nhớ một chiến binh chỉ ngồi loay hoay với những đài kỷ niệm cho từng người bạn. Làm cho thằng Boris mô hình một cái lò rèn. Đắp cho thằng Ivan một cái cối xay gió thay cho đài tưởng niệm… Người chết không chết , vì đồng đội vẫn đang trò chuyện với họ, như những người sống. Còn ở VN? Không phải người ta đã quên hẳn những năm chiến tranh và người thân đã nằm xuống ở những mảnh đất xa lạ. Nhưng việc đó được làm theo một cách riêng, nó phụ thuộc vào hoàn cảnh một đất nước trường kỳ nghèo đói và đã gắng gỏi chống lại chiến tranh hiện đại bằng một nền kinh tế tiểu nông, và cuộc sống con người thì luôn luôn đặt trên ranh giới mong manh của sự sống và cái chết. Việc thu thập tin tức về những người đã mất tích trong chiến tranh đến nay vẫn còn đang được tiếp tục. Đã có những gia đình bỏ ra bạc tỷ nhiều năm lặn lội để đi tìm hài cốt của con cái. Dù thế chăng nữa phải nhận cách làm của người Việt chú trọng lễ nghi mà không mấy tỉ mỉ. Sau khi biết đích xác người thân đã hy sinh ở đâu, cái mà người ta cần là mang về một ít bằng chứng chắc chắn để đòi lấy sự công nhận của cộng đồng, những lời biết ơn nồng nhiệt, những đền bù cho sự hy sinh. Sau đó làm đám giỗ để bà con làng xóm cùng xác nhận và kiếm được một tấm ảnh đẹp để vào chỗ trang trọng trong gia đình, thế là đã mãn nguyện lắm. Các di vật, nếu có, cũng được chú ý mang về. Nhưng phải nói thực việc bảo quản các di vật ấy không phải nằm trong dự tính. Phần vì điều kiện khó khăn. Phần chủ yếu vì sự chi phối của thói quen tâm lý. Một cái nhà tươm tất cho người sống ở còn chưa có, lấy đâu chỗ để đồ cho người chết? Các bảo tàng của nhà nước chưa xây và nếu xây xong thì còn đang tranh cãi xem nên bày cái gì. Các di vật thiêng liêng đấy mà cũng vô nghĩa ngay đấy. Xếp xó là chuyện bất đắc dĩ, nhưng đành phải làm. Nói to lên cho rõ ràng rằng “làm cho xong chuyện” thì không ai dám, nhưng trong thâm tâm đều hiểu cho nhau là vậy. Giữa bề bộn công việc hậu chiến, việc trở lại với cuộc đời người đã khuất trong chiến tranh không được đặt thành vấn đề, nếu không muốn nói gần như lảng tránh. Những gì làm nên cuộc sống thực của người đã khuất bị đẩy lên thành huyền thoại , với nghĩa “ kính nhi viễn chi”. Xét từ căn nguyên sâu xa, ở đây có vai trò của hai ý niệm quan trọng là ý niệm về lịch sử và ý niệm về cái thực. Cả hai ý niệm này ở người Việt đều lờ mờ mây khói. Đến thăm nhiều đình đền ở Hà Nội và nói chung là ở Bắc Bộ, người ta thấy người giữ đền lưu ý rằng ngôi đền này rất thiêng. Nhưng thờ ai và sự tích thế nào thì họ chỉ biết mang máng và nhầm lẫn lung tung cả. Thể tiểu thuyết lịch sử cũng như các loại phim lịch sử ở VN hình thành rất khó khăn một phần là vì bản thân lịch sử chỉ được hiểu là những sự tích anh hùng. Cái gọi là sinh hoạt đời thường gần như chưa bao giờ trở thành đối tượng của lịch sử ở VN. Còn các sự kiện xã hội chính trị thì thường bị tô vẽ theo phương châm “ Tốt đẹp phô ra xấu xa đậy lại “. Đây là cách nghĩ thấm vào trong tư duy dân gian và âm thầm chi phối xã hội. Trong số các nhà văn VN đương đại, Nguyễn Minh Châu là một trong những người đi sâu nhất vào chiến tranh. Trong bài Viết về chiến tranh in trên tạp chí Văn Nghệ quân đội năm 1978(1), ông ngẫm nghĩ và ghi nhận một cách nghĩ phổ biến như sau : Từ ngàn năm xưa, người Việt Nam đã mang một quan niệm “ phàm cái gì đem chép vào sách vở thì không thể dung tục như đời sống bình thường hàng ngày được mà phải là những điều tốt đẹp tinh khiết. ” Bằng cái giọng hơi đùa đùa, ông giải thích thêm “Đồng bào mình bây giờ thấy anh nhà văn nhà báo tả mình như thực thì không ưng. Lên tivi, lên phim, dù đang lao động cũng phải ăn mặc đẹp, mặt mũi cũng phải sạch sẽ, sáng sủa tươi cười ”. Làm ăn đã vậy trong chiến tranh cũng vậy : đánh giặc giữ nước là một việc cao cả ; “ chuyện những người anh hùng vì nước xưa nay được coi như chuyện thần thánh ” -- nên không thể có một mảy may dung tục. Nguyễn Minh Châu tiếp tục câu chuyện bằng cách so sánh tâm lý đọc sách viết về chiến tranh với tâm lý người dân khi chụp ảnh. Ai mà chẳng có cái mặt thực của mình. Nhưng mỗi lần chụp ảnh, chỉ những khuôn mặt trẻ hơn đẹp hơn mới là cái mà người ta chờ đợi. Toàn bộ lối suy nghĩ như thế này đối với quá khứ là ổn định và kéo dài cho tới hôm nay. Và cái tâm thức dân gian này sẽ được nâng lên để trở thành định hướng của nhà nước. …tới một lối viết kéo dài từ thời chiến tới hậu chiến Tôi nhập ngũ ngày 5-8-1964, và tới đầu 1968 thì được chuyển về tạp chí Văn Nghệ quân đội. Nói theo thuật ngữ chính thống, tôi được chính thức gia nhập vào đội ngũ những người làm công tác tư tưởng. Viết văn làm thơ hay chụp ảnh viết báo cũng như tuyên truyền cổ động cũng là công tác tư tưởng cả. Có thể tóm tắt quy phạm chính chi phối ngành này như sau : -- làm gì viết gì thì cũng phải hứng về phục vụ người lính, khiến họ hào hứng phấn khởi xông lên. Để họ nản lòng là có tội. -- Cái cần viết không phải là chiến tranh, mà là chiến công. -- Không có cái gọi là chiến tranh chung chung. Tôi nhớ hồi đó bản thân hai chữ chiến tranh cũng không dùng. Để thay thế phải nói cuộc chiến đấu, hàm nghĩa chiến tranh ở VN khác hẳn mọi cuộc chiến tranh trên thế giới. Những quy phạm này có thể thấy rõ trong nghệ thuật nhiếp ảnh. Ở TP HCM hiện có một Bảo tàng được nhiều người nước ngoài tới thăm là Bảo tàng chứng tích chiến tranh. Nhưng ở đó, những bức ảnh có ý nghĩa nhất lại là của các phóng viên nước ngoài. Một người bạn tôi là anh Đoàn Công Tính một phóng viên nhiếp ảnh trong quân đội đã giúp tôi hiểu tình thế ngược đời này. Theo Tính, ngay trong những năm chiến tranh chính những bức ảnh bám sát chiến trường và làm rõ “sự thật chiến hào” của các phóng viên chiến trường lại không được tòa soạn ưa thích. Được ưu ái nhất phải là những bức ảnh nêu khí thế chiến thắng. Giữa hai phạm trù chân thực với mang khí thế chiến thắng, không phải bao giờ cũng có sự trùng khớp nếu không muốn nói là thường xung đột nhau. Và không phân vân gì hết, trong mọi trường hợp người ta chọn cái thứ hai. Nếu thích hợp với việc tuyên truyền cho chiến tranh, có cả những bức ảnh bố trí giả tạo, vẫn được sử dụng. Đoàn Công Tính nổi tiếng với tác phẩm Chiếm căn cứ Đầu Mầu Quảng Trị( được giải thướng Hội nhà báo quốc tế OIJ ). Sự thành công của bức ảnh này là ở chỗ thứ nhất nó được chụp từ thực địa, và thứ hai, biểu hiện được con người như bay lên trong một chiến công thần thánh. Các ảnh khác thường cũng có sự kết hợp tương tự. Với tôi và với dư luận chung, tưởng như Đoàn Công Tính chỉ có vậy. Nhưng gần đây (2005), tôi được biết là trong kho ảnh của Tính còn có những bức ảnh lạ như Chiếc cầu gục đổ. Bức ảnh biểu hiện rõ không khí chiến tranh ở Việt Nam. Cả sự bất bình thường của chiến tranh. Cả sự bé nhỏ bất lực của con người. Có điều mãi sau chiến tranh bức ảnh này mới được giới thiệu và là rất hạn chế. Nó không được đưa vào các sưu tập chính thống . Rất ít người biết tới nó. Đơn giản là vì các bức ảnh tương tự như Phúc Tân kêu gọi trả thù của một đồng nghiệp của Tính là Vũ Ba, lúc xuất hiện đã hứng chịu nhiều lời phê phán, cái tội của người chụp ảnh ở đây là đưa đau thương mất mát lên thành một chủ đề lớn. Câu chuyện về các tấm ảnh của Đoàn Công Tính của Vũ Ba cũng là câu chuyện của nhiều tác phẩm văn chương. Những năm chiến tranh, tôi đã được chứng kiến nhiều vụ tác phẩm “mô tả chiến tranh như chiến tranh” bị phê phán. Bài ký Cái gốc của Nguyễn Thành Long. Bài thơ Vòng trắng của Phạm Tiến Duật. Những tác phẩm này chỉ có lỗi là nói về những cay đắng của con người, những tin thất thiệt. Khi bị từ chối, chúng làm cho những người rất có thiện chí cũng sinh nhụt, không dám viết nữa. Sự định hướng các tác phẩm viết trong chiến tranh như trên, theo tôi, không phải là không có phần hợp lý của nó. Muốn đánh lại kẻ thù mạnh hơn, người ta phải không biết sợ. Phải suy nghĩ khác với cách nghĩ thông thường. Phải cứng cỏi sắt đá mà không dễ mềm lòng trước mọi mất mát đau thương. Nhà nước xác định cho dân như vậy và mỗi người cũng tự nhủ như vậy. Xuất phát từ đây, một quy phạm chính thức hình thành. Nó gói gọn vào mấy yêu cầu bắt buộc với các tác phẩm --trình bày bức tranh tổng quát -- quan sát từ một góc độ khá xa -- Kết thúc lạc quan Lối viết này —tạm gọi là lối viết sử thi – vốn được nhập từ văn học xô viết thời trước 1945. Nếu ở bên ấy, sau chiến tranh người ta đã thay đổi thì ở VN nó được giữ nguyên. Ngay từ trước 8-1964, những tác phẩm viết về chiến tranh nổi tiếng thế giới như Phía Tây không có gì lạ của E.M.Remarque, thậm chí ngay các tác phẩm xô viết như Trong chiến hào Stalingrad của V.Nekratsov,Tấc đất của G.Baklanov, phim Đàn sếu bay qua, phim Bài ca người lính – đây chỉ nói những tác phẩm từng được giới thiệu ở VN-- cũng bị gạt bỏ thẳng cánh. Một nhà văn viết về chiến tranh phải xem lối thể hiện đời sống như thế là có tội. Vả chăng phim không ai nhập sách không ai dịch, và cũng không ai có sách nguyên bản mà đọc. Như ở đoạn trên vừa nói, ở Việt Nam từ chiến tranh chuyển sang hòa bình hầu như không có khoảng trống. Trong các khẩu hiệu, khái niệm mặt trận được dùng lại : thay cho mặt trận chiến đấu là mặt trận văn hóa. Đóng vai trò chi phối con người trong xã hội nói chung vẫn là lối nghĩ thời chiến. Người ta buôn bán làm ăn xây nhà xây cầu cống dạy học đi du lịch theo kiểu thời chiến. Nói bao quát tức lối suy nghĩ về chiến tranh như trên vẫn tiếp tục ngự trị. Các cuộc thi sáng tác, các đơn đặt hàng để lôi cuốn các nhà văn viết về chiến tranh, nhất nhất đi theo cái đường ray cố định đó. Nhưng bên trong đời sống xã hội và tâm lý nhà văn vẫn có những đợt sóng ngầm. Các sáng tác cuối đời của Nguyễn Minh Châu và Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh là những nỗ lực rõ rệt theo hướng này . Nguyễn Minh Châu, như trên vừa dẫn, sớm hiểu rằng một nền văn học chân chính không thể đi theo lối viết “đưa ra những bức ảnh đẹp “ mà có lúc chính ông tự nguyện tham gia. Sau chiến tranh, truyện vừa Cỏ lau (1989) được ông viết theo hướng mới. Nó cho thấy chiến tranh là mất mát là đau khổ, và có nhiều di lụy không biết bao giờ mới gỡ ra nổi. Chỉ vì được in ra khi ông vừa qua đời nên tác phẩm thoát khỏi sự lên án. Nhưng nó cũng bị lờ đi. Một tác phẩm bao quát hơn, như Tiểu thuyết vô đề của Dương Thu Hương lại càng không bao giờ được công nhận. Có cái lạ là xu hướng viết về chiến tranh theo kiểu Cỏ lau -- xu hướng phi sử thi – tuy không bao giờ được đề cao, không được ai theo đuổi đến cùng, nhưng cũng không bao giờ bị chết hoàn toàn. Nỗi buồn chiến tranh (1991)của Bảo Ninh thì đánh dấu một chặng đường nhận thức kéo dài hàng chục năm. Thoạt đầu khi còn là bản thảo cuốn tiểu thuyết đã được khen ngợi hết lời. Khi in ra, nó được tặng cái giải thưởng sang trọng nhất so với lúc ấy, là giải Hội nhà văn. Nhưng ngay từ lúc ấy, đã có lời eo xèo rằng tác phẩm có ý “ phủ nhận quá khứ “. Tới khoảng 1994 việc phê phán này lên tới đỉnh điểm, chính những người đã khen nó ( Nguyễn Quang Sáng , Nguyễn Khải , Vũ Tú nam …) lại mang nó ra phê phán. Trong khi ra với thế giới và trở thành sứ giả chính của văn học VN, thì đồng thời tác phẩm vắng bóng hẳn trên thị trường sách trong nước hàng chục năm liền. Cần nhấn mạnh tới Nỗi buồn chiến tranh vì qua đó người ta thấy một phương hướng : Ý định tìm hiểu thực chất chiến tranh và con người trong chiến tranh. Sự thay đổi trong cách nhìn : Chiến tranh được nhìn gần hơn. Sự thay đổi trong quan niệm: Chiến tranh VN cũng tuân theo những quy luật chung của mọi cuộc chiến tranh. Tóm lại, một cách tự nhiên, lớp trẻ từ chiến tranh về có ý định làm ra một nền văn học chiến tranh như họ đã thấy, chứ không bằng lòng với lối viết về chiến công của những người đi trước. Nhưng xã hội VN sau chiến tranh đến nay vẫn chưa sẵn sàng thay đổi theo hướng này. Người ta chỉ lúng túng, lảng tránh, và lùi dần dần chứ chính thức cho phép nghĩ khác thì không. Với việc đẩy Nỗi buồn chiến tranh vào bóng tối, một khuynh hướng tự phát bị chặn đứng . Có điều, như thế không có nghĩa là nó chết hẳn. Nó vẫn luẩn quẩn đâu đó. Người ta cũng thấy có vài cuốn sách như Những mảnh đời đen trắng của Nguyễn Quang Lập, Bến đò xưa lặng lẽ của Xuân Đức… có những chương những đoạn viết theo cái mạch này. Có những người gần như trở thành “ nạn nhân ” của sự chuyển đổi. Tôi muốn xem trường hợp nhà văn Nguyên Ngọc thuộc dạng này. Tiểu thuyết Đất nước đứng lên đánh dấu một lối viết đã thành cổ điển về cuộc chiến tranh chống Pháp. Đến chiến tranh chống Mỹ, ông lại có Rừng xà- nu, Đất Quảng, cùng một giọng điệu sử thi như Đất nước đứng lên. Đất Quảng ( I )viết ngay ở chiến trường (1971) nên có cái giọng ấy cũng là chuyện tự nhiên. Đến tập II, ông bỏ dở. Theo chúng tôi hiểu, lúc này suy nghĩ của ông thay đổi, ông thấy cần viết khác. Nhưng ngòi bút nhà văn của ông không chịu và ông đành thôi. Sự lúng túng là tình trạng thấy ở nhiều người trong việc xử lý đề tài chiến tranh ở Hà Nội. Khác với Nguyên Ngọc, nhiều người trong họ chỉ kéo dài lối viết cũ, có tân trang ít nhiều. Sự chấp nhận này hủy hoại tài năng của cả những người đã để cả cuộc đời có mặt trong chiến tranh. Một câu trả lời xuất hiện đúng lúc Tôi kể lại những chuyện trên để thấy tình hình chung của việc viết về chiến tranh ở Hà Nội. Trên cái nền ấy mà Nhật ký Đặng Thùy Trâm (dưới đây viết tắt là NKDTT) xuất hiện nên nó được mọi người tìm đọc cũng là điều dễ hiểu. Cuốn nhật ký đã chọn được một thời điểm xuất hiện “ tối ưu”. Từ sau 1985 , mối quan hệ làm ăn kinh tế với nước ngoài trở thành một sự lựa chọn không thể đảo ngược . Sự hội nhập, cái mà người ta lảng tránh mãi, nay đã thành một xu hướng chính thức và ảnh hưởng sang cả văn hóa tư tưởng . Với người nước ngoài, sự hội nhập này đã làm một cuộc phát hiện: VN từ nay không chỉ là một cuộc chiến tranh, mà còn là một đất nước. Với người VN thì quá trình diễn ra là ngược lại: do áp lực của hội nhập, người Việt thấy hóa ra không thể quên nổi những ngày đạn lửa ; chiến tranh mãi mãi là một phần cuộc sống. Từ chỗ đẩy chiến tranh vào tấm màn sương khói của quá khứ, người ta lờ mờ cảm thấy rằng chiến tranh có mặt ngay trong cuộc sống hôm nay và chi phối cách nghĩ và cách làm việc của người ta, một sự chi phối khi công khai khi kín đáo nhưng là trên mọi phương diện. Sau cái giai đoạn chỉ biết thu thập lấy một ít di vật của người thân và nói chung là nhìn chiến tranh trong mối quan hệ với từng gia đình từng cá nhân, nay người dân thường bắt đầu muốn nhìn chiến tranh như là yếu tố tác động lên toàn bộ cộng đồng. Một cách ngẫu nhiên, NKDTT bước đầu đáp ứng được yêu cầu đó. Nó là ghi chép của người trong cuộc. Nó cho người ta thấy lại không khí chiến tranh và những con người trong chiến tranh từ bên trong. Giá như xuất hiện 10 – 15 năm sau chiến tranh --khoảng từ 1990 trở về trước, cuốn nhật ký với sự kết thúc bi thảm của nhân vật sẽ không được phép in ra, hoặc có in ra cũng không được ưu ái đến vậy. Ba mươi năm đã qua, những cách nghĩ căng cứng chỉ biết một màu lạc quan … đã khiến người ta mệt mỏi. Những cách miêu tả chiến tranh với tương đối nhiều sắc thái đen tối bắt đầu được chấp nhận. Khuynh hướng này có lúc còn đi qúa đà nữa . Trong tình hình hiện tại (chiến tranh đã lùi xa ba thập kỷ ) dường như đang có một quy ước ngầm : một tác phẩm sẽ được hiểu là chân thực, nếu nó nghiêng về diễn tả những đau đớn mệt mỏi, những tan nát trong lòng người có mặt trong chiến tranh ( mà Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh là một ví dụ ) Bởi các tác phẩm đang viết ra có vẻ nghiêng sang một hướng sáo mòn theo cái đường ray vốn có từ trước nên mới nảy sinh cái phản ứng ngầm như vậy. Theo tiêu chuẩn này mà xét, có vẻ NKDTT vẫn theo mốt cũ. Mặc dầu có khá nhiều trang miêu tả con người với đau thương mất mát và nói được ám ảnh về cái chết trong tâm trí họ, song người ghi nhật ký vẫn giữ được cái vẻ thuần hậu trong sáng của một con người lý tưởng . Cảm hứng thần thánh thiêng liêng vẫn chi phối tâm trí người bác sĩ . Thế thì liệu có thể nói là NKDTT có được sự chân thực cần thiết ? Và tại sao trong sự lạc điệu của mình nó vẫn được cả người đọc VN lẫn người nước ngoài tìm đọc ? Như trong lời giới thiệu viết cho bản tiếng Việt cuốn NKDTT tôi đã nói qua, nhìn cuộc chiến tranh chống Mỹ như cái gì thuần nhất, từ đầu đến cuối chỉ có một bộ mặt duy nhất là không đúng. Mà nhìn vào cuộc chiến tranh đó chỉ thấy duy nhất một hình ảnh nào đó về con người cũng là không đúng. Chỉ xét tâm lý những thanh niên Hà Nội được huy động tham chiến, tức có mặt trong đội quân miền Bắc chi viện miền Nam, thì cũng đã thấy nó có hai giai đoạn. Trước 1968, người ta đi chiến trường một cách hồ hởi tự nguyện. Người ta tin rằng mình đang tham gia một cuộc chiến tranh thần thánh và chẳng bao lâu sẽ trở về. Những người được chọn đi bộ đội chiến đấu lúc ấy thấy đây là cả một niềm vinh dự. Sau 1968, thì khác , mỗi ngày mỗi khác .Chiến trường ngày càng thu hút nhân lực tài lực. Việc huy động người trở nên xô bồ. Con người thấy đây là nghĩa vụ trách nhiệm, hơn là vinh dự. Cuộc sống trở nên nặng nề. Con người mang nặng tính cách phá phách – như chữ dùng của Lê Lựu, trong một cuộc trả lời phỏng vấn năm 1997 (2) Thùy Trâm về mặt tâm lý, là thuộc thế hệ những người lính có mặt ở chiến trường trước 1968. Để nói về họ người ta phải dùng những chữ như trong sáng thánh thiện. Việc họ tin tưởng ở Đảng ở quân đội – tức cái chất tín đồ của họ là có thật. Tâm lý họ chưa trở nên chai sạn như lớp người ra đi về sau. Thùy Trâm phải viết bằng cái giọng chân thành tin tưởng như đã viết. Cái thực của NKDTT là ở chỗ ấy. Về phía người đọc VN — tạm giả định rằng họ là một khối thống nhất --thì trong trường hợp này cũng không phải họ dễ tính và bị lừa. Trên kia tôi đã nói họ chán những cái công thức giả tạo. Còn điều thánh thiện trong sáng, hay sự thật đầy bùn đất của chiến hào họ đều thấy gần gũi. Miễn là có được phần nào đó sự thực. Thậm chí còn có thể nói rằng với người đọc VN hiện nay, một cái gì thực đến tàn nhẫn như Nỗi buồn chiến tranh còn là quá sốc. NKDTT vừa với cái dạ dày còn rất yếu của họ. Vấn đề con người và thể nhật ký Một lý do nữa khiến cho NKDTT được đọc rộng rãi ( tổng số bản tiếng Việt đã in lên tới 430.000 ) : Nó tạo được cảm giác một cái gì có thực. Điều này một phần dựa vào thể tài mà nó sử dụng. Thể nhật ký vốn rất quen thuộc không chỉ ở phương Tây mà cả ở những nước châu Á như Trung quốc Nhật Bản. Theo Phan Khôi, ít ra là từ thế kỷ XVII (3) nó đã sớm phát triển. Ở VN việc này rất hạn chế. Có thể thấy việc ít viết nhật ký có một lý do sâu xa, con người cá nhân trong xã hội VN còn rất yếu ớt, và nhu cầu đối diện với bản thân của người ta chưa xuất hiện. “ Người ta có nhìn rõ sự sống của mình là có giá trị thế nào, có biết quý cái ngày tháng mình còn sống ở đời, tóm lại là cái nhân sinh quan vững chắc sáng suốt thì mới lấy làm trịnh trọng mà chép lại mình đã trải qua hoặc nghe lấy suy nghĩ mà để lại về sau. Nhật ký phổ thông sản xuất ra vì đó. Người Việt Nam ta chưa có ai chép nhật ký phổ thông hết, hoặc giả là chúng ta chưa có cái nhân sinh quan đến bậc ấy chăng ? ” Cách cắt nghĩa của Phan Khôi đến nay vẫn đúng. Riêng với chiến tranh, ở nước nào cũng vậy, trong và sau chiến tranh, người ta thường cũng sưu tầm thêm nhật ký thư từ.Tức là trong hoàn cảnh sống dưới bom đạn, hình thức viết này khá phổ biến. Ở VN, sau cuộc kháng chiến chống Pháp chỉ có hai cuốn nhật ký được công bố : Ở rừng của Nam Cao và Nhật ký của một bộ trưởng của Lê Văn Hiến. Sở dĩ nhật ký trong chiến tranh càng ít, vì mấy lý do : - người ta bận bịu ( Bảo Ninh từng có nhận xét này ) - người ta nghĩ rằng với mình cái chết có thể đến bất cứ lúc nào - đời sống tinh thần người ta đơn giản - người ta không có điều kiện bảo quản và giữ bí mật những suy nghĩ của mình . Đặt vào hoàn cảnh chung đó, thấy NKDTT là một yếu tố mới trong đời sống tinh thần con người trong công cuộc chống Mỹ Trong nhận xét của người dịch NKDTT ra tiếng Anh có đoạn nói riêng về cách viết nhật ký của DTT “Ngòi bút của cô uyển chuyển từ văn xuôi cho đến thơ, từ suy ngẫm để tự phân tích bản thân, từ thổ lộ tâm tình cho đến phản ánh. Ở chỗ này, cô tự nói với mình. Ở những chỗ khác cô lại nói chuyện với những người bạn không hiện diện ở bên. Cô thường xuyên thay đổi đối tượng, đang nói chuyện với mình lại nói với một người khác một cách dễ dàng và không hề báo trước.” Vậy là ở đây, người ta thấy có một con người mau mắn , sinh động , tự tin. Trước đây, nhân vật trung tâm trong văn học thường là những người sống quá hồn nhiên đến mức có thể bảo họ nặng về bản năng. Họ đi vào chiến tranh mà không suy nghĩ gì nhiều. Nổi lên ở họ chỉ là cái thanh thản của những trai làng đi làm việc nước từ bao đời nay ( truyện ngắn Đỗ Chu ). Họ sống thế nào cũng được.Thích cười vui đùa tếu , thích đi tìm cảm giác lạ (thơ Phạm Tiến Duật ). Với NKDTT, người ta bắt gặp một con người đi vào chiến tranh như một trí thức hoặc có chất trí thức. Chất trí thức này – hoặc đúng hơn là sự phong phú trong đời sống tinh thần, sự có mặt của âm nhạc thơ ca, văn học cổ điển thế giới -- chỉ làm cho sự cảm thụ và ghi nhận chiến tranh của con người sắc bén thêm. Cũng do chất trí thức này, con người ở đây hiện ra không khác là bao so với con người trong các cuộc chiến tranh mà thế giới đã biết. Sự gần gũi giữa NKDTT với Nhật ký Anna Frank mà tôi nêu ra trong lời giới thiệu bản tiếng Việt, về sau đã được nhiều bạn đọc ở Mỹ xác nhận. Thế có phải cứ viết nhật ký là làm bộc lộ được con người mình và tạo đươc hiệu quả chân thực ? Nên chú ý là trước NKDTT một chút, và nhất là sau cuốn sách ít lâu, cũng có hàng loạt sổ tay ghi chép được “trình làng”. Thế nhưng ở đó người ta chỉ nhận ra một người viết hời hợt. Một số trong các tác giả loại này không thể hiện được mình ; một số khác thực ra không viết nhật ký mà đó chỉ là bản nháp của cuốn sách mà người ta muốn in ra khi từ mặt trận trở về. Người đọc cảm thấy người viết làm văn trên trang giấy, nên đã từ chối. Chỉ đọc qua nhật ký DTT, Nguyễn Trung Hiếu đã cảm thấy ở đây có lửa. Anh em nhà Whitehurst tin ở DTT như tin ở chính mình. Người dịch NKDTT ra tiếng Anh cảm thấy người viết nhật ký là một nhân cách cao quý . Sở dĩ có được sự tin yêu đó vì NKDTT có được cái hồn nhiên như dòng suối vọt ra từ lòng đất. Nó được viết ra do nhu cầu của người trong cuộc chứ không hề tính tới việc xuất bản. Theo quy luật của truyền thông đại chúng trong xã hội hiện đại Trong đời sống tinh thần của người Việt, Truyện Kiều có một vai trò không cuốn sách nào có nổi. Các nhà nghiên cứu văn học cắt nghĩa là ở đó có sự phản ánh hiện thực hoặc tinh thần nhân văn. Nhưng theo tôi ở đây còn có vai trò của chất cảm thương bi lụy là một truyền thống của sự tiếp nhận văn học của đám đông quần chúng các nước phương Đông. Có thể bảo đây là một tác phẩm melodrama ở chỗ nó nói về thân phận bất hạnh của một người con gái. Cái chữ thường được người Việt quen dùng là tài hoa bạc mệnh. Thúy Kiều bất tử một phần lớn vì những giọt nước mắt của mình. Nhìn lại NKDTT. Một người con gái giàu tình cảm đẹp đẽ nết na được đưa lên thành nhân vật chính. Người đó phải dấn thân vào cuộc đời đa đoan -- ở đây là chiến tranh --, sống giữa những người xa lạ, và gặp nhiều nhỡ nhàng oan uổng trong tình yêu. Cuối cùng là cái chết. Sự cảm thụ kiểu melodrama như thế này không có trong phạm vi ý thức, mà chỉ ở phạm vi tiềm thức, nhưng với các đám đông, nó là yếu tố gây ra sự lan truyền mạnh mẽ và cả sự bùng nổ nữa. Bản thân số phận cuốn nhật ký cũng khá ly kỳ. Nó giống như một đứa con rơi. Vừa ra đời đã bước vào cuộc lưu lạc. Chinh phục được ngay cả những kẻ ở bên kia chiến tuyến. Tiếp đó làm cuộc du lịch sang tận tây bán cầu. Mấy chục năm liền sống giữa những người xa lạ và làm cho họ rơi nước mắt. Chỉ nhờ những cớ ngẫu nhiên – người Việt hay nói nhờ Thần Phật run rủi – mà cuối cùng có cuộc hội ngộ với quê hương xứ sở. Ở trên tôi đã nói thời điểm theo nghĩa rộng. NKDTT xuất hiện khi nhận thức về chiến tranh có sự chuyển giai đoạn. Nhưng còn có thể hiểu thời điểm theo nghĩa hẹp, cái năm 2005 cụ thể. Lúc này sau chuyến đi sang Mỹ của phái đoàn Phan Văn Khải, quan hệ Việt Mỹ mở ra với sự náo nức chờ đón của những người bình thường. Một thuận lợi không gì đo đếm nổi ! Sau hết, phải đặt NKDTT vào hoàn cảnh của truyền thông hiện đại. Tác phẩm không chỉ xuất hiện như một quyển sách văn chương mà đã may mắn có mặt trên báo và được đọc trên đài phát thanh . Rồi các nhà làm phim các nhà hoạt động sân khấu tấp nập xin nhập cuộc. Rồi sự chú ý của các cơ quan thông tấn nước ngoài, ý định về một loạt bản dịch. Nhờ dư luận trong nước mà người nước ngoài chú ý. Nhưng đến lượt mình, sự chú ý từ nước ngoài như thế lại thổi bùng sự quan tâm của bạn đọc trong nước để đưa nó tới một tầm mức mà trên nhiều phương diện , chưa một tác phẩm nào có được . Với việc chấp nhận NKDTT, xã hội VN vốn rất nhiều yếu tố cổ điển đang tự chứng tỏ là nó qua một chặng mới và trở nên một xã hội hiện đại khi giải quyết một vấn đề lớn như nhìn nhận và đánh giá con người chiến tranh. 8-2007 ---- (1) Bài viết này sau được in lại trong một tập phê bình tiểu luận của tác giả. Xem Trang giấy trước đèn, Nxb Khoa học xã hội 1994, tr44-55 (2) Xem Thể thao &văn hóa số ra 19 - 12-1997. (3) Phan Khôi Về lối văn nhật ký, Phụ nữ tân văn số 150 ra ngày 23-6-1932. Dẫn lại theo Thanh Lãng 13 năm tranh luận văn học, Nxb Văn học và Hội nghiên cứu và giảng dạy văn học TP HCM, 1995, 121-128

Đọc tiếp ...

Chiến tranh nhìn qua số phận cá nhân

Con người khám phá và con người thích ứng trong Nỗi buồn chiến tranh Có một quy phạm thường xuyên chi phối dòng tiểu thuyết Việt Nam viết về chiến tranh vốn đang còn khá lèo tèo. Bất chấp việc chúng được viết ngay trong thời bom đạn hay trong thời bình mấy chục năm về sau, đó thường là những cuốn sách dựng lại cả một bức tranh mở ra theo bề rộng, chiến tranh được ví với một trận cuồng phong, hoặc một cỗ máy khổng lồ có sự vận động cùng lúc của nhiều số phận. Con người trong các tác phẩm đó được miêu tả trong hình thế một nhóm, một tập thể (từ nhỏ đến lớn) có tổ chức, có định hướng rõ ràng, và mỗi cá nhân không hề có ý muốn trở thành độc lập bên cạnh đám đông. Mặc dù vẫn còn những nét riêng tư, nhưng họ không bao giờ tồn tại như những con người tự thân, mà chỉ được xem như người phát ngôn cho một vấn đề của xã hội. Chỗ giống nhau giữa Xung kích của Nguyễn Đình Thi và Dấu chân người lính của Nguyễn Minh Châu chẳng hạn là cả hai đều bám vào một sự kiện cụ thể (mỗi cuốn sử dụng một chiến dịch “làm nền”) rồi trong đó, một dàn nhân vật đi về lui tới suy nghĩ. Cái mà người ta còn lưu lại trong đầu sau khi đọc là một không khí chiến tranh nói chung, còn vấn đề “con người trong chiến tranh” chỉ là một nhánh phụ. Để hình dung ra con người, bạn đọc phải đi theo lối đường vòng, và chắp nối người này một chút người kia một chút. Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh ngả sang một cách viết khác. Thực tế là trong cuốn tiểu thuyết này, người ta có dịp bắt gặp toàn bộ chiến tranh - một cuộc chiến tranh với đủ những địa điểm và những khoảnh khắc tiêu biểu từ ngày đầu đến ngày cuối (không khí Hà Nội khi thành phố bắt đầu tiễn con em ra chiến trường; những chặng đường từ hậu phương tới mặt trận; những ngày sau tết Mậu Thân; giải phóng Sài Gòn…). Song tất cả đều thông qua ý thức của nhân vật Kiên chứ không phải miêu tả trực tiếp. Tức là ở đây, chiến tranh chỉ được thể hiện qua một con người, tác phẩm từ đầu đến cuối men theo những ý nghĩ của nhân vật, dày đặc vui buồn, hối hận, trăn trở, bất lực của anh ta. Trùm lên tất cả chỉ có một đường dây là từng trải của Kiên, mạch suy nghĩ của Kiên, và bao quát hơn là số phận của Kiên. Thật khó đẩy tác phẩm vào trong vòng tay của những khái niệm như “bức tranh toàn cảnh”, hoặc “một thiên sử thi hoành tráng” mà chúng ta quen nghĩ. Trong khi mọi sự kiện trước sau bị đảo lộn về thời gian thì chúng lại tỏ ra rất mạch lạc, nếu xét theo sự phát triển của ý nghĩ và tình cảm của nhân vật chính. Mỗi sự kiện cụ thể ngoài ý nghĩa tự thân có thêm một tầng khái quát: này là những lúc vui; này là những lúc chết lặng đi vì buồn; những lần hoang mang tuyệt vọng (không lần nào giống lần nào); một phen kinh ngạc vì cách xử sự của người này người kia. Trong suốt cuốn sách, Kiên như chỉ có một mình. Các nhân vật khác chỉ sống trong ý nghĩ cả Kiên, trong đó có một số nhân vật chỉ ngẫu nhiên được nêu ra rồi mất hút. Bù lại, tự thân Kiên đã khá đa dạng. Gần như không có việc nào của lính mà Kiên không trải qua. Trong anh, chất lính được chưng cất và cô kết lại. Lính nghĩa là không có quyền lựa chọn số phận của mình. Lính nghĩa là gặp đâu hay đấy ngẫu nhiên thất thường trôi nổi theo sự đưa đẩy của hoàn cảnh và không bao giờ dám đặt câu hỏi tại sao mình lại như thế này mà không như thế khác. Lính nhiều khi đồng nghĩa với vô vọng, bất lực. Cảm giác của chúng ta về chất lính trong Kiên còn được củng cố, bởi với anh, cái chết luôn luôn trở lại như một ám ảnh. Suy nghĩ về cái chết thường trực khi ăn cũng như khi ngủ, khi Kiên đơn độc một mình, cũng như khi anh vui vầy giữa bạn bè. Với người lính này, cái chết là một bộ phận của chính cuộc sống. Một trong những lý do khiến cho nhiều người kiên trì lối viết “tập thể nhân vật” nói trên: người ta cho rằng làm thế mới có khả năng xây dựng được những điển hình khác nhau và cái nào cũng cụ thể sinh động, từ đó gộp cả lại khái quát nên thứ “chân dung nhóm” bao quát các kiểu dạng con người đương thời. Xét về khía cạnh nghề nghiệp, tuy không tuyên bố, nhưng dường như Bảo Ninh muốn nói - thật ra một nhà văn không thể biết nhiều như anh ta vẫn tưởng; may ra họ chỉ biết về chính họ. Và từng con người mới quan trọng, từng con người chính là “vấn đề của mọi vấn đề”, kể cả khi người ta sống và nghĩ về chiến tranh. Cuộc sống dưới dạng hồi ức Ra khỏi chiến tranh, trong Kiên hàm chứa một mâu thuẫn thường trực. Một mặt anh chai lì đi. Mặt khác, trong anh, dòng ký ức về chiến tranh lại cuồn cuộn chảy và những chuyện nhỡn tiền chỉ là đầu mối để anh nhớ lại chuyện cũ, thúc đẩy con người nhân vật gắng vươn lên để nhận thức về quá khứ. Thành ra cái vẻ uể oải “chẳng biết dùng đời mình vào chuyện gì” (tr 77 – số trang ghi theo bản của Nhà Xuất bản Hội nhà văn, 1991) chỉ là bề ngoài. Trong cái dạng sống riêng của mình, Kiên cực kỳ nhạy cảm và ngầm chứa một khao khát vươn tới không gì cản nổi. Sự chai lì thật ra vốn được hình thành dần trong quãng đời cầm súng của nhân vật. Những năm ấy, Kiên đã cảm thấy, “không phải là mình đang sống mà như đang bị mắc kẹt trong cõi đời này” (87). Những gì tốt đẹp trong ý nghĩ và tình cảm sớm bị mất đi. Người ta tự nguyện gác hết suy nghĩ để hành động. Rồi cái kiểu sống bức bối chật hẹp như thế này còn bị thu hẹp thêm bằng hàng loạt bất lực thời hậu chiến. Kiên không biết lao vào kiếm sống và hưởng thụ như mọi người. Cả đến những chuyện riêng tư cũng không biết lo, có bao nhiêu việc đáng làm thì Kiên lại đã không làm, đến khi cái câu hỏi khó chịu “đi đâu bây giờ, làm gì bây giờ?” ngày ngày vang lên như một ám ảnh thì quả thật là một cách xác nhận về tình trạng bế tắc thực sự. Thời bình cũng như thời chiến, Kiên đều đơn độc. Chung quanh anh là những người vừa ra khỏi chiến tranh đã lập tức quên lãng, lao đầu vào cuộc kiếm sống. Trong con mắt họ Kiên như một kẻ mộng du. Nhưng chỉ cần đứng lùi ra xa một chút, nhìn chặng đường chiến tranh như một phân đoạn lịch sử, chúng ta sẽ thấy ngay rằng kẻ tỉnh táo không phải là cái đám đông hỗn độn kia, mà chính là Kiên. Đám đông lao vào kiếm ăn thực ra đang mê muội. Ngược lại người chiến binh sống vất va vất vưởng và tưởng đời mình như bỏ đi mới là kẻ sáng suốt. Nhà văn Pháp J. Cocteau từng viết về mối quan hệ giữa một thi sĩ với hoàn cảnh: “Ở đây chỉ một mình thi sĩ là người sống giữa những người chết, và chính trong giờ phút ấy thi sĩ đã làm mồi cho chính sự chết - nó đang sống hơn là thi sĩ sống.” Tình cảnh của Kiên cũng có những nét tương tự. Hồi ức làm nên lý do để sống. Trong lịch sử văn học nhiều nước, hàng loạt cuốn tiểu thuyết viết về chiến tranh được viết bởi sự thôi thúc phải nói to lên cái lời đề nghị đơn giản: không được quên lãng. Một cuốn tiểu thuyết của nhà văn Nga V. Rasputin mang tên Hãy sống và hãy nhớ (bản dịch tiếng Việt đổi đi một chút, gọi là Sống mà nhớ lấy). Còn ở Việt Nam, cuốn truyện vừa hay nhất của Nguyễn Minh Châu mang tên Cỏ lau cũng có một ý tương tự. Câu chuyện xoay quanh công việc những người sống đi tìm xác những người chết. Sau khi bảo rằng vùng này đất tốt quá chừng, vô khối là đất mà chỗ nào cũng chỉ có giống cỏ lau mọc, tác giả viết, “Với bao nỗi toan tính hối hả trong thời bình, mỗi con người chúng ta có lẽ đôi khi cũng là một cánh rừng cỏ lau giàu sức sống, rất chóng lãng quên những người lính đã ngã xuống”. Bởi lãng quên đe dọa đến chính cuộc sống, người ta phải tiến hành cuộc chiến đấu dai dẳng để chống lại nó. Viết văn với Nguyễn Minh Châu hay Bảo Ninh nói ở đây chính là để chống lại sự lãng quên đó. Lạ hóa chính mình lạ hóa hoàn cảnh Những ai đã đọc Thời xa vắng, hẳn nhớ cách của Lê Lựu viết về quá khứ trong đó: quá trình tham gia chiến đấu của Sài không được miêu tả cặn kẽ. Song nhà văn vẫn làm cho người đọc thấy rõ Sài là một sản phẩm của chiến tranh, chỉ chiến tranh mới đẻ ra những con người tương tự. Có thể nói một đặc trưng của bản thân Sài là thái độ quan liêu. Nghĩa là, Sài cũng ghi xương khắc cốt rằng mình lớn lên, bắt đầu làm người thực sự từ trong chiến tranh. Song thực chất nó là thế nào, Sài không để ý. Ngược lại Sài cứ nhơn nhơn như không, lại còn luôn tự lừa mình rằng chẳng có điều gì mà mình không hiểu, và rộng hơn tự hào rằng ra khỏi chiến tranh mà bản thân cái phần tốt đẹp trong con người mình vẫn còn nguyên vẹn. Niềm tự tin được đẩy lên thành một ảo tưởng ấy đã làm nên cả đặc trưng của nhân vật trong Thời xa vắng. Thứ tự tin nông nổi và có vẻ như đáng yêu đó là nguồn gốc của bao thất bại đến với Sài về sau. Con người rút cục trở thành tù nhân của hoàn cảnh và càng lao đầu vào hành động tình thế càng trở nên tuyệt vọng. Bề ngoài Kiên của Bảo Ninh không được như Sài. Dường như anh không ra khỏi chiến tranh. Mưu cầu hạnh phúc cho bản thân, anh không biết. Những trò hưởng lạc, anh không màng. Nhưng vẫn có thể nói so với Sài, Kiên vượt lên một bực ở chỗ toàn bộ sức sống của anh tập trung vào việc nhận diện chiến tranh. Nghĩ về nó. Muốn khôi phục sự thực như nó vốn vậy. Để làm việc đó, anh sẵn sàng để cho ký ức nổi lên hỗn loạn, với dụng ý rằng sau đó tìm cách kiểm soát nó, lý giải nó một cách chủ động. Lúc này, chiến tranh được Kiên nhìn như thuở ban đầu. Anh đến với nó từ một sự vô tư không thành kiến. Luôn luôn thú thực rằng mình chưa hiểu. Luôn luôn sợ quên, sợ nhầm. Nghĩa là Kiên đã dọn lòng một cách thanh thản, đã tạo cho mình khả năng đối diện với một thực tế khó nhằn và có được ý chí ngoan cường trong việc chinh phục nó chiếm lĩnh nó. Mặt khác, khi tự nhủ rằng với cuộc chiến tranh ấy, mình phải viết, thật ra anh đã bước đầu khách quan hóa nó, tách nó ra khỏi mình, lạ hóa nó để tiêu hóa nó. Có thể nói Kiên đã tìm thấy một đối tác tốt để đồng hành trên suốt quãng đường đời còn lại. Có một sự thực là từ lúc chưa xung vào quân ngũ đến lúc trở về, quan niệm của Kiên về vị trí và mối quan hệ của mình với chiến tranh là nhất quán. Một mặt, như Kiên từng xác định, giữa cuộc chiến tranh to lớn, anh “chẳng là gì cả” mà chỉ là một thứ đinh ốc nhỏ, hoặc như chữ anh dùng “loại con sâu cái kiến” trong cuộc biến động vĩ đại; và anh bằng lòng với số phận đó. Mặt khác, hình như ở Kiên luôn luôn có một con người nữa tách ra bên ngoài để soi xét mọi chuyện, và đây là khía cạnh tự do bên trong, nó làm nên tầm vóc của nhân vật. Lúc đã suy nghĩ thì nhân vật không còn bị một ràng buộc nào. Không bị bắt vít vào những quan niệm thông thường. Không bị ảnh hưởng của những đồng đội chung quanh. Một cái gì cơ bản hơn, những nguyên tắc của việc làm người - nếu có thể nói như thế - chi phối anh, len lỏi trong những suy nghĩ của anh. Những kiến thức mà tuổi trẻ anh đã tiếp nhận được từ những người thân và bè bạn của nền giáo dục ở nhà trường thường xuyên trở lại để giúp anh so sánh đối chiếu với thực tế trước mắt. Trong cái vẻ ương ương gàn gàn, Kiên vượt lên trên những người thông thường. Có thể nói trong văn học Việt Nam, đây là một trong những trường hợp hiếm hoi, ở đó con người giữ nguyên được cảm giác ngạc nhiên kỳ lạ về chính cuộc sống mà họ đã sống. Nhờ thế, một cuộc chiến tranh chưa được biết tới lại hiện ra sắc nét và độc đáo, nghĩa là không giống cuộc chiến thông thường mọi người vẫn hiểu. Nhận thức như một lẽ sống Trong cảm nghĩ của Kiên, chiến trường có lúc có cái không khí rờn rợn của một cuộc sống không thực. Có những khu vực ở đó, “chim chỉ bay không kêu, măng nhuốm màu đỏ, và rất nhiều hồng ma, một loại cây ưa máu” (các tr.7, 13). Mà đời sống sau chiến tranh khi được phản ánh vào tâm trí Kiên cũng vậy, nó có cái không khí “ nửa nhà thương nhà đòn”, như chữ dùng của tác giả. Sự tỉnh táo trong cái nhìn hiện thực của con người này như vậy sớm bị bào mòn. Thường xuyên, Kiên cảm thấy mình lạc lõng chơi vơi chẳng biết bấu víu vào đâu. Như vậy là Kiên đã thất bại đã đầu hàng, như nhiều nhân vật vô tâm khác? (Có lúc anh đã tự nhủ: “mình chả trở lại thành người được đâu!”). Song đó chỉ là một phía. Trong hoàn cảnh nhiều điều trái ý, khao khát nhận thức của Kiên – một khao khát chẳng những bao giờ cũng âm ỉ mà nhiều lúc lại còn bừng sáng lên không cùng - đã trở thành cái phao để anh bấu víu. Nó mang lại cho anh lẽ sống. Kiên cảm thấy đời mình không còn ý nghĩa gì khác ngoài việc nghĩ về chiến tranh và khôi phục lại bộ mặt thực của nó. Các hồi ức của Kiên không dừng lại ở mức độ cảm giác mà vươn tới trình độ của một nhận thức. Mối quan hệ của Kiên với chiến tranh được đặc trưng bởi tự ý thức sâu sắc của nhân vật về môi trường mà mình có mặt. Sống vốn đã là để nhận thức. Với chiến tranh cũng vậy. Nơi người ta thường cho rằng mỗi con người phải quên mình đi cho hành động, thực ra lại là mảnh đất tốt cho những suy nghĩ, phản bác, thể nghiệm, kiểm tra, chấp nhận... Chỉ cần có ít kinh nghiệm về tiểu thuyết viết về chiến tranh ở Việt Nam, người ta đã thấy những nhận thức đã đến với Kiên như vừa phác họa là vượt lên trên sự thông thường, là lạc lõng xa lạ, và đây là điều đã được nhiều nhà phê bình gọi ra. Nó cũng là nguồn cơn của nhiều giận dữ mà các đồng đội hôm qua đã ném lên đầu tác giả. Tuy nhiên, chỉ cần gạt bỏ thành kiến và lòng tự ái bẩm sinh, những người đã trải qua chiến tranh sẽ thấy con người Kiên là hoàn toàn bình thường. Nó không phải là cái mà chúng ta gọi là suy nghĩ, mà là sự vận động trong đầu óc thực thụ: - Nó mang màu sắc kinh nghiệm cụ thể, kết quả của một sự tìm tòi cá nhân chứ không phải kinh nghiệm bày đàn, một thứ chân lý do người ta học đòi nói leo, bị áp đặt và không có thẩm tra thể nghiệm. - Nó là cái gì người ta cố từ chối mà không từ chối nổi chứ không phải do học đòi làm dáng, vừa nghĩ ra đã kêu toáng lên dọa mình dọa người. - Nó (sự suy nghĩ ấy) lung linh tồn tại như một cơ thể sống. Trong khi ở nhiều cuốn tiểu thuyết hậu chiến khác, chiến tranh là đơn giản, chỉ có một nghĩa, dễ hiểu (để rồi dễ quên dễ chán) thì ở đây, mặc dù đã sống với nó hết lòng, con người lại vẫn như là chưa hiểu cái gì đã đến với mình trong những năm tháng hào hùng và quyết liệt ấy. Nhận thức ở đây đồng nghĩa với khám phá, khám phá không bao giờ ngừng. Trong cái sự chật vật để đi đến nhận thức, con người như đã ở vào trình độ hiện đại chứ không như nhiều người nông nổi hời hợt, hùng hục hành động và chỉ biết giải thích công việc mình làm theo những công thức có sẵn. Một đối trọng đầy sức ám ảnh Bên cạnh Kiên thì trong tác phẩm, Phương là nhân vật nổi lên hơn hết. Trong nỗi buồn như một thứ không khí phả vào từng trang tác phẩm, không chỉ có nỗi buồn xé lòng của Kiên mà còn có nỗi buồn dai dẳng, nỗi cay đắng đầu hàng của Phương. Khi Kiên đi sâu vào nhận thức để giải mã cuộc đời, cái đối tượng có sức ám ảnh với nhân vật không chỉ là chiến tranh mà còn là Phương nữa. Trong các bài hát lẫn trong thơ ca Việt Nam đương đại, người phụ nữ những năm chiến tranh thường được hiện ra như những cô gái nhanh nhảu tháo vát, nếu không đi thanh niên xung phong hoặc làm giao liên đưa bộ đội vào chiến trường thì đó cũng là người con gái ở lại hậu phương chung thủy đảm đang, thay thế chồng con cha anh trong những công việc đàn ông thường làm. Họ hết sức năng động trong phạm vi những việc cụ thể, nhưng lại đơn giản sơ lược trong đời sống tinh thần, và thường thiên về những giọt nước mắt sùi sụt, để rồi sau đó lại đột ngột cứng cỏi một cách kỳ lạ đến mức gần như khó hiểu. Có thể bảo đó là nét đặc biệt của người Việt nói chung, song ở phụ nữ, người ta nhận ra những biểu hiện lý tưởng. Trong Nỗi buồn chiến tranh, Phương trước tiên vượt lên mẫu người con gái thông thường đó để trở nên một ngoại lệ. Hãy bắt đầu bằng hình ảnh Phương trước ngày tiếng súng bắt đầu nổ. Đó không phải chỉ là hình ảnh của hòa bình hạnh phúc mà ngay từ lúc ấy, Phương đã là con người của một nhận thức mới. Trong khi Kiên tính chuyện ra đi, lao vào hành động, thì Phương lại có cái nôn nao khó tả, nó là nỗi dự cảm trước một điều lớn lao đang xảy tới. Toàn bộ sự nhạy cảm của Phương được huy động khiến cho người ta cảm thấy Phương như vượt hẳn lên so với người bạn trai cùng tuổi. Phương nói ra những điều lớn lao một cách trực tiếp như là lịch sử đã ứng vào miệng cô. Buổi tối bên bờ biển (trong đợt Phương với Kiên đi nghỉ) có cái không khí huyền bí của một thời điểm mặc khải, tức mở ra điều bí mật. Từ lúc chưa ai cảm thấy, thì hình như Phương đã cảm thấy chiến tranh tới gần. Và nhất là những gì Phương phản ứng trước cái thực tại sắp tới đó thì thật bất ngờ mà suy cho cùng lại thấy rất có lý. Ngay từ lúc này người ta đã thấy Phương sâu sắc hơn Kiên. Phương không chỉ sống với cuộc đời trước mắt mà còn sống với những ký ức từ thuở người Việt viết nên Chinh phụ ngâm và ru con bằng những câu ca dao “Con cò lặn lội bờ sông – Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non”. Nếu sự chừng mực trong tiếp nhận chiến tranh ngay từ khi tiếng súng chưa nổ khiến Phương có cái vẻ tiên cảm đến mức lạc lõng so với con người đương thời thì cái cách Phương hiểu về thời đại của mình càng sâu sắc lạ thường, một cách hiểu mới mẻ đến mức người ta phải nghi ngờ. Nói chung trong cách xử sự, Phương là con người vượt ra ngoài thông lệ. Đoạn tác giả để cho Phương cảm thấy gần với cha Kiên hơn là Kiên, Phương đứng bên cha Kiên trong cái lần ông họa sĩ này đốt tranh… bị một số người cho là giả tạo. Nhưng lô-gich của Phương là vậy. Phương và cha Kiên tự nhận là những kẻ lạc thời và lạc loài, song sự thật, họ là những con người của nhân văn nhân đạo của vĩnh cửu. Ngay từ đầu, với trình độ hiểu biết của mình, Phương dường như đứng ngoài không gian thời gian. Từ chỗ đứng đó Phương tìm ra nguồn sức mạnh tinh thần để hòa hợp với xã hội. Kiểu nghĩ trí tuệ một cách bản năng như thế giúp Phương không cứng nhắc trước cuộc đời. Việc Phương tự biến đổi theo hoàn cảnh mà chúng ta thấy về sau như có thêm bảo đảm rằng con người tưởng như ngoại lệ này vẫn là trường hợp bình thường. Trong Phương có cái phần mà nhiều người khác có, nhưng lại lảng tránh. Thích ứng để tồn tại Trong những lần bàn về cuốn sách của Bảo Ninh, một số người có nhắc tới nền văn học xô - viết viết về chiến tranh, và những bộ phim làm theo nền văn học đó kiểu như Khi đàn sếu bay qua hoặc Bài ca người lính. Trong những tác phẩm ấy, các nhân vật nữ hiện lên như những con người sẵn lòng để người yêu ra đi, nhưng trong lòng xiết bao đau đớn. Rồi ngay trong lòng hậu phương bản thân họ cũng bị vùi dập. Tình cảnh đáng thương theo nghĩa con người trở nên suy đồi mặc dầu họ không muốn. Họ quay ra rượu chè chơi bời, tức chìm dần vào những lầm lạc. Yếu đuối tầm thường tồn tại trong họ ngay bên cạnh cái cao đẹp, cái sang trọng. Song không phải vì thế mà họ đáng trách: họ chỉ là nạn nhân của cuộc chiến. Phương trong Nỗi buồn chiến tranh có những nét gần với các nhân vật người Nga nói trên. Ở Phương không có cái kiêu ngạo đầy ảo tưởng “ví đây đổi phận làm trai được - thì sự anh hùng há bấy nhiêu” (thơ Hồ Xuân Hương). Phương cũng không phải mẫu người con gái cam chịu hoặc gồng mình hy sinh, lấy sự đau khổ làm số phận. Thế thì đâu là nhân tố Việt Nam còn lại trong lòng người con gái kỳ lạ này? Đó là sự thích ứng. Qua miệng bà mẹ của Phương, tác giả sớm nhận xét ở Phương có xu thế hoàn hảo và mơ ước nhập thân vào cuộc sống (tr 238). Chỉ cần có chút kinh nghiệm trường đời, người ta sẽ hiểu ngay là thật vô phúc cho người nào hội trong mình cùng một lúc cả hai phẩm chất trái ngược đó. Bởi sự sống bao giờ cũng mang trong mình nó sự vô thường, sự dang dở. Muốn hoàn thiện thì người ta trước sau không tránh khỏi gãy nát, sụp đổ. Cũng may mà ở Phương, sự nhạy cảm vẫn mạnh hơn, và cô biết từ bỏ cái ao ước ban đầu kia để giữ lấy cho mình phẩm chất thứ hai. Sự thích ứng đến với cô một cách tự nhiên. Thích ứng như sự phá bỏ nguyên tắc bất chấp mọi điều kiện, thích ứng với nghĩa có thể đầu hàng, có thể giả tạo, có thể từ bỏ chính mình, miễn sao được sống. Mặc dầu vốn có một đời sống tinh thần rất cao, song cô sớm nhận ra có một thứ còn cao hơn tự do, cao hơn phẩm chất, đó là chính sự tồn tại. Phương đã có sự thích ứng kiểu đó. Đầu tiên là sự thích ứng với những đổi thay không kiểm soát nổi của chiến tranh. Bước ngoặt này xảy ra ở chỗ nhà ga Thanh Hóa ngay khi có Kiên bên cạnh. Lúc ấy cả hai từ Hà Nội vào và đã trải qua một hành trình kinh khủng. Giờ họ rơi tõm vào cái ga bị ném bom. Trong lúc lạc Kiên, Phương bị rơi vào tay một thằng khốn nạn. So với những đau đớn của Kiên thì sự mất mát của Phương trong cái lần cả hai cùng va chạm với chiến tranh này, là lớn hơn nhiều. Nhưng chúng ta hãy xem họ phản ứng như thế nào? Sau cơn lê lết đau đớn ê chề, Phương lại nhanh chóng hồi phục, mà biểu hiện không sao chối cãi được là trong con mắt của người bạn trai, cô vẫn cứ lộng lẫy “mềm mại, mịn màng”, tóm lại là tuyệt mỹ (tr 269). Nhưng với Kiên, sự thích ứng của Phương là cả một tội lỗi. Phương của anh đã mang cái tội phản bội, cái tội đầu hàng, “quỳ gối trước cái số phận mới mẻ” (tr 264) và chàng thanh niên không bao giờ tha lỗi cho cô gái về cái tội để cho kẻ khác xúc phạm tới cái tuyết sạch giá trong mà lại quên ngay được và trở về với đời sống bình thường dễ dàng như vậy. Trong khi Kiên đau đớn, Kiên bực tức, Kiên muốn người bạn gái phải tự xỉ vả, tự xử tội mình, phải muốn chết đi vì xấu hổ, thì ngược trở lại, Phương coi tai họa như một cái gì tự nhiên phải đến và không hề có mặc cảm phạm tội. Cô không bị ràng buộc vào những quan niệm cổ lỗ như phần lớn con người đương thời. Với cô, chung thủy hay phản bội lúc này chẳng có ý nghĩa gì cả. Một sự huyền bí nào đó đã mách bảo nhà văn lấy đoạn này làm cao trào của truyện và đưa nó vào phần kết, xem nó như cái chìa khóa để hiểu toàn bộ tâm lý nhân vật. Đây là thời điểm đánh dấu vượt cao của Phương so với Kiên. Từ đây, Phương như trở thành một con người khác. Phương như vừa tự phát hiện ra một cái gì rất mạnh của mình mà trước đây, mình không thấy hết, và một người như Kiên càng không thấy hết. Nghĩ và quên đều có lý Sau khi đã có sự thích ứng thứ nhất – thích ứng với chiến tranh – thì sự thích ứng thứ hai ở Phương - thích ứng với hoàn cảnh hậu chiến – sẽ đến một cách tự nhiên, mặc dầu nó xảy ra một thời gian dài và diễn biến với nhiều cung bậc hơn. Một điều đối lập ai cũng thấy khi so sánh Phương và Kiên sau chiến tranh: trong khi Kiên đào bới vào ký ức và tin tưởng ở sứ mệnh người tiên tri của quá khứ mà mình tự nguyện đảm nhận thì Phương gần như có thái độ ngược lại. Sơ đồ suy nghĩ của Kiên bao gồm mấy bước. Ra đi trong náo nức; khi nhập cuộc sớm thất vọng và bắt đầu cảm thấy cần tìm hiểu sự thực về chiến tranh; đến thời hòa bình, cái định hướng suy nghĩ này của anh càng trở nên rõ rệt. Trong thâm tâm, Kiên mang máng cảm thấy rằng như vậy là có lỗi. Giá kể có thể giống như mọi người, buông mình trong lười biếng, lẫn mình đi giữa đám đông, thỏa thiệp với chung quanh thì thật tiện. Nhưng bản chất con người buộc Kiên phải làm khác. Có một cái còn quan trọng hơn sự chung sống hòa hợp với mọi người chung quanh, thậm chí cao hơn hạnh phúc theo nghĩa thông thường, đó là tìm ra sự thực đời sống. Tính chất nhất thiết của quá trình nhận thức khiến cho Kiên có cái chất mà các nhà nghiên cứu về nhân vật trong tiểu thuyết thường nhấn mạnh: sẵn sàng chống lại hoàn cảnh; đi đến cùng trên con đường đã chọn. Theo cách hiểu thông thường, thì rượu chỉ làm cho người ta say sưa quên lãng. Đằng này Kiên lúc nào cũng khát rượu, vậy mà anh rất tỉnh, càng rượu càng tỉnh, rượu giúp anh sáng suốt tập trung sức lực vào công việc. “Chỉ có người nào biết bỏ qua những cái lặt vặt thì mới nhận ra được cái chủ yếu của đời sống” — cái nghịch lý ấy ở đây lại được ứng nghiệm. Nhìn vào cuộc phiêu lưu văn học thế kỷ XX, M. Alberes bảo rằng nay là lúc người ta không đòi hỏi nghệ thuật phải đi vào khám phá ý nghĩa bí mật của sự vật mà nó chỉ được dùng như một phương tiện giúp con người tự vấn và thách đố lại mọi ảo tưởng cũng như sự lừa dối. Kiên sẽ phải viết tiểu thuyết là vì như thế. Còn Phương. Khi nói thẳng khi quanh co, song bao giờ Phương cũng kiên trì một thái độ: mọi chuyện hôm qua không thể giải thích; và cách tốt nhất để sống là hãy quên hết chuyện cũ. Cuối cùng, giống như một kết cục tất yếu, Phương đã bỏ đi trong sự nhớ tiếc khôn nguôi của Kiên. Đi như là một sự lãng quên tuyệt đối. Chúng ta nên hiểu sự kiện này như thế nào? Trước hết, với Phương đây là bước đi hợp với logic. Nếu Kiên là con người của tình thế trước mắt thì Phương là con người của một cuộc đời dài rộng hơn. Kiên là cái duy lý mà chúng ta vốn thiếu trong khi Phương là cái duy cảm mà người Việt có thừa. Kiên đầy hào hứng trong việc miên man sống với ký ức vì thật ra Kiên vẫn là mình, vẫn giữ được mình trong chiến tranh. Còn Phương, sau cái bề ngoài nhởn nhơ và cái vẻ đẹp nguyên vẹn kia, thật ra Phương “bậc thày thích ứng” đã là kẻ chiến bại. Xét ở một phương diện nào đó, nhờ thích ứng mà Phương vẫn tồn tại, nhưng xét trên một phương diện khác, con người Phương hôm qua không còn dấu vết gì nữa, Phương đã thất bại. Bề ngoài là một tính cách lạc lõng so với số đông, song Phương là tập đại thành của tính cách cố hữu mà người Việt nào cũng mang sẵn trong máu. Song hành như những thách thức Chỉ cần đứng tách ra một chút để chiêm nghiệm đời sống tinh thần của xã hội những năm chiến tranh, thì người ta phải nhận là qua việc dựng lại diễn biến của nhân vật Phương, Nỗi buồn chiến tranh có thêm một tầng ý nghĩa mới. Phương với tác giả không phải chỉ là chỉ một cách để ca ngợi vẻ đẹp của người phụ nữ như nhiều cây bút phê bình đã viết. Nhìn lại, trong cả cuốn tiểu thuyết, ta thấy Phương làm nên một cái nền vững chãi cho Kiên, tức là yếu tố làm nên tư tưởng chủ đạo của tác phẩm. Bên cạnh Kiên, Phương là một kẻ đồng hành để so sánh. Một kẻ đối thoại quyến rũ. Và một cách nhìn đời khác, một thách thức. Lúc gần gũi và thông cảm với nhau, Phương là cái phần cao đẹp mà Kiên không vươn tới. Lúc bị cuộc đời hành hạ, Phương là kẻ biết mau mắn chấp nhận để tồn tại, có cách nghĩ thực tế hơn hẳn so với nỗi đau đớn khôn nguôi của Kiên. Với việc bỏ đi xa để lại cho Kiên niềm nuối tiếc, Phương trở thành tượng trưng cho cuộc đời gần gũi đấy mà bí ẩn đấy, cái cuộc đời vừa tẻ nhạt chán chường vừa đầy sức quyến rũ mà trong một phút xuất thần, Lưu Quang Vũ đã kêu lên như một lời thú nhận: Có ai nói cho lòng ta hiểu nổi Về cuộc đời ghê gớm ta yêu Tình thế Phương thời hậu chiến không được nói nhiều, song cái lý riêng của tình thế đó thì đã rõ. Nhân vật tồn tại như một biểu hiện của cái mệt mỏi buông xuôi thấm vào đám đông sau chiến tranh. Sau những năm tháng bất thường, méo mó kỳ dị…, người ta muốn sớm quay về cuộc đời bình thường. Nhất là sau một cuộc chiến quá sức, biết mình không thể hoàn lương trở lại, người ta muốn tạm đắp điếm cho xong, muốn tìm một sự bình yên cần kíp cho cuộc sống trước mắt, dù biết là nó giả tạo. Theo mạch thời gian, thấy càng về sau Phương càng mất hình mất dạng, càng như tan biến đi, trong khi đó Kiên càng kiên trì hơn với những câu hỏi ám ảnh, càng trở thành chính mình. Phương là sự bình ổn với bất cứ giá nào, bình ổn để nhắm mắt sống cho qua cái hiện sinh ngoài tầm kiểm soát; ngược lại Kiên – trong hành động nhận thức của mình - lại nổi bật lên như là yếu tố hư vô mà thách thức và do đó thúc đẩy cuộc đời đi tới. Việc miêu tả quá trình song hành giữa hai nhân vật có sự bổ sung cho nhau như Phương và Kiên khiến cho hình ảnh con người trong Nỗi buồn chiến tranh như được gợi mở với nhiều chiều kích rộng rãi. Trong khi ghi nhận hai nhân tố có thực trong đời sống, đồng thời tác phẩm còn tồn tại như lời mời gọi cuộc đối thoại mà lẽ ra xã hội hậu chiến nên đón nhận. Dù những đề xuất ấy không được chính thức hưởng ứng, song trong đời sống tinh thần của xã hội Việt Nam hậu chiến, các nhân vật như Kiên như Phương vẫn hiện diện, và đấy là cái làm nên lý do trường tồn của tác phẩm. Không mấy khi, nhà văn Việt Nam xây dựng được những nhân vật có ý nghĩa thách thức như thế. 2006 -07 Đọc thêm Nhờ hội nhập, một cuốn sách hay đã trở lại với bạn đọc!

Đọc tiếp ...

04-05-2009

Nếu biết nghĩ như Kiều


(TBKTSG) - Chiến tranh cần đến sự có mặt của văn nghệ sĩ ngay ở chiến trường. Bởi vậy từ hồi ấy, giới văn nghệ chúng tôi đã tự nguyện tôn vinh những người làm nghề dám có mặt ngay bên cạnh người lính để sáng tác. Bất kể tác phẩm của họ chất lượng ra sao, riêng sự ra đời của chúng đã được xem như những chiến công.

Đọc tiếp ...