31 thg 12, 2009

Di sản giữa đời thường




Nghề làm tranh dân gian của làng tôi là một thứ đặc sản của văn hóa Việt Nam mà mức độ độc đáo có thể so với rối nước, các điệu chầu văn, các làn quan họ. Đấy là điều không chỉ người trong cả nước biết, mà khách du lịch nước ngoài cũng biết và dân làng tôi lại càng biết. Mỗi lần về quê, tôi lại được mấy ông thuộc loại đàn anh trong làng nhắc nhở: - Chú phải nhớ rằng tranh của Đông Hồ mình là có mặt ở những bảo tàng lớn của thế giới kia đấy. Nhưng là dân sở tại, nên so với các nơi khác, dân làng tôi còn biết thêm một điều nữa có liên quan đến di sản của làng. Ấy là mặc dù bàn dân thiên hạ cứ khen như vậy, cứ tự hào hộ như vậy, và tết đến báo chí cứ viết dài dài về làng tranh xưa, nhưng chả ai mua tranh mình làm ra cả! Cái cảnh tết đến, lái buôn các nơi về tranh nhau lấy hàng, thuyền đỗ nườm nượp bên sông, và từng bó, từng bó tranh sẽ theo sông nước tỏa đi khắp chợ cùng quê - cái cảnh ấy chỉ còn là trong tưởng tượng, và thỉnh thoảng ông già bà cả có kể cho con cháu nghe, thì cũng chẳng khác chi kể truyện cổ tích. Thế vào chỗ tranh Đông Hồ xưa, ở đồng bằng Bắc bộ hiện nay, khắp chợ cùng quê bày bán các loại tranh in, tranh phổ biến hiện đại, nhất là tranh Tàu. So với tranh làng tôi làm ra, thì các loại tranh ấy giấy trắng hơn, màu đẹp hơn, nhất là nhiều hình ảnh tân thời, chứ đâu quanh quẩn con lợn, con gà... thành thử giá có đắt hơn tí chút, người ta vẫn thích mua. Rút cục, nghề làm ăn ở cái làng nổi tiếng là có lịch có lề như làng tôi giờ teo tóp hẳn, chỉ còn một hai nhà kỳ cạch làm thứ hàng thửa, hàng kỹ cho khách Tây đến xem và bán cho họ theo giá hàng lưu niệm. Nhưng không phải như thế nghĩa là cả làng bó tay cam chịu, mà phần đông đã sớm tìm được chỗ để hướng sự khéo tay và cái gu tuyệt vời của mình trong mỹ thuật vào cuộc kiếm sống - ấy là làm hàng mã. Đại khái sản xuất đủ thứ, từ voi ngựa, xe máy, xe đạp, tivi, quần áo... tất cả trông cứ như thật, nhưng thực ra là làm bằng giấy, cốt để các nhà giàu chung quanh Hà Nội mỗi dịp giỗ tết, đốt cho người nhà của họ đang cư ngụ nơi âm phủ. Thuyền bè sông nước cũng không cơ động bằng chiếc xe đạp. Theo dọc sông Đuống, cả đàn bà con gái quê tôi cũng đạp xe nhoay nhoáy, mang hàng đi phục vụ bà con buôn bán ở Hà Nội và các tỉnh lân cận. Còn cái chuyện tranh gà, tranh chuột, mấy chục năm nay xếp xó, dân làng cũng không lấy thế làm chán nản, ai hỏi vẫn tự nhận là dân làng Hồ, vẫn tự hào về truyền thống làm tranh ngày xưa như thường. Chỉ có những lúc mệt mỏi quá trong cuộc kiếm sống - sau một chuyến chổng phao câu đạp xe giao hàng chẳng hạn - những người biết nhìn rộng ra chung quanh mới chép miệng: - Chả bù cho làng người ta cũng là di tích di sản mà chẳng phải đi đâu cả, cứ quanh quẩn đầu làng cuối làng vẫn cơm giò cơm chả. Quả có như thế! Các làng chuyên nghề làm ruộng tị với làng tôi, còn làng tôi thì lại tị với các làng bên huyện gần đấy, tuy cũng được mang danh là di sản, song dứt khoát không nổi tiếng bằng, ấy vậy mà dân sống mát mặt hơn hẳn. Nói nôm na là làng ấy có một ngôi đền, nếu không phải dâm từ thì cũng chỉ thờ một nhân vật loàng xoàng, và đứng về mặt kiến trúc, chẳng có gì đặc sắc. Có điều, sự đời bây giờ ăn ở cái tiếng: chỉ nhờ có cái tên gọi liên quan đến sự làm ăn mà cái đền giời ơi đất hỡi ấy tự nhiên người đến lễ bái nườm nượp. Mới đầu chỉ đông vào tuần rằm mùng một. Sau gần như ngày nào cũng có người đến lễ. Nhất là vào những tháng trước và sau Tết âm lịch người đông như hội, người chật như nêm, vào đền rồi, có khi đứng hàng tiếng đồng hồ hai tay mỏi rời với mâm lễ đang bưng, mà vẫn không lê nổi đôi chân đến bên bàn thờ. Những ai đi lễ mà lắm thế? Dân buôn, tất nhiên rồi. Nhưng thời buổi này, quốc doanh không chịu kém tư nhân về làm ăn, thì làm sao lại chịu kém tư nhân về lễ bái - nghe nói ở nhiều công ty, anh em xúm lại chuẩn bị vàng hương để "sếp" đánh xe đi làm lễ. Và thế là đền thiêng lại thêm thiêng và gần như cả làng bên ấy sống về cái di tích văn hóa có khả năng sinh lời đó. Đàn bà đi bán vàng hương, xôi bánh, hoa quả, các thứ hàng cúng và không quên những thứ làm no bụng người đi thờ cúng. Đàn ông đi trông xe, đi giữ trật tự, người nào có dáng nho nhã và khéo học lỏm một chút còn đi làm đơn, làm sớ. Việc cho trẻ con cũng không thiếu: Tan buổi học về - đây là nói những đứa chưa tiện bỏ học - chúng sấp ngửa chạy ra trước cửa đền. Đồ nghề chẳng cần gì, chỉ có cái miệng khéo nói, với lại đôi tay bưng bê chắc chắn, là tha hồ dắt khách, thu nhập đằng thằng bằng mấy lương các ông cán bộ huyện! So với người làng tôi, thì dân cái làng có đền thờ quý hóa ấy chẳng những thu nhập có phần hơn, mà lại được cái sướng là hành nghề tại chỗ, bám ngay vào di tích mà kiếm sống, chứ không phải chạy rông ra mãi Hà Nội, và các tỉnh bạn, bởi vậy người làng tôi - cái làng tranh nổi tiếng trên đã vào từ điển - mới suy bì tị nạnh: - Thế mới là di sản chứ! Câu nói buột ra tự nhiên song đằng sau đấy tôi đọc ra cả một quan niệm mà như tôi quan sát, nó đang ngự trị dài dài trong đầu óc không chỉ người dân làng tôi mà cả vùng tôi và nhiều vùng đất khác tôi từng có dịp ghé qua. Muốn có được định nghĩa rành rọt rằng di sản là thế này thế nọ, hãy đi tìm các sách nghiên cứu dày cộp, các loại bách khoa đứng tên toàn những giáo sư với tiến sĩ danh vang thiên hạ. Người thường chúng tôi không hiểu được cặn kẽ như vậy. Nhưng chỉ cần biết rằng người dân làng tôi vẫn thuộc vanh vách cái truyền thống làng tranh của mình, thì cũng không trách ai được: chúng tôi cũng thích những cái cao sang ấy lắm. Chỉ có điều, do sống giữa đời thường nên bên cạnh đấy, trong tâm trí chúng tôi không nguôi một nỗi mong muốn sâu xa: Cái gọi là di sản ấy phải nuôi sống được dân sở tại. Di sản không được phép không sinh lợi! Cái lý do khiến cho ở nơi này, di sản được chăm bẵm tươi tốt, nơi kia hoang vắng điêu tàn, rút cục là ở chỗ ấy. Khi một di sản đã sinh lợi, nếu nó không thiêng chúng tôi biết cách làm cho nó thiêng, không có lịch sử, chúng tôi sẽ làm ra lịch sử. Cả làng cả nước mà đã đồng tình thì đâu có khó!
 
NHÂN NÀO QUẢ ẤY




Đọc tiếp ...

27 thg 12, 2009

Trở lại với di sản , thành tựu và hạn chế


Bên lề một thế kỷ văn học
VAI TRÒ CỦA PHƯƠNG PHÁP MỚI
Ông cha ta ngày xưa không thiếu tinh thần tự hào về sự sáng tạo văn học và cũng đã bắt đầu làm các loại sách có tính chất sưu tầm nghiên cứu để hệ thống hoá di sản của tiền nhân ,tuy nhiên ở đây có hai điều phải gọi là hạn chế : 

Đọc tiếp ...

21 thg 12, 2009

Khôn lỏi- ranh vặt -tinh tướng


Một người đã sống qua ở Nhật cho biết người Nhật trong khi giao thiệp, nhất là trong khi làm kinh tế, cũng có nhiều quái chiêu không thể thương được. Đầu cơ,móc ngoặc, hối lộ, gọi chung là đi đường tắt...trò gì cũng có cả.

Đọc tiếp ...

14 thg 12, 2009

Bức tranh đô thị chưa định hình

THÓI XẤU THỊ DÂN VÀ VĂN MINH ĐÔ THỊ
Một người bạn nước ngoài nói với tôi: Lối sống của các ông qua cách đi đường có tính chất bạo lực sao ấy.


Nhà nghiên cứu văn hóa Vương Trí Nhàn: Tôi không phản đối việc người các nơi đổ về đô thị. Tôi chỉ phản đối việc mang cái xô bồ nhếch nhác về đây.
LTS: Đã gần hai năm TP.HCM thực hiện cuộc vận động xây dựng nếp sống văn minh đô thị. Tuy nhiên, nhiều ý kiến cho rằng kết quả còn rất hạn chế, chúng ta chưa có được những thị dân đúng nghĩa.

Đọc tiếp ...

12 thg 12, 2009

Tại sao gần như là vô phương cứu chữa


Một điều đáng mừng là thời gian gần đây có vẻ xã hội đã chấp nhận rằng ngành giáo dục của chúng ta bệnh đã quá nặng cần mang ra cho mọi người bàn bạc góp ý kiến , và nếu có ai hiến kế để chữa chạy thì càng tốt .Trước khi bốc thuốc , điều cần thiết đầu tiên vẫn là thấy rõ căn bệnh . Trong cuộc hội chẩn này , có thể nêu một số giả thiết để làm việc – dưới đây tôi xin phép được nêu giả thiết của tôi :

1/ Cũng như nhiều ngành khác , ngành giáo dục của ta được xây dựng ngoài những chuẩn mực chặt chẽ mà đáng lẽ phải được tôn trọng . Ta hay có lối chưa đủ điều kiện , nhưng thấy cần vẫn cứ làm . Ví dụ một trường đại học chỉ được thành lập khi có đủ cơ sở vật chất , cả cán bộ giảng dạy lẫn cán bộ quản lý . Những yêu cầu này ở nước nào người ta cũng tuân theo , chỉ có riêng ta thì không . Trên danh nghĩa cũng có những người gọi là giáo sư hay tiến sĩ đấy , nhưng đó là ta phong với nhau để làm việc , chứ thực tế chắc chắn là thấp hơn chuẩn mực rất nhiều , bởi vậy có mấy người được nước ngoài công nhận ( không phải là họ làm cao hoặc cốt gây khó khăn cho ta , mà thực tế không chấp nhận nổi ) .
Cố nhiên cái sự chưa đạt chuẩn mực này không chỉ đặc trưng cho cách tồn tại , cách vận hành riêng của các trường đại học mà là chung của các cấp học , và nó bao trùm trong mọi lĩnh vực , từ trường sở , sách giáo khoa , cách cho điểm , cách tổ chức thi cử , cho tới chất lượng dạy và học . Luôn luôn xảy ra tình trạng không đáp ứng đúng chuẩn mực cũng cố mà làm , giáo viên chưa đủ trình độ cũng cho dạy , học sinh không đủ trình độ cũng cho lên lớp , sinh viên ra trường không ai nhận cũng cứ xin thêm chỉ tiêu đào tạo . Trước mắt chúng ta là một cơ thể tiên thiên bất túc , lúc nào cũng ốm yếu quặt quẹo .

2/ Tên bệnh đã vậy , thế còn mức độ thì sao ? Chứng minh ra thì hơi dài dòng , song có thể tin là những thiếu sót mà gần đây , nhiều người đã nêu khi nói về giáo dục ở ta ( từ giảng dạy xa rời thực tế , tới học sinh hư hỏng , quay cóp lu bù , rồi nạn thày giáo lao vào kiếm sống , dạy thêm học thêm tràn lan , mua bán văn bằng trắng trợn …) tất cả đều có liên hệ tới bệnh thiếu chuẩn mực , do đó có thể nói bệnh gốc đã ăn vào lục phủ ngũ tạng và rất khó chữa . Để cùng xác định mức độ nghiêm trọng , xin có một chút liên hệ : đọc báo gần đây , thấy các cơ quan quản lý giao thông đề nghị mọi người hiến kế để có cách làm sao tai nạn giao thông có thể mỗi ngày mỗi giảm . Nhưng vấn đề là ở chỗ người ta phải dự tính điều này từ khoảng mười lăm hai mươi năm trước , khi số lượng các phương tiện còn tạm chấp nhận được . Chứ với mức độ xe máy như hiện nay, thì có tài thánh cũng không hạn chế nổi tai nạn . Bệnh nào cũng có cái ngưỡng của nó , quá ngưỡng thì chịu . Đối với giáo dục cũng vậy . Thêm một ví dụ nhỏ , chứng tỏ mọi sự chữa vặt là vô nghĩa : Dăm bảy năm nay , nhận thấy các trường công lập bị bao ràng buộc , nhiều người đã tính bàn nhau mở thêm các trường dân lập . Gia đình tôi cũng thử xem sao , cho con đi học dân lập , sau mới ngớ ra , nếp làm giáo dục ở ta mấy chục năm nay nó đã thế rồi , thì lúc ra tồn tại với danh nghĩa khác , người ta cũng cứ đường cũ mà đi. Các trường dân lập cũng có đủ bệnh như trường công lập nói chung . Thế thì còn có cách nào mà cựa bây giờ ?

3/ Khi không có những điều kiện cần và đủ mà bắt buộc phải tồn tại , tự bản thân cơ chế giáo dục phải có cách thích ứng , lâu dần nó tự ổn định trong tình trạng hiện thời và tự nhiên là trở nên trơ lì , không thể phấn đấu thành cái đáng ra nó phải thế , cũng tức là không thể trở lại chính mình nữa . Quán tính tự bảo vệ không cho phép người trong ngành thấy hết bệnh tật đang có trong cái môi trường người ta tồn tại . Thật vậy , một điều không ai nói ra nhưng ai cũng biết , lâu nay giáo dục đã là nơi sinh sống làm ăn của bao nhiêu con người . Nay giả thử có sự thay đổi thì những người đó đi đâu làm gì bây giờ ?! Không ai tự chặt chân mình , tự làm phiền mình trong công việc cả . Thành thử cứ với nhận thức như hiện nay , thì dù nhiệt tình đến đâu cũng chỉ có thể có những cải cách hời hợt chứ không thể có những thay đổi cơ bản .

4/ Mặt khác , không chỉ là bệnh riêng của ngành giáo dục , mà tình trạng bê bết khó khăn còn đang ngự trị trong nhiều lĩnh vực khác , bởi vậy những tác động từ bên ngoài tới giáo dục cũng là rất hạn chế . Ở nhiều cơ quan hiện có tình trạng ông thủ trưởng này làm ăn kém điều đi, đưa ông khác về , lại còn không bằng ông cũ . Thật khó kiếm người biết làm giáo dục , như đang không có người biết làm kinh tế , người biết làm du lịch , người biết bảo quản các di sản do ông cha để lại ...

5/ Nói vậy có phải là quá bi quan không ? Tôi cũng đủ lương tri để sau khi nảy ra những ý nghĩ như trên , loay hoay tìm cách tự bác bỏ , mà chưa bác bỏ nổi , vậy xin cứ ghi ra đây . Dẫu sao tôi vẫn tin ngoài con đường trở lại với chuẩn mực , thì không có cách gì để cứu vãn nền giáo dục hiện thời cả .
Cũng phải nói thêm sở dĩ chúng ta biết không đạt chuẩn mực vẫn cứ làm , lý do là vì muốn ai cũng được hưởng phúc lợi giáo dục , ngay trong hoàn cảnh xã hội chưa trưởng thành về kinh tế cũng cố phổ cập rộng rãi để lấy tiếng và để mọi người ai cũng có thể vừa lòng. Nay có lẽ đã đến lúc chúng ta phải lựa chọn : hoặc chất lượng giáo dục hoặc số lượng .Tức một việc đau xót có thể xảy ra , là phải tạm thời từ bỏ nguyên tắc phổ cập đó ,lùi một bước tiến ba bước , có nguồn nhân lực tốt để đóng góp cho xã hội rồi sẽ phổ cập sau . Giống như trong kiếm sống , phải có người giàu trước người giàu sau , thời gian trước mắt , trong giáo dục chúng ta chỉ có thể bảo đảm cho một số nhỏ thanh thiếu niên được học hành cẩn thận , còn đa số sẽ chỉ được trang bị một ít kiến thức cơ bản rồi lo học nghề , để ra làm thợ ... , có lẽ như thế sẽ hợp lý hơn chăng ? Còn trong tình trạng hiện thời , cố để mà phổ cập giáo dục là một việc quá sức , và thực tế là sẽ không thể có giáo dục với nghĩa đúng đắn của nó .

Đọc tiếp ...

7 thg 12, 2009

Di sản và phát triển


1. Sự tự phát hiện của di sản qua thời gian
Những năm đang còn chiến tranh, hay nói chung, khoảng từ 1986 về trước, mấy chữ di sản văn hoá đã hay được nhắc tới trong các chỉ thị nghị quyết, các văn bản chính trị và trên các phương tiện thông tin đại chúng. Lúc bấy giờ thuật ngữ này thường được hiểu theo nghĩa: một ít truyền thống của dân tộc, như tinh thần đấu tranh bất khuất, tinh thần đoàn kết, xả thân vì nghĩa lớn...
Gắn liền với mấy chữ di sản văn hoá người ta cũng đã nghĩ đến đền thờ vua Hùng, chùa Một Cột, chùa Yên Tử,... nhưng lúc bấy giờ các đơn vị vật chất này của di sản lại thường được hiểu một cách rất tượng trưng, chúng được nhắc tới không phải bởi chính giá trị của chúng mà vì những chùa, đền... ấy là biểu hiện cụ thể của những truyền thống tinh thần vừa nói ở trên. Thành thử, trên đại thể di sản lúc bấy giờ còn khá trừu tượng, tuy cũng là khá thuần nhất và nó lại luôn luôn được phủ lên một lớp sương huyền thoại xa xôi, bí ẩn.
Từ khoảng 1986 tới nay, cách hiểu về di sản của xã hội ta trở nên cụ thể hơn hẳn. Đi đâu cũng thấy đình chùa miếu mạo được sơn quét, trang hoàng tu bổ. Vào những ngày xuân, tiếng trống hội làng trở nên rộn rã khắp trên những vùng có truyền thống văn hiến. Ngày càng thêm có nhiều di sản lịch sử được công nhận. Ngoài ý nghĩa tượng trưng cho hồn thiêng của tổ quốc, di sản lúc này được xem đồng nghĩa với một thứ của cải vật chất lâu lâu bị bỏ quên, nay cần phải tận dụng. Nó có được cái công năng mà bấy lâu người ta không thể ngờ tới: nó có thể mang lại tiền của.
Có thể nói đây là một cách hiểu thông tục phổ biến hiện nay về di sản. Tuy cũng là một hiệu quả do tác động của công cuộc phát triển, song cách hiểu này chắc chắn có phần đơn sơ, nông nổi. Người ta không khỏi ngạc nhiên khi hàng ngày hàng giờ bắt gặp một quá trình mâu thuẫn:
Một mặt, việc khai thác di sản được triển khai đều khắp và rõ ràng là đang trở nên ồ ạt bừa bãi, do mang tính cách tuỳ tiện vụ lợi, làm mất giá trị khoa học đáng lẽ phải có (nhiều di tích được xếp hạng là do sửa chữa, thêm thắt, rồi xin xỏ, chạy chọt)
Mặt khác, thì hàng ngày hàng giờ thấy xảy ra tình trạng những di sản nổi tiếng, như Vịnh Hạ Long, tháp Chàm, chùa Tây Phương, chùa Trầm, tượng Tô Thị, khu kinh thành Huế...bị phá hoại: tượng bị ăn cắp; đá bị đem nung vôi; nhà cửa dột nát, hư hỏng. ấy là không kể đến bảy tám chục phần trăm di sản bị làm hỏng bằng cách biến thành những cơ sở để phô bày óc mê tín và trục lợi.
Sở dĩ quá trình song đôi vừa khai thác vừa phá hoại di sản này xảy ra đồng thời, bởi lẽ nhận thức về di sản hình thành tự phát, thiếu cơ sở khoa học, nhất là thiếu một chiều sâu cần thiết.
Đã đến lúc phải nói rõ: Di sản không chỉ là những của cải vật chất (có thể sinh lợi, như nguời ta đã nghĩ), mà còn là những của cải tinh thần, những thói quen những cách hiểu cơ bản của cộng đồng về xã hội nhân sinh, nó chi phối từng con người trong cuộc sống.
Và di sản không tồn tại ở dạng từng đơn vị riêng lẻ, không tách riêng vật chất tinh thần, mà là một hệ thống liên đới chằng chịt (Ví dụ, nếu người ta không hiểu chân giá trị của đình chùa về mặt văn hoá, mà chỉ a dua trong việc “yêu mến di sản” thì sẽ sẵn sàng làm bất cứ điều gì, thậm chí tô vẽ bịa đặt về đình chùa, tức là một cách làm phản văn hoá để kiếm lợi)
Dưới ánh sáng của phát triển, dẫu sao cũng phải thấy là nhận thức của chúng ta về di sản đã trở nên phong phú hơn, đa dạng hơn. Bản thân di sản giờ đây hiện ra như một khối cấu trúc phức tạp, có phần nổi lên trên, có phần tạo thành nền móng, song lại chìm, ẩn, không hiểu thấu ngay được.

2. Tác động có thể có của di sản với phát triển.
Dễ thấy nhất, là các di sản vật chất đang trở thành điểm thu hút khách du lịch trong và ngoài nước. Một số nghề thủ công cũ mất đi, nhưng lại có những nghề phát đạt lên (ví dụ, nghề làm đồ gỗ, nghề dệt lụa xuất khẩu v.v..) hứa hẹn mang lại cho công cuộc phát triển một sắc thái dân tộc không phải là không cần thiết, nhất là trong giao lưu kinh tế.
Nhưng sự thật đó chỉ là chuyện nhỏ so với những tác động lớn lao, mà di sản - di sản với nghĩa tinh thần, nghĩa văn hoá, thứ di sản vô hình - đang và sẽ tác động tới phát triển.
Các tài liệu nghiên cứu khoa học, cũng như các tờ báo phổ cập gần đây đã đưa nhiều tin liên quan đến một cuộc luận bàn: vai trò của Nho giáo đối với bước tiến vượt bậc của Nhật Bản, và mấy con rồng châu á, như Hàn Quốc, Đài Loan, Singapo. Dù nặng nhẹ mỗi người nhấn mạnh một mức độ khác nhau, song rõ ràng là tác động của Nho giáo đã được xem như một yếu tố phải tính toán đôi khi như là một “vũ khí” bí mật mà nhờ nó, công cuộc phát triển đã tạo ra được những kỳ tích.
Sau đây là hai ví dụ tương tự mà người ta có thể quan sát thấy, từ công cuộc phát triển ở Việt Nam.
1. Trong số 3, ra tháng 7/1994, tạp chí Xưa và nay của Hội Lịch sử Việt Nam vừa cho in bài viết của nhà nghiên cứu lão thành Nguyễn Văn Xuân, trong đó ông kể lại vụ tai tiếng lớn nhất của ngoại thương Việt Nam giữa thế kỷ XVIII. Phần chính của bài viết là những trang nhật ký của một người Pháp đến tím cách thông thương với xứ Đàng Trong của các chúa Nguyễn. Nhưng qua những trang nhật ký đó, người đọc cảm thấy nền văn hoá buôn bán, văn hoá ngoại thương của chúng ta, vào thời điểm giữa thế kỷ XVIII, là rất nhiều điều đáng chê trách: những nhà buôn giao thiệp với người Pháp và cả các quan chức trông nom nghề buôn nữa, thường kém cỏi, chậm chạp, không biết người biết của, lại rất vụ lợi chỉ chờ hở cơ là tham nhũng.
Chúng tôi không nghĩ rằng người Pháp kia đã nhìn ta sai lệch méo mó rồi lấy cớ để thúc đẩy việc quân Pháp đến xâm lược.
Ngược lại, bằng vào kinh nghiệm ngoại thương những năm gần đây, tức qua những tài liệu mà báo chí đã đưa, cũng như những câu chuyện xì xào của người trong giới, có thể dự đoán rằng nhận xét của nhà buôn Pháp kia là khá chính xác là đáng tin cậy. Cho đến hôm nay, những thói xấu ấy trong buôn bán vẫn còn được duy trì, và sở dĩ có nhiều chậm trễ trong lĩnh vực này, vì nó đã thành một “di sản”, một “truyền thống” khó gỡ.
2. Gần đây báo chí, nhất là báo Lao động bắt đầu đưa nhiều tin về các cuộc đình công xảy ra ở các xí nghiệp liên doanh với người nước ngoài. Lý do phần nhiều là chính đáng: đồng lương rẻ mạt, thái độ thiếu tôn trọng của các ông chủ với người làm công. Nhưng nên giải thích thêm cả bằng một nét tâm lý đã trở thành truyền thống: Theo nhà sử học Lê Thành Khôi, ở nước Việt Nam phong kiến trước kia, ruộng công khá nhiều. Mặc dù cũng phải đổ mồ hôi sôi nước mắt kiếm miếng ăn, nhưng người nông dân không cảm thấy mình là nô lệ cho kẻ khác. ý thức tự trọng của họ khá cao. Đấy là một yếu tố phải tính tới trong đời sống tinh thần của người Việt
Từ hai ví dụ trên, có thể thấy nay là lúc di sản văn hoá đang tác động toàn diện tới đời sống xã hội hiện đại. Không phải ngẫu nhiên mà chính ở những nước đang phát triển - nghĩa là những nước theo cách hiểu thông thường, phải chú ý trước tiên tới kinh tế như nước ta - thì văn hoá ngày càng được nhắc nhở một cách khẩn thiết.
Các nhà vạch chính sách tìm thấy ở nó yếu tố duy trì sự nhất trí của cộng đồng, bất chấp mọi biến chuyển sẽ tới.
Các chuyên viên kỹ thuật nhìn thấy ở nó những đặc điểm chuyên biệt của thực tại mà mình phải tìm cách tác động.
Các tầng lớp trong xã hội tìm thấy ở nó một điểm tựa: mình đã là một thực thể có bản sắc riêng, trước khi phát triển và mình sẽ vẫn là mình trước những ảnh hưởng xa lạ.
Tóm lại, văn hoá trở thành một yếu tố không trực tiếp, nhưng lại luôn luôn có mặt, và chỉ cần người ta không chú ý tới nó, là sẽ có dịp biết ngay tầm quan trọng mà nó vốn có. Khi kiểm tra đánh giá lại sự thất bại của một số dự án - kể cả những dự án thông minh nhất - nói chung người ta có xu hướng kết luận đó là do không chú ý đầy đủ tới nhân tố con người, nhân tố văn hoá.
Trên đường tìm tới một cách hiểu đầy đủ và chính xác hơn về di sản, cũng cần nhấn mạnh tới một điểm nữa mà chỉ dưới ánh sáng của phát triển người ta mới thấy rõ: Đó là trong di sản không chỉ có tinh hoa mà còn có cặn bã . Đối với bất cứ di sản văn hoá nào cũng vậy, mà đối với di sản văn hoá ở Việt Nam cũng vậy. Lâu nay, nói tới tác động của truyền thống, của di sản tới đời sống hiện đại, hầu như ở ta chỉ nhấn mạnh chiều thuận, tức di sản là một vũ khí tinh thần quý báu, một nguồn động viên lớn lao kiểu “Bốn mươi thế kỷ cùng ra trận”. Nay người ta bắt đầu thấy bên cạnh chiều thuận di sản còn có thể tác động tới xã hội theo chiều nghịch. Mà đây là nói về hướng của véc-tơ. Còn lực thì về chiều nào, cũng đều có thể rất lớn!
3. Tiến tới một cách hiểu khoa học về di sản để phục vụ cho công cuộc phát triển.
Khi bàn về chiến lược phát triển ở ta thường có xu hướng nhấn mạnh những yếu kém về cơ sở vật chất, nhất là thiếu vốn, thiếu tiền, thiếu nguyên vật liệu. Rất ít khi thấy mọi người đả động tới các yếu tố tinh thần. Vì chúng ta còn ít kinh nghiệm trong một lĩnh vực quá mới mẻ, cái đó cũng có một phần. Nhưng lý do sâu xa hơn có lẽ là đất nước Việt Nam bước vào phát triển trong điều kiện vừa trải qua chiến thắng lẫy lừng trong chiến tranh. Trong cuộc chiến tranh ấy, ta cũng nhiều phần thua kém về vật chất, và chỉ nhờ động viên được một sức mạnh tinh thần hùng hậu, mà vượt lên được. Vậy thì nay là lúc tinh thần vẫn đang sung mãn, hình như ở đây không có gì là đáng lo ngại - nhiều người đã nghĩ như thế.
Sự thực thì sao? Sau một thời gian gọi là mở cửa, xã hội ta đã bộc lộ những yếu kém không phải chỉ về vật chất, mà là một cái gì hoàn toàn khác:
- Thiếu người biết quản lý
- Luật pháp hỗn loạn, hiểu như thế nào cũng được.
- Kỷ cương không nghiêm. Trên nói một đằng, dưới làm một nẻo. Các địa phương bộc lộ trăm nghìn bộ mặt kỳ cục.
Đó là những yếu kém về mặt tinh thần. Sở dĩ có những yếu kém đó, một phần là do chiến tranh hơn ba chục năm kéo dài, tạo cho con người nhiều thói quen xấu. Nhà nước pháp quyền chưa được xây dựng, trong xã hội có lúc có tình trạng mạnh ai nấy làm, tự phát tuỳ tiện, chưa tạo ra hình ảnh xã hội như một thực thể duy nhất.
Tuy nhiên, sẽ là không đủ, nếu chỉ nhìn thấy lý do yếu kém ở chiến tranh hoặc trên một số phương diện, ở hệ tư tưởng.
Nhìn cho thấu đáo, thật ra những yếu tố tinh thần cần được đặt lại ở ta có rất nhiều.
- Lẽ sống của một con người, điều đáng tự hào của một đất nước là gì?
- Đâu là mối liên quan giữa ta và người, giữa cá nhân này với cá nhân khác, cộng đồng này với cộng đồng khác?
- Vai trò của hoạt động kinh tế và tác động của đồng tiền? Có phải đồng tiền “rất nhiều mặt tiêu cực đáng lên án” như trong sách giáo khoa ở ta vẫn giảng.
- ý nghĩa của tài năng, cách thức chăm sóc tài năng v.v... Mối quan hệ giữa những phần tử ưu tú và đám đông, vẫn được gọi là quần chúng. Người ta có thể vừa tự do lại vừa bình đẳng?
Bởi phát triển phải tính đến yếu tố con người nên những cách sống cách nghĩ loại đó phải được kiểm soát và phải trở nên thích hợp với yêu cầu mới của hoàn cảnh. Song đó là một việc rất khó thực hiện. Nhìn kỹ hoá ra, những cách sống cách nghĩ loại đó không gì khác chính là có liên quan đến thứ di sản tinh thần mà chúng ta thừa hưởng từ các thế hệ trước. Nó “điều kiện hoá” cách suy nghĩ của chúng ta, khiến con người chỉ có thể thế này mà không thể thế khác.
Muốn được trở nên hợp lý, khoa học, có được tác dụng với thực tế đời sống, một cách hiểu di sản lúc này phải bao gồm:
- Miêu tả được bộ mặt đa dạng của toàn bộ di sản, thấy được cả mặt mạnh mặt yếu của nó.
- Cắt nghĩa được quá trình hình thành của di sản, mối quan hệ của nó với lịch sử.
- Tìm ra được cách tác động tới di sản đó. Như trong hoá học người ta thường nói “chất nổ rất dễ tính với người hiểu những đặc điểm hoá học của nó”, di sản cũng có thể điều khiển được, nếu người ta hiểu nó một cách thấu đáo.
4. Những thuận lợi của việc nghiên cứu về di sản hôm nay
Nghiên cứu bất kỳ đối tượng nào cũng cần có sự so sánh đối chiếu, giữa đối tượng đó với các đối tượng khác. Di sản văn hoá của một dân tộc là một thực thể quá lớn, việc nghiên cứu nó chạm tới rất nhiều khía cạnh tế nhị của tình cảm dân tộc, nhưng không phải vì thế, mà không cần có đối chiếu so sánh: Làm sao mà người ta có thể hiểu được văn hoá phương Đông, nếu như không hiểu văn hoá phương Tây? Cũng như làm sao nhận chân bản chất văn hoá Việt Nam, nếu như không có ý niệm đúng đắn về những nền văn hoá từng có nhiều ảnh hưởng đến nó, như văn hoá Trung hoa, văn hoá ấn Độ, văn hoá Pháp; những nền văn hoá gần kề, như văn hoá các nước Đông Nam á, sau hết là những nền văn hoá tuy hơi xa nhưng không khỏi có những nét tương tự, như văn hoá Nhật Bản, hoặc nói chung là các nền văn hoá á-Phi- Mỹ la tinh?
Chính ở chỗ này, chúng ta nhận ra những hạn chế tất yếu của công việc đã làm trong những năm chiến tranh. Vấn đề không phải chỉ lúc ấy, điều kiện vật chất thiếu thốn mà điều quan trọng là lúc ấy mối quan hệ của đất nước ta với các nuớc ngoài là không bình thường. Kẻ khác - một ý niệm rất quan tọng trong văn hoá - bị hiểu một cách lệch lạc, nhiều lúc chỉ còn là đồng nhất với những thế lực liên quan đến nền độc lập, tức là hoặc là đồng minh hoặc là kẻ thù của ta. Và khoa học gì thì khoa học lúc ấy lương tâm bất cứ ai cũng không cho phép có những nhận thức tình cảm không có lợi cho sự nghiệp chiến đấu.
Đến nay, những hạn chế vừa nói đã được dỡ bỏ. Công cuộc phát triển là một quá trình hợp quy luật của lịch sử. Vì thế, dưới ánh sáng của phát triển, chắc chắn di sản sẽ hiện ra đầy đủ hơn, đa dạng hơn (không thuần nhất một chiều như những năm chiến tranh). Nhưng diễn biến trong phát triển xảy ra hàng ngày, nói đòi hỏi được giải thích cắt nghĩa từ nhiều phía, trong đó có di sản. Vì thế, cách hiểu về di sản của chúng ta được kiểm tra, được thẩm định, sai đúng rõ rệt. Cũng không kém phần quan trọng là đặc điểm sau đây của thời kỳ phát triển: Kẻ khác bây giờ không phải chỉ là kẻ thù (hoặc đồng minh), mà là những đối tác có tính trung hoà. Cả chủ thể là ta lẫn các đối tác là những nước đến buôn bán với ta đều có nhu cầu hiểu nhau, hiểu đến tận chân tơ kẽ tóc về nhau. Giao lưu kinh tế, do đó, bao giờ cũng kèm theo giao lưu văn hoá. Những tài liệu nghiên cứu về văn hoá các nước trong mấy năm phát triển, được dịch ra, có thể là không thấm thía gì với tài liệu kinh tế, nhưng cũng đã là nhiều hơn hẳn, so với tài liệu được in ra trong những năm chiến tranh. Qua đối chiếu với các nền văn hoá khác, dĩ nhiên người Việt có dịp hiểu về văn hoá chính mình hơn. Và nếu quá trình này tiếp diễn đều đặn thì việc nghiên cứu di sản văn hoá nhất định sẽ được đẩy tới.
Nghiên cứu về Nguyễn Trường Tộ và các bản điều trần của ông, có người đã nói rằng đấy là lần đầu tiên, có một người Việt Nam nhìn lịch sử Việt Nam trong cái mạch chung của lịch sử thế giới.
Đứng về một phương diện nào đó mà xét, thì cái cách nghiên cứu di sản văn hoá mà công cuộc phát triển hiện nay tạo điều kiện và đòi hỏi, cũng là cách nhìn văn hoá Việt Nam bằng những tiêu chuẩn chung, và đặt văn hoá Việt Nam vào cái mạch chung của văn hoá thế giới. Tự nhận thức là cả một công việc khó khăn: nói lại những thành tựu của cha ông vui vẻ phấn khởi bao nhiêu thì khi cần phân tích những chỗ yếu kém - nhất là những yếu kém mà ai cũng biết là đã sống với bao thế hệ cha ông, đã trường tồn trong lịch sử - người ta dễ ngập ngừng ngần ngại bấy nhiêu. Song đã đến lúc phải làm đầy đủ cả hai việc đó. Để di sản có thể có những đóng góp tích cực cho phát triển. Không có sự chọn lựa nào khác./.

Những nhận xét của Lê Thành Khôi là do giáo sư Hòang Ngọc Hiến cung cấp। Nhân đây xin được cảm ơn।
Chữ cặn bã là mượn từ cuốn Đại cương lịch sử văn hoá Trung quốc, NXB Văn hoá thông tin, 1993, tr. 20





Đọc tiếp ...

3 thg 12, 2009

Thiếu một thói quen suy nghĩ chính xác

Nguyễn Công Hoan trong hồi ký Đời viết văn của tôi (1971) có nhiều đoạn tự thú khá trắng trợn. Đại khái ông kể là lúc ra học tiểu học ở Hà Nội cần giấy khai sinh,nhưng ngại về làng bên Bắc Ninh làm tận gốc, liền nhờ ông chủ nhà trọ làm hộ. Ông này bảo hai người bạn làm chứng, rồi kiếm cành cau với vài hào bạc đưa lý trưởng Hàng Trống. Vài ngày sau, ông Kép Tư Bền trong văn chương tương lai có ngay tấm giấy khai sinh và nghiễm nhiên thành người sinh ở Hà Nội.
Câu chuyện được kể ra chỉ cốt để khoe một sự khinh bạc bất cần đời, không quan tâm tới các con số, không muốn và không có nhu cầu hiểu biết về chính mình cũng như hoàn cảnh quanh mình. Song từ đây, người ta bắt gặp mầm mống của nhiều thói xấu khác như kiểu tư duy chín bỏ làm mười, bất chấp chuẩn mực, không coi cái gì là thiêng liêng, dối trá tùy tiện, xem thường pháp luật.
Ngày nay chúng ta còn bắt gặp nó trong những tin tức đầy rẫy trên báo chí. Nhiều làng làm giả hồ sơ thần tích để xin cấp bằng di sản văn hóa. Nhiều chi tiết ở các vụ án có dấu hiệu bị làm lệch. Hết thể thao khai man tuổi đấu thủ lại đến bóng đá trọng tài bắt thiên vị.Sự cẩu thả lúc này đã biến thành gian manh càn rỡ chà đạp lên dư luận xã hội.
Tình trạng không có cái gì chính xác cũng được nhà nghiên cứu người Pháp Pierre Gourou (1900—1999) miêu tả khá kỹ khi đi sâu vào nhiều làng mạc lấy tài liệu cho cuốn Người nông dân châu thổ Bắc Kỳ (viết năm 1936 và bản dịch ra tiếng Việt in ở Hà Nội 2003).Theo cách miêu tả của Gou rou, ở nhiều tỉnh đồng bằng sông Hồng“ chỉ cần đưa một ít tiền cho chức dịch là có thể nhận được một bản khai sinh hoàn toàn theo ý thích ,trong đó ngày tháng năm sinh được ghi phù hợp với nguyện vọng của người xin“. Sự phổ biến của các hiện tượng tương tự buộc người ta phải kết luận rằng đây là một biểu hiện của trình độ tư duy và một quan niệm sống. Còn hai tác giả người Pháp khác là Pierre Huard và Maurice Durand trong Hiểu biết về Việt Nam (1954) thì cắt nghĩa sở dĩ có hiện tượng này,một phần vì xã hội Việt xưa chưa biết tới đồng hồ và khái niệm về thời gian “chỉ được kinh qua chứ không được đo “.Sự lẫn lộn giữa lịch sử và huyền thoại trở thành đương nhiên. Và sự tồn tại dai dẳng của kiểu tư duy tiền Descartes thường thấy ở phương Đông có thêm một ví dụ sống động.
Nên biết rằng ngay các vua chúa cũng không bao giờ biết cả nước có bao nhiêu dân, quan chức các cấp không cần biết một làng mà họ thu thuế có bao nhiêu xuất đinh, còn các xã thì bao giờ cũng cố giấu bớt số người phải nộp thuế để trốn thuế được chừng nào hay chừng ấy. Lúc này thói quen đùa bỡn đã đóng vai một nhân tố cản trở sự trưởng thành của xã hội.
Một vài hiện tượng khác được Pierre Gourou ghi nhận cũng khá đắt giá. Ông bảo đến một làng khi cần hỏi về lai lịch của làng, người ta chỉ nhận được những câu trả lời rất mơ hồ; nếu như muốn có một sự chính xác thì câu sau thường lại mâu thuẫn với câu trước. Gần như không làng nào có ý niệm chắc chắn về sự thành lập của làng mình, đi đâu cũng chỉ thấy người ta thề sống thề chết là làng mình có từ cổ xưa, đâu như từ thời Hùng Vương, tức là đã có từ hơn bốn ngàn năm trước. Sự thiếu hiểu biết và nói chung là thiếu ý niệm chính xác về thời gian không ngăn cản người ta sử dụng độ lùi của thời gian để khoe mẽ. Gourou chỉ hết ngạc nhiên khi biết rằng một dòng họ có vài ba người thăng quan tiến chức thì thường thuê ngay một nhà nho có tên tuổi viết lại gia phả nhà mình, mà nhà nho ấy thì nghĩ rằng ông ta có nghĩa vụ thêm thắt vào cuốn gia phả ấy cho nó đẹp thêm, và không ai thấy phải thắc mắc về hành động đó cả. Thói quen thiếu chính xác trong suy nghĩ đến đây tìm được biến tướng mới là tô vẽ lịch sử, viết lại lịch sử thế nào cũng xong, miễn là đề cao được mình, do đó có lợi.
TT&VH 3-7-07

Đọc tiếp ...

28 thg 11, 2009

Nói dai nói dài nói dại

TT - Đã bao giờ bạn thử tự tách mình ra, quan sát cách trò chuyện giữa bạn với người khác? Đã bao giờ bạn thử suy nghĩ và đánh giá cách mình vận dụng ngôn ngữ?

Tôi đã làm thử vài lần việc này và chợt nhận ra chưa thể yên tâm với cách nói năng hằng ngày của mình được.

Trong giao tiếp, tôi thường nói nhiều, đáng một câu thì nói hai ba câu, nói đi nói lại bởi không kịp nghĩ, mà cũng bởi nỗi ám ảnh chỉ sợ người trò chuyện với mình không hiểu mình.

Tôi đã thường xuyên nói khá to và lầm tưởng rằng có thể dùng cách đó để chinh phục đối tượng. Ở dạng tự phát của nó, ngôn ngữ còn quá nhiều dư thừa, làm mất của bản thân bao nhiêu thì giờ và làm hoang phí cả thì giờ của người khác.

May mà tôi không đơn độc. Xung quanh tôi, trong gia đình và chỗ các đồng nghiệp, với nhiều phong cách, lối thể hiện khác nhau, số người nói dai nói dài nói dại không phải là ít.

Văn hóa thường chỉ được hiểu là cái hay, cái đẹp. Nhưng văn hóa còn có một nghĩa nữa là đã làm cái gì thì làm với tất cả ý thức của mình, làm thật kỹ lưỡng, luôn rút kinh nghiệm, nói chung là luôn suy nghĩ để làm ngày một tốt hơn.

Theo nghĩa này, cách cư xử cần thiết của một cộng đồng đối với ngôn ngữ của mình là phải hiểu biết nó, tìm thấy ở nó một sự thiêng liêng, làm cho nó thích ứng với những đòi hỏi của phát triển. Đó chính là cái ta đang thiếu.

Thói quen cẩu thả, luộm thuộm chỉ là một dạng dễ thấy của thiếu văn hóa ngôn ngữ. Ngoài ra, nó - sự thiếu văn hóa ấy - còn trăm ngàn biểu hiện khác.

Không thiếu gì người lấy cớ giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt tự thu mình lại, chỉ biết sử dụng một thứ ngôn ngữ dạy đời khô khan với những công thức nhàm chán. Bảo rằng trong tay họ tiếng Việt cùn mòn xơ xác đi cũng không phải oan.

Ngược lại thì có lối nói khinh thường ngôn ngữ, đùa bỡn tùy tiện chêm vào nhiều thứ tiếng lóng đường phố, tự nhủ rằng như thế là làm cho nó thêm sinh động, nhưng thực tế là làm cho nó trở nên tầm thường, nhếch nhác đi.

Quá tự tin, tự hào rằng mình hiểu tiếng Việt, không thiếu gì người nói năng văng mạng, trong khi đó không bao giờ tự nghiền ngẫm về nghĩa của một từ, về khả năng diễn đạt một ý theo những cách khác nhau, sẵn sàng bịa ra những từ lạ, những từ ngữ và cách nói cóp nhặt từ nước ngoài về cốt để lên mặt là người hiện đại.

Giống như giao thông, tiếng nói vốn có chức năng một công cụ giao tiếp thiết yếu, một năng lượng kết dính xã hội. Khi đánh giá về những ách tắc giao thông hiện nay, người ta nói rằng hằng năm nó làm hại cho xã hội tới cả ngàn tỉ đồng. Tôi muốn đề nghị một cách nghĩ tương tự với hệ thống ngôn ngữ. Điều có thể chắc chắn là nó đang níu bước chúng ta trên đường phát triển.

Giống như môi trường, nó đang bị làm hỏng mà ta hồn nhiên không biết.

tuoitre online

thứ Bảy, 28/11/2009

Đọc tiếp ...

27 thg 11, 2009

Nước tôi dân tôi 2009

Quý quốc chớ lo không có ngày độc lập, mà chỉ nên lo quốc dân không có đủ tư cách độc lập. Thực lực của quý quốc là dân trí dân khí và nhân tài
Lương Khải Siêu khuyên Phan Bội Châu

                  NƯỚC TÔI DÂN TÔI
        nhật ký xã hội  Từ 9-08 tới 7-09



Đọc tiếp ...

26 thg 11, 2009

TÔ HOÀI -nhìn từ một khoảng cách gần

*Những suy nghĩ về tác giả và tác phẩm
*Những cuộc trò chuyện với nhà văn
*Tô Hoài nói về nghề và nói về người khác
*Người khác nói về Tô Hoài

Đọc tiếp ...

22 thg 11, 2009

Đương nhân bất nhượng ư sư !

(TBKTSG) - Luận ngữ là cuốn sách số một, “sách cái” của đạo Nho. Trong đoạn 35 của chương Vệ Linh Công, học trò từng ghi lại một lời dạy của Khổng Tử: Đương nhân bất nhượng ư sư (làm điều nhân thì dẫu thầy mình, mình cũng không nhường).

Đạo Nho thường được miêu tả là hay đưa ra những lễ nghi nghiêm khắc, những ràng buộc tuyệt đối. Sư - thầy dạy học - là một trong ba ngôi bề trên (quân sư phụ) mà người ta phải phục tùng vô điều kiện. Vậy mà ở đây, Khổng Tử lại giả định cho người ta một khả năng “nổi loạn” với nghĩa có những việc không nhường thầy. Tại sao vậy?

Để hiểu điều này, trước tiên cần nói qua về khái niệm nhân (không phải chữ nhân là người mà chữ nhân này trong ký tự gồm chữ nhân đứng và chữ nhị, để chỉ quan hệ hai người, và mở rộng là quan hệ giữa người với người nói chung).

Thông thường ở ta, các bậc trí giả chỉ xem nhân như nhân từ nhân ái, tức yêu người thương người. Còn theo cách giải thích của các nhà nghiên cứu Nho giáo Trung Quốc hiện nay, nhân trong câu trên nghĩa là “cái đạo lý khiến cho con người trở thành người”. (Nhà nghiên cứu Nguyễn Hiến Lê khi dịch Luận ngữ đã chú thích “nhân là điều ai cũng nên làm, hết sức mà làm”, tức những việc lớn ở đời, cũng đã khá gần với cách hiểu hiện đại nói trên).

Nhưng hãy trở lại với cái ý tổng quát trong câu Đương nhân bất nhượng ư sư. Ở đây có ẩn một quan niệm về giáo dục cũng như về lễ nghĩa. Tự nó giáo dục không phải là mục đích.

Và những khái niệm như thầy trò không phải là những vị thế xã hội ép chặt người ta một chỗ, cũng như hiểu biết không phải là những giới hạn không thể vượt qua. Nay là thời mọi chuyện chỉ nên được xem như có ý nghĩa tương đối. Ngoài trời lại có trời.

Tôi không khỏi liên hệ tới hoàn cảnh Việt Nam. Được tiếng là theo Nho giáo, nhưng một quan niệm về chữ nhân như trên với ta không được phổ biến.

Khi bàn về giáo dục và ông thầy, câu đầu tiên mà người ta nhắc nhau là Nhất tự vi sư, bán tự vi sư. Đằng sau nghĩa đen “nửa chữ cũng là thầy”, người nói ngầm đe người nghe rằng ở đây có những giới hạn và giới hạn này là tuyệt đối. Tôi đã là thầy anh một lần thì mãi mãi là thầy anh, không bao giờ anh vượt được tôi cả. Rộng ra mà nói, phải biết yên phận trong những gì quá khứ đã vất vả chiếm lĩnh. Và sẽ vĩnh viễn là cái trật tự đã hình thành, người đi sau cứ phải theo đó mà đi, đừng tính chuyện làm khác.

Từ góc độ của một người từng đi học và khi ra đời sống với những người làm nghề chữ nghĩa, tôi đọc được ở đây cái lời ngầm như vậy. Phải nói thẳng rằng đây là một quan niệm cổ lỗ, nó chỉ có ý nghĩa vụn vặt. Có thể nó cần thiết cho những học trò lười biếng ngỗ ngược. Thế nhưng đối với lớp hậu sinh có chí khí, có nghị lực thì đó là cả một bước ngăn trở.

Điều đáng nói là cái tinh thần nệ cổ này, từ ngành giáo dục đang trở thành một kiểu tư duy của người mình, một nguyên lý chi phối cả xã hội. Người ta viện dẫn nó để bằng lòng với những trì trệ kéo dài. Nhân danh lễ nghĩa, người ta hạn chế tính tích cực hoạt động của lớp trẻ. Đáng lẽ phải đào tạo cho được một lớp trẻ ngày một khá hơn - con hơn cha là nhà có phúc - thì người ta lấy lớp người đi trước ra làm chân trời của họ. Đáng lẽ phải lo trung thành với tương lai thì người ta chỉ biết trung thành thụ động với quá khứ.

Riêng về giáo dục, có thể hiểu được điều này nếu nhìn thẳng vào thực trạng non kém của ngành suốt thời trung đại và còn kéo đến tận ngày nay. Phan Kế Bính trong Việt Nam phong tục (1915) đã nói tới tình trạng “mấy ông đồ quèn học hành chưa hiểu vỡ mạch sách, văn chương chưa thuộc đủ lề lối, mà đã đi về các vùng quê tìm nơi thiết trường, gõ đầu năm ba đứa trẻ để hộ khẩu” (từ cổ có nghĩa kiếm sống). Đám thầy này rất hay vòi vĩnh “nào khi nhà thầy có giỗ, nào khi thầy lấy vợ” việc gì cũng lôi đồng môn (tức đám phụ huynh) ra mà bắt gánh vác.

Đã có tình trạng ăn bám (được Phan Kế Bính gọi là cái mọt của thiên hạ), thì tự nhiên có sự huênh hoang lên mặt. Người ta thích nhắc đi nhắc lại rằng mình là khuôn vàng thước ngọc. Chữ lễ theo nghĩa tốt đẹp của đạo Nho bị tầm thường hóa, biến thành sợi dây ràng buộc và che giấu cho sự trì trệ.

Một nền giáo dục tốt đẹp thường có những ông thầy lớn, niềm tự hào chủ yếu của họ là đào tạo được những học trò tài giỏi hơn mình. Chính là ở chỗ vượt thầy mà người đi sau thể hiện sự tôn trọng cao nhất đối với thầy, và tiến bộ xã hội nhờ đó mà được đẩy tới. Nhưng ở ta, khi vào dịp thân tình, tôi hỏi một vài giáo sư đầu ngành khoa học xã hội rằng ông có đào tạo được người học trò nào hơn mình không thì các ông đều lúng túng.

Thông thường các ông cho rằng đòi hỏi như thế là quá cao, trước mắt phải chấp nhận hoàn cảnh Việt Nam đã. Câu chuyện khi tới chỗ ấy tôi đành lảng và lạy trời tha lỗi, mạo muội đoán thêm rằng trong thâm tâm, hình như vấn đề này không có trong đầu óc các vị nữa.
Thứ Bảy, 21/11/2009
Saigon Times Online

Đọc tiếp ...

21 thg 11, 2009

Tốt đấy , mà xấu ngay được đấy

Không ở đâu, chất sang trọng cao quý của người Việt được trình ra như trong Vang bóng một thời của Nguyễn Tuân (1940). Bằng một giọng điệu từ tốn chậm rải, tác giả như muốn vẽ ra một hình ảnh mỗi cá nhân trong thế ổn định và chất lượng sống thì đã ngưng kết lại trong thời gian. Người ta có một đời sống tinh thần cao cả thâm nghiêm. Người ta biết vượt lên trên cái tầm thường hàng ngày để theo đuổi những giá trị trường tồn. Và người ta có một mỹ cảm tinh tế thanh cao.

Đọc tiếp ...

14 thg 11, 2009

.Ngày mỗi phụ thuộc?

Không cần là một chuyên gia kinh tế, nhiều người chúng ta cũng biết rằng nền sản xuất và buôn bán của ta phụ thuộc nhiều vào việc nhập khẩu hàng nước ngoài. Không chỉ dầu xăng thép phân bón thuốc trừ sâu thuốc chữa bệnh.. mà cả nguyên liệu chế biến thức ăn cho gia súc ta cũng phải đi mua. Thời buổi thế giới biến động, nền kinh tế mình như cái phao, biển động nổi gió một tí là dập dềnh theo, thiên hạ vừa hắt hơi một cái là mình đã nước mắt nước mũi giàn dụa.
Nhưng hôm nay tôi muốn nói một khía cạnh khác của sự phụ thuộc. Giống như một căn bệnh nhẹ, nó có vẻ không mấy đáng ghét, nhưng suy cho cùng vẫn bòn rút sức lực của ta mà ta không biết, lại còn đua nhau vươn cổ cho nó chém nữa.
Đó là sự phụ thuộc trong sinh hoạt.
Từ lâu dân Hà Nội đã đồn nhau là mấy khách sạn lớn nhất ở đây thường dùng rau và thịt chuyển từ nước ngoài về, chứ không dùng đồ mua từ các chợ quanh phố như dân bản địa.
Mươi năm trước, nghe những chuyện đó, lập tức thấy sao mà họ cầu kỳ và có phần rởm nữa. Sống ở đây mà tách ra như trên một hòn đảo, sao họ lạ vậy ?
Ai ngờ cái nếp sống đó giờ đây lan ra trong nhiều tầng lớp dân thường, nhất là sau các đợt phát hiện rau quả có phun hóa chất, còn các loại dịch bệnh trên gia súc gia cầm thì hoành hành, cứ chấm dứt được ít lâu lại bùng phát trở lại.
Nếu tôi không nhầm thì trong những mặt hàng giảm thuế để tránh lạm phát mới ban hành gần đây, có cả thịt lợn.
Ở đây tôi không dừng lại ở khía cạnh đạo lý của vấn đề mà chỉ vấn vương ở chỗ là hình như chính chúng ta đang không nuôi chúng ta bằng các thứ thổ sản của ông cha ; không xài thứ hàng mà chính đồng bào trong nước chúng ta làm ra, mà toàn dùng hàng ngoại.
Tại sao tình trạng này ngày một phát triển ? Nghĩ tận căn nguyên thấy có hai lý do. Một là hàng ngoại rẻ và tốt. Thứ hai là nhiều khi hàng ngoại đáp ứng được cái nhu cầu sát sườn của mình mà hàng nội không đáp ứng nổi.
Liên quan tới lý do thứ nhất, có một ví dụ tôi nghe từ mấy năm trước thấy rất có ý nghĩa. Là ngay ở các thành phố lớn như TP Hồ Chí Minh hay Cần Thơ, nhiều người dân đang thích dùng gạo chuyển từ Thái Lan sang. Trời ! Giá vài chục năm trước, nghe ai nói thế chúng ta sẽ bảo là chuyện bịa. Làm gì lại ra nông nỗi như thế. Từ Thái sang quá diệu vợi, còn công tàu bè chuyên chở công bốc vác, sao mà rẻ được?! Mà làm gì có chuyện gạo họ ngon hơn, hợp với cái hương vị nồi cơm mà mỗi người chúng mình được thấm từ hồi còn bú mẹ! Hóa ra thời thế thay đổi, việc không ai tưởng là có, nay đều có cả.
Liên quan tới ưu thế của hàng ngoại trong việc đón đường và nắm bắt nhu cầu, sau đây là câu chuyện tôi nghe từ miệng mấy bà bán hàng lặt vặt ở phố chợ Hà Nội ( tôi cố ý tránh chữ phố cổ mà thấy gọi là phố chợ có lẽ hợp hơn). Từ lâu người Hà Nội có thói quen là nếu chiến thắng trong các cuộc đua tranh trong thể thao là đổ ra đường ăn mừng. Lúc đó người ta thích mua cờ và các băng khẩu hiệu để trương lên, giá đắt cũng mua. Một số nhà sản xuất VN cũng biết điều đó, nhưng vốn mỏng không làm được bao nhiêu. Khôn ngoan và biết tổ chức công việc hơn là các nhà sản xuất từ bên kia biên giới. Họ nắm ngay lấy khoảng trống đó. Mỗi lần dân thủ đô có nhu cầu là hàng từ biên giới phía bắc tràn về. Rút cục dân buôn mình chỉ thành trung gian bán lẻ cho đồng bào mình thứ hàng mà họ sản xuất.
Không chỉ trong chuyện băng cờ khẩu hiệu mà nhiều mặt hàng khác cũng có tình trạng tương tự. Theo tôi hiểu, đây là cả một xu hướng mà mỗi ngày chúng ta cảm thấy rõ rệt hơn. Mọi dòng nước ngược phản công lại cũng có nhưng không thấm thía gì cả.
Trong Nỗi lòng ai tỏ của Nguyễn Công Hoan, nhân vật chính là một cô gái tân thời. Đang tự nhiên cô suốt ngày thở ngắn than dài bỏ cơm, lên giường thút thít khóc, khiến cho cả nhà phải lo lắng. Cô bảo chỉ có một người bạn gái mới hiểu được cô và giải phiền cho cô. Đến khi người bạn kia tới thì cô nhỏm ngay dậy tâm sự.
Sở dĩ cô buổn - buồn - buồn mất mấy ngày, ấy là vì một nhân vật tiểu thuyết cô đang đọc chết, thương quá !
Tôi nghĩ đến những con người thời nay. Chắc hẳn hàng ngày không thiếu cảnh cậu ấm cô chiêu ở các nhà giàu đập chân đập ta hành hạ bố mẹ vì không tìm ra mấy loại xe mới cho họ trưng diện. Rồi cả những cán bộ bình thường Hà Nội ngủ trưa trên bàn cơ quan và chia nhau suất cơm hộp chục ngàn cũng để hết tâm trí cả vào những Chelsea với lại Real Madrid ở các phương trời xa. Không đủ trình độ phán xét là hay hay dở, tôi chỉ biết cái sự đặt vui buồn trong tay kẻ khác như thế này đang trở thành cách sống thời đại, không ai cưỡng nổi.

(Những chấn thương tâm lý hiện đại)

Đọc tiếp ...

9 thg 11, 2009

Sự cố trường diễn

“ Nắng, nắng rất dữ, cái nắng cháy da làm mất đi vẻ đẹp riêng của những con người xứ lạnh.”
“Bình minh không còn màn sương phảng phất bay qua cành cây ngọn cỏ.”
“Những dải hoa hồng hoang sơ, đẹp một vẻ đẹp kiêu sa, trước kia bốn mùa khoe sắc trên nhiều con đường ngõ xóm, nay không còn nữa.”
“ Những cây thông cổ thụ bị dọn sạch.”
“Trong các mảnh vườn riêng của từng gia đình ở đây, các loại sâu bọ lỳ lạ xuất hiện. ”
“ Nhiều người vào đây từ sau 1975 bắt đầu nhớ lại Đà Lạt ngày họ mới vào, nhớ tới Đà Lạt ngày xưa mà họ mơ ước. ”

Trên đây là sự thay đổi môi trường Đà Lạt được bạn đọcTuổi trẻ viết trong số báo ra 7-3 -07)
Sự thay đổi ở đây vậy là gây ấn tượng đậm và thật đáng lo ngại: đó là những biến động ở tận bề sâu của môi sinh, biến đổi về mặt khí hậu.
Đọc lên ai mà chẳng thấy đau lòng.
So với Đà Lạt, tình hình thay đổi các thành phố trong cả nước chưa nguy hiểm bằng. Có vẻ tình trạng ô nhiễm và sự biến đổi cảnh quan ở đấy là chấp nhận được. Ta dễ bỏ qua.
Nhưng chúng ta đã nhầm.
Đọc một tài liệu nghiên cứu về môi trường, tôi thấy một nhà khoa học bảo rằng cái đáng sợ nhất là những sự cố trường diễn, tức là những thay đổi theo hướng thoái hóa, tác động rất lớn, song rỉ rả mỗi ngày một chút, nên dễ lọt lưới, và khi nghĩ ra thì đã muộn.
Ví dụ như ở Hà Nội. Hà Nội rãnh nước đen ngòm chảy bên lề đường phố cổ và chuột chết vứt cho xe kẹp. Hà Nội nhà xây cái cao cái thấp, cái lai tàu cái lai tây, lô nhô loạn xị và cây xanh bị triệt hại để lấy chỗ bán hàng. Hà Nội nắng hanh đường quẩn đất bụi. Hà Nội những tầng nước ngầm trong lòng đất bị tàn phá, một số giếng đào lên nước không dùng được. Hà Nội người ném rác hàng ngày xuống sông Hồng. Hà Nội không còn vỉa hè và thanh niên không biết thế nào là niềm vui đi bộ.
Chỉ cần so với Hà Nội 1954, hoặc Hà Nội trước 1975 thôi thì đã có bao điều tốt đẹp mất đi mà nếu thành tâm yêu Hà Nội người ta phải lấy làm tiếc. Và lo lắng nữa.
Báo chí gần đây có nhiều bài đả động đến những biến động nho nhỏ . Hoặc là rầy nâu tấn công Cao Lãnh, thị xã của tỉnh Đồng Tháp. “Rầy bay đầy đường như trấu, rầy bu đen kín các bức tường. Rầy đi thành từng đám như một lớp sương, người đi đường không thể đi được nên tấp vào quán để trốn rầy”. Hoặc là muỗi ở huyện Bình Thạnh TP Hồ Chí Minh “cứ khi trời sập tối là muỗi dày ken đặc, 10 phút quơ được một muỗng canh muỗi” ( Nông thôn ngày nay 19-3-07).
Đó chính là dấu hiệu của những sự cố trường diễn. Sự thay đổi của khí hậu – như ta thấy phần nào ở Đà Lạt --chính là kết quả của những đổi thay ngấm ngầm như vậy.
Nhìn rộng ra, người ta còn nói rằng tình hình ô nhiễm khói bụi ở khu vực Thái Bình Dương khiến cho nơi đây ngày càng xuất hiện nhiều hơn những cơn bão lớn...
Từ chuyện môi trường cây cối sâu bọ, tôi còn nghĩ đến những biến động sâu xa ở con người. Tình trạng trường lớp tồi tàn, bàn ghế không hợp lứa tuổi khiến cho tỉ lệ học sinh cận thị ngày mỗi cao. Xe máy chen chúc trên đường, phố xá ồn ào, khiến con người giờ đây “ăn sóng nói gió “ hơn bao giờ hết. Những khó khăn trong cuộc sống gậm nhấm mỗi ngày một ít, sự bươn trái kéo dài, giờ đây chả thấy ai nhường ai, nghĩ mãi về người quen không biết ai đáng gọi là dịu dàng hiền hậu.
Thậm chí nét mặt con người nữa.
Những khi đang đi gặp phải đèn đỏ, tôi nhìn chung quanh, sao thấy mặt mũi người nào trên đường cũng căng thẳng và đầy chất sát phạt. Tham vọng ghê gớm. Khao khát khẳng định. Ham hố sống, hưởng thụ … Tôi chưa tìm ra được chữ nghĩa cho chính xác, nhưng hình như có tất cả những cái đó trên nhiều khuôn mặt tôi gặp hàng ngày, quen cũng như lạ.
Lại nhớ những con người của cái thời tiền chiến đọc được trong những truyện ngắn Thạch Lam,Thanh Tịnh, hoặc hiện lên trong tranh Nguyễn Phan Chánh. Lại nhớ những bức ảnh chân dung tập thể bày ở các bảo tàng hoặc trong một số sưu tầm ảnh đây đó. Có phải là chúng ta đã thay đổi đến khó ngờ? Thời gian mang lại cho con người rất nhiều nhưng cũng lấy đi rất nhiều. Không thể luyến tiếc, nhưng phải nhở rằng nhiều cái tốt đẹp đã bị đánh mất.

(Những chấn thương tâm lý hiện đại)

Đọc tiếp ...

8 thg 11, 2009

Những cung bậc của cái hèn


Không cần tìm đâu xa, trong các truyên cười dân gian, người ta đã bắt gặp vô số chân dung người Việt hèn. Anh chàng sợ vợ định nói phét thì gặp vợ về. Thầy đồ ăn vụng, thầy đồ liếm mật. Sư mô cũng gian dâm ăn cắp và trơ tráo chối tội.

Đọc tiếp ...

4 thg 11, 2009

Sự đỏng đảnh của mùa xuân


Ở cơ quan tạp chí Văn nghệ quân đội trước 1975, Nguyễn Minh Châu nổi tiếng là … hay sổ ra những câu ngược đời. Chẳng hạn trong khi ai cũng nói là mùa xuân đẹp mùa xuân mơn mởn sức sống, thì có lần ông cho mọi người thất vọng bằng một câu xanh rờn:
-- Chính ra ở mình, mùa xuân lại là mùa bẩn nhất. Đấy các ông thử nhìn xem đường xá lầy lội có kinh không? Làng nào còn ít bụi tre, thì xuân này lá tre rụng đầy đường, mà chính các thân tre lại xơ xác trông gớm chết đi được !
Lúc nghe, vì quá sốc nên chúng tôi gần như lặng đi không nói gì. Chỉ khổ một nỗi về sau nghĩ kỹ lại, thấy đúng. Không ai dám nói tuột ra như Nguyễn Minh Châu, nhưng đúng có lúc ngại xuân thật ! Mưa phùn gió bấc, hơi một tí thì lạnh, hơi một tí lại nóng. Vừa trở gió, cửa nhà đã nhoe nhoét vì nồm. Muỗi ở đâu ra mà dầy như trấu. Nỗi sợ viêm họng với sợ sưng phổi làm người ta quên cả ngắm cảnh đẹp. May lắm thì chúng tôi chỉ còn tự an ủi, phải nói thực ra mùa xuân quá nhiều vẻ. Nó mang trong mình quá nhiều tiềm năng. Cũng giống như việc đời, nó đỏng đảnh, nó bất trắc. Tức là luôn luôn có thể thế này và có thể thế khác, đẹp đấy mà cũng nhếch nhác ngay đấy.
Mấy hôm mùng một mùng hai bận bịu vì nghi thức và ăn uống, chính ra vẻ không khí Tết hơn cả lại là rằm tháng giêng. Lễ tết quanh năm không bằng ngày rằm tháng giêng. Từ nhỏ tôi đã được nghe nói như vậy, và càng lớn càng thấy nó đã ăn sâu vào tâm lý mọi người đến như thế nào. Người đi lễ nườm nượp từ sáng đến tối. Tết Đinh Tỵ (1977) lúc đã muộn, khoảng mười giờ đêm, tôi mới đi bộ ra đền Quan Thánh ( vì Văn nghệ quân đội gần đấy ), trở về chỉ nhớ hai chi tiết. Một là nhiều người đến chậm, không chen được vào cắm hương, quay ra cắm cả vào các ngách tường gốc cây ngoài sân; hai là sau khi khách đến lễ ra về, các vị hành nghề ở đền ( chữ gọi là thủ từ ) để đỡ mệt mỏi, quay ra xả hơi bằng cách … mở băng Sơn ca 7 của Trịnh Công Sơn. Hôm sau kể với Nguyễn Khải, ông cười sặc sụa, bảo là bịa, nhất định không tin. Tôi thì tôi nghĩ, chẳng qua nó chỉ cho thấy một tình trạng hỗn độn mà lớp người cũ như chúng tôi không quen. Hỗn độn, nham nhở, pha tạp, không thuần khiết, những cái chả ăn nhập gì với nhau lại đặt cạnh nhau …, đó là tình trạng có thể gặp ở bất cứ đâu trong mùa xuân.
Nhân chuyện lễ bái ngày tết, còn nhớ một câu tục ngữ nữa Ăn trộm ăn cướp thành Phật thành tiên -- Đi chùa đi chiền bán thân bất toại. Hình như có một thời xã hội có sự phân chia rành mạch. Đã ăn cắp thì không dám tính chuyện đi đền đi chùa. Ngược lại lễ bái là cả một việc thiêng liêng mà chỉ những người tin chắc ở sự lương thiện của mình mới thành tâm theo đuổi. Hai loại người hai cách sống, rành mạch đâu ra đấy. Còn ngày nay, càng những người “ có chuyện “, bao gồm từ đám buôn bán bất chính giả dối lừa lọc cho tới các loại hối lộ, tham ô ăn cắp ( nói nôm na thì tham nhũng cũng chỉ là một loại ăn cắp ) lại càng kỹ càng trong việc cúng bái. Thành ra cuộc đời cứ nháo nhào cả lên. Về mặt ý nghĩa, câu nói cảnh báo một sự thật: mọi chuyện không phải bao giờ cũng công bằng, sự thành tâm không phải bao giờ cũng tương ứng với hậu quả, không riêng gì con người mà thiên nhiên và thần thánh cũng đỏng đảnh, và đấy chính là sự hấp dẫn của những thế lực siêu phàm ấy.
Mỗi mùa đông lại cho người ta thấy một sự bất ngờ mới của thiên nhiên. Như mùa đông năm ấy, 2006. Ba bốn tháng liền, gần như không mưa. Trời đẹp, nhiều hôm nghe mục thời tiết trên truyền hình “ Chúc các bạn có những ngày nghỉ cuối tuần tuyệt vời “ cứ thấy nao nao. Vẫn biết nắng vàng trời hanh thì thú vị thật, nhưng tận trong đáy lòng, vẫn nhớ những ngày mưa, hình như mình quen với mưa hơn.
Cầu được ước thấy, cả tuần trước tết Nguyên tiêu, không có lấy một ngày nắng trọn vẹn. Lúc nào bầu trời trên đầu cũng lảng vảng những đám mây. Lúc nào trời cũng ủ mưa. Cái nẳng thoang thoáng. Có thể sắp nắng bừng lên nữa. Mà cũng không chừng lại sắp mưa.
Những ngày khô hạn đã dạy cho tôi biết thế nào là sự quyết liệt của đời sống. Mấy năm nay, cả trái đất nóng lên. Nhiều thành phố nằm sát mép nước biển bên Italia có khả năng bị nước tấn công. Năm ngoái năm kia bên Paris khối cụ già chết vì nắng cơ mà.( Bây giờ cái gì cũng thái quá. Chuyện mưa thuận gió hòa chắc chỉ còn trong sách vở.)
Những ngày dở dang mưa nắng lại càng dạy tôi tập quen với mọi diễn biến sắp tới. Điều gì cũng có thể xảy ra, kể cả những điều xấu nhất lẫn những điều tốt nhất. Đấy là quy luật của đời sống hiện đại.
Một nỗi buồn dù to lớn đến đâu, khi ta nhận thức được thì tự nó cũng mang lại một niềm vui chân chính. Câu nói đã thành công thức ấy, hôm nay với tôi vẫn là một phát hiện

trong (Những chấn thương tâm lý hiện đại)

Đọc tiếp ...

3 thg 11, 2009

Những cảnh báo cay đắng

(TBKTSG) - Khác với thông lệ, một vài năm gần đây, giải Nobel văn học bị nhiều người kêu rêu, không chấp nhận và thậm chí là phản đối. Năm 2004 là trường hợp Elfriede Jelinek (Áo), năm 2009 là trường hợp Herta Muller (Đức). Sở dĩ hai tên tuổi này bị “đặt thành vấn đề” không phải do họ viết dở - xưa nay không thiếu tác giả được giải Nobel xong là rơi vào quên lãng - mà cái chính là bởi cả Jelinek lẫn Herta Muller có nhiều tư tưởng lạ.

Có lần nhà văn Áo tự nhận mình là người chuyên đi dọn những thứ rác rưởi trong cảm xúc: “Có ai chịu làm công việc bẩn thỉu đó đâu? Tôi thì lại xem như được số phận giao phó”. Có lẽ vì thế Vatican có lần đã gọi Jelinek là người đàn bà điên loạn, hư vô.

Một hướng suy nghĩ tương tự cũng thấy ở Herta Muller. Trong tác phẩm của bà, con người được miêu tả như là họ bị nhốt trong ác mộng. Họ là nhân chứng của một thế giới bị thống trị bởi hận thù. Bằng các nghi lễ và chuẩn mực giả dối, thế giới này đối xử với họ tàn ác, vô cảm.

Muller quan niệm: “Tôi không có bổn phận gì hết đối với văn học. Những gì tôi viết là để hoàn thành sứ mệnh đối với bản thân tôi”. Thủ tướng Đức A. Merkel thì bảo tác phẩm của Herta Muller là “bằng chứng về nỗi sợ hãi nhưng cũng chứng tỏ một lòng dũng cảm phi thường”.

Một điều đặc biệt là thái độ của hai nhà văn này với xứ sở mà họ lớn lên. Họ thường sống cô độc, ít người biết tiếng. Jelinek đã gây sốc cho chính đất nước quê hương, khi bà đay đi đay lại chuyện nước Áo trong Chiến tranh thế giới thứ 2. Bà phát biểu vào năm 1980: “Áo là một quốc gia tội ác”.

Trường hợp Herta Muller hơi tế nhị một chút. Sinh ra ở Romania nhưng bà lại là người Đức và hiện sống ở Đức. Từ hoàn cảnh riêng, bà bảo “quê hương là thứ người ta không thể chịu đựng được mà cũng lại là thứ không buông tha người ta bao giờ” .

Với người có cách nghĩ cổ điển - luôn coi quê hương là một thứ khái niệm thiêng liêng - những phát biểu này chỉ gây những phản cảm.

Nhưng sự phát triển của lịch sử là thế. Nhìn chung cả giải Nobel văn học mấy chục năm nay, tôi có cảm tưởng nay là lúc những giá trị kinh điển, những đầu óc kỳ vĩ được cả nhân loại công nhận - cỡ như Sartre và Camus - không còn nữa.

Nhân loại đang quằn quại đi tìm những tư tưởng mới. Mỗi một tư tưởng mới mẻ này có phần độc đáo riêng của nó, nhưng nhìn chung, phần lớn giống nhau ở chỗ đều đi vào hướng nghịch thường. Nó gây sốc, bởi nó muốn vượt qua những giới hạn mà xưa nay người ta phải dừng lại. Nếu các tư tưởng cổ điển là thuộc về thần thánh, thì những tư tưởng mới nhiều khi có bộ mặt của quỷ dữ. Nó là cái người ta muốn từ bỏ mà không nổi.

Năm 2005, giải Nobel văn học được trao cho nhà văn người đảo quốc Trinidad là V.S.Naipaul. Trong lời phát biểu khi nhận giải, Naipaul chỉ cảm ơn nước Anh mà ông gọi là ngôi nhà của tôi, và Ấn Độ là đất nước của tổ tiên tôi. Lý do là, theo ông, nếu không có nước Anh, ông sẽ không hiểu được những gì xảy ra tại Trinidad. Khi có người hỏi ông sao không cảm ơn tổ quốc mình, ông bảo họ phải cảm ơn ông mới đúng, vì nhờ có ông mà người ta biết rằng có một xứ sở tên là Trinidad. Toàn cách trả lời mà giá như gặp phải dân mình thì ăn đòn!

Chung quanh con người hiện nay, thế giới cũng đang đi tới những quan niệm mà thoạt nhìn dễ cho là kỳ quặc, phi nhân đạo. Năm 1991, nhân dịp chiến tranh lạnh kết thúc, triết gia A. Gluksman (Pháp) đưa ra mấy điều tổng kết, trong đó cảnh báo: 1. Cái ác luôn ẩn chứa trong con người; 2. Cần phải luôn luôn hoài nghi về cái thiện, cần phải thừa nhận vĩnh viễn rằng thế giới là lộn xộn, có một nguy cơ hỗn loạn thường xuyên hiện diện. “Không có gì không thuộc về con người lại xa lạ với chúng ta cả”, Gluksman khái quát.

Nên nói ngay là cũng công thức này, nhưng một giáo sư đại học đồng thời là nhà văn, Umberto Eco, phát biểu một cách khác. Theo Eco, đang hình thành một hình thái mới của cái ngã, không còn chắc đặc và thống nhất nữa mà được cấu thành bởi tính cách vô chính phủ của các nguyên tử. Trở lại với Nietzsche, Eco giả định rằng nay không phải là thời của các siêu nhân mà là thời của những con - người - bên - kia - con - người. Tức nay là lúc con người tiến mãi về phía cái phi nhân. Một lời cảnh báo cay đắng!

Như vậy là Gluksman, cũng như Jelinek, Muller của giải Nobel, không đơn độc.

Từ mấy mẩu chuyện trên, trở lại với đời sống trí thức xứ mình, trong đầu óc tôi trở đi trở lại những câu hỏi. Có phải mọi dự báo đều có quyền tồn tại miễn nó đã được nghiền ngẫm một cách khoa học? Ai mà biết được sự vận động sẽ đưa nhân loại tới đâu? Đến bao giờ chúng ta mới biết rằng tiêu chuẩn của chân lý không phải là sự chấp nhận của đám đông? Cụ thể hơn, đến bao giờ những đầu óc ưu tú của cộng đồng mới được làm công việc thể nghiệm, rồi dự báo những xu thế sẽ tới của xã hội? Chúng ta đã có những đầu óc ưu tú loại đó chưa? Nếu chưa có thì làm sao để đào tạo? Mà với tình hình này, có đào tạo được không?

thesaigontimes Thứ Hai,2/11/2009

Đọc tiếp ...

30 thg 10, 2009

Đi du lịch bụi Trung Quốc (4)

Tây An
26-9
Đi xe lửa từ chiều sang hôm sau mới tới Tây An. Trên đường đi tôi lấy cuốn sách viết về bộ luật Hồng Đức ra đọc. Bài viết về hoàn cảnh lịch sử thời Lê sơ của tác giả Nguyễn Hải Kế rất khá. Đọc Đại Việt sử ký toàn thư, đã thấy thời đầu nhà Lê đánh xong quân Minh giống y như VN hôm nay sau chiến tranh.
Thăm khu lăng mộ.
Nghĩ đến Tây An là nghĩ ngay đến Tần Thủy Hoàng và Binh mã dũng ( chữ dũng có chữ nhân đứng đằng trước, ở đây chỉ người, các loại quan lại và thợ )
Tượng vị hoàng đế có công thống nhất Trung Hoa, trông hơi dữ, nhưng đúng là tượng trưng cho nước Trung Hoa lúc còn đang ở núi, chứ chưa ra biển đang từ Tây chứ chưa sang Đông.
Chúng tôi ngợp giữa cung cách một cuộc triển lãm thế này. Đồ sộ quá.
Ảnh Đăng chụp không được nhiều vì ánh sáng trong nhà khó làm nổi hình. Chỉ có điều Đăng không quên nhận xét, anh trông kìa, trong tư thế xếp hàng nghiêm chỉnh thế kia, mấy anh lính đít móp, chắc là đã mỏi mệt lắm. Sự anh hùng nào cũng phải trả giá. Và chiến công có mặt trái của nó.
Chúng tôi đã có kinh nghiệm đến một thành phố nào của Trung quốc, nếu không biết làm gì, cứ hỏi đến Công viên thành phố, cũng có khối cái đáng xem.
Đến Tây An cũng vậy. Chiều nay chúng tôi lại bị mê tơi bởi cảnh đá.
À tí quên, ở bảo tàng Binh mã dũng, đã thấy có những cây thông, mà bóng trải rộng như một ngôi đình ở ta.
Đến công viên Hưng Khánh lại gặp mấy cây như vậy.
Tây An chỉ có thành quách nhà cửa, không giỏi về làm vườn, cỏ trồng nhếch nhác, nhiều đám hủi cùn hủi cụt, nghệ thuật trồng trọt ở đây không thể so với mạn Giang Nam được mà ngay so với Thành Đô cũng thua.
Một kỷ niệm của buổi chiều nay, tốp các chị em tập múa ngay ở khoảng đất rộng lối vào công viên. Họ thật tự nhiên và hào hứng với hoạt động nghệ thuật nghiệp dư của mình.

29-9
Tới bảo tàng lịch sử Tây An, nhớ nhất là bức phù điêu đặt ở gian giưã, một vẻ đẹp thô khỏe, tượng trưng cho nước Trung Hoa thời Tần Hán
Một trong những chủ đề trưng bày—mối quan hệ TQ với vùng Trung Á. Đây là thời nước Trung Hoa chưa là quen với biển.
Ở Bảo tàng đã thấy nói nhiều tới con đường tơ lụa. Lúc ra ngoài phố, thấy có những bức tượng lớn—tượng một đoàn người với lạc đà đang đi. Tôi bảo với Đăng — cả Thành Đô hay Tây An cho thấy một TQ trước khi tiếp xúc với Tây phương, họ đã là một cái gì hoàn chỉnh lắm. Nhưng họ cứ thấy chưa đủ. Người TQ luôn khao khát tiếp xúc với nước ngoài, và biết trân trọng những gì thiên hạ mang lại cho mình.
Còn ta thì sao? Đây là một chủ đề mà tôi theo đuổi từ lâu. Chẳng hiểu sao đầu óc tôi từ nhỏ có một sự ưu ái riêng với cái đề tài này. Nhưng đọc vào sử xưa, thấy người mình rất ít ghi chép về chuyện này, mà người ngày nay cũng không hề tìm đọc. Mây năm trước, lúc còn làm xuất bản tôi đã biên soạn cuốn Đi tầu đi tây…, nhưng rồi kế hoạch bỏ dở.
30-9
Bọn tôi định đi Lạc Dương nữa nhưng sắp quốc khánh TQ, mua vé khó, đành nhờ người mua vé máy bay giá rẻ từ Tây An về thẳng Quảng Châu. Buổi sáng hôm qua ra đi trong sự nuối tiếc, định đến thăm tháp Đại Nhạn mà không kịp, chỉ từ xe bus nhìn vào mà tự nhủ mình vô duyên quá, không biết bao giờ mới trở lại được nữa.
( Trên xe từ sân bay về thành phố, bọn tôi còn được cháu Phương giảng thêm một nơi nữa bỏ qua là khu vực Hoa Thanh, có cái đầm lớn là nơi Dương Quý Phi đã tắm. Ờ, hôm ở trên ấy cũng nghe mang máng là Hoa Thanh trì nổi tiếng lắm, nhưng không nghe ra chuỵện DQP. Vả chăng, đến thăm nhiều di tích quá lắm lúc thấy quá khả năng tiêu hóa của mình. Chính ra còn phải đi chơi phố Tây An nữa, lăng mộ Tần Thủy Hoàng có thể xem trong ảnh được, chứ không khí đường phố, không tự mình trải qua thì đọc ở đâu được)

Ở trọ một ngày ở khu Thiên Hà, Quảng Châu.. Có lúc Đăng bảo, đến đây lần thứ hai không thấy náo nức như lần đầu nữa. Nhưng có lúc lại bảo, có lẽ nếu đi TQ một mình thì chỉ có thể đi Quảng Châu, nó có cái gì rất gần mình và dễ hiểu với mình.
Tôi cũng tự trách mình, ít bỏ thời giờ đọc sách về cái xứ Lưỡng Quảng này. Văn minh núi Ngũ Lĩnh, thành Phiên Ngung xưa lẽ ra tôi phải biết , nếu muốn qua TQ hiểu VN như vẫn thường tự dặn mình.
Sau khi đi qua nhiều hiệu sách TQ, thấy hiệu sách Tân Hoa ở Quảng Châu mà tôi thường qua, chính ra là loại tốt nhất. Ở đó, tôi thấy một ngăn sách mới mà các lần trước không có hoặc tôi không biết—sách nghiên cứu về văn hóa.
Tôi mua thêm được một cuốn từ điển mới – Từ điển địa lý nhân văn do người Mỹ biên soạn, nhà Thương vụ cho dịch.
Ở bến xe Quảng Châu tối 30-9, người ngồi chờ xe tràn ra cả các vỉa hè nhiều phố. Toàn công nhân TQ về nghỉ Quốc khánh của họ. Chỉ tuyên Quảng Châu – Bằng Tường là không có khách loại này.
VTN



Đọc tiếp ...

Đi du lịch bụi Trung Quốc (3)

Thành Đô
21-9
Từ Thành Đô lên Cửu Trại Câu. Đường núi, sau trận động đất năm ngoái, còn ghê rợn về những hậu quả mà nó đẻ lại. Thấy TQ còn khối v/đ về những vùng sâu vùng xa. Nhưng cũng thấy người TQ từ lâu đã biết sống với núi.
Núi làm cho đầu óc người ta trở nên phóng khoáng. Núi cho phép người ta biết rằng ngoài chỗ người ta đang ở, còn cả thế giới; núi xui người ta hướng thượng, vượt lên trên đời sống hàng ngày.
Nhớ lúc sang thăm VN thời chiến tranh, một nhà văn Đức là Peter Weiss ( nghe mọi người đọc là Pi-tơ Vai- xơ) đã kêu lên là ở đây cái gì cũng sát mặt đất.
Gần đây, nhân chuyện Trường Sa Hoàng Sa, người Việt bắt đầu nhận ra người Việt mình ít sống với biển.
Hóa ra không chỉ có thế, nhìn lại lịch sử, người mình cũng không sống bao nhiêu với núi. Sợ núi nữa. Trước 1945 mà nói phải bỏ lên rừng kiếm ăn là liều lắm.
Ra nước ngoài, gặp chỗ nào thấy khó thấy khổ là nhớ nhà. Tự nhủ: “ A! họ cũng có chỗ như mình.” Một sự an ủi. Điều này tôi học được từ Nguyễn Minh Châu thời kỳ trước sau 1980. Hồi ấy đi Liên xô phải qua Ấn Độ rồi theo Trung Á bay ngược lên. Ông Châu kể, một lần đi ở chỗ sân bay gặp một đống đất. À Tasken rồi, chủ nghĩa xã hội thì chỗ nào mà chả xây dựng.
Ngày hôm nay, tôi đi 400 cây số trong 12 tiếng đồng hồ, luôn luôn xe phải đi vào mép đường, mấy lần tắc đường ( tổng cộng hai lần dài nhất đã thành ra tới gần hai tiếng đồng hồ).
Người khác đi du lịch để biết về người. Tôi cảm thấy cái sự biết ấy cũng khó lắm, cưỡi ngựa xem hoa thì được mấy đâu. Điều chắc chắn hơn, đi để tạo ra khoảng cách với nơi cũ mà so sánh.
Tôi nhìn người TQ ở một khoảng cách gần hơn và tôi lại nhớ nhiều về người mình. Trước một cảnh tắc đường, Đăng bảo cứ như dân mình thì tắc cả ngày, vài ngày. May dân ở đây chỉ thu xếp với nhau hơn tiếng là đi được.

Có lẽ nếu rỗi một trong cuốn sách cuối đời tôi phải viết là viết về mối quan hệ người Việt thông qua những điểm đối chiếu là người nước ngoài. Những điểm đối chiếu này tôi tìm thấy trong sách vở và sau những chuyến đi. Có thể tôi còn ít kinh nghiệm. Nhưng tôi tin rằng cái hướng nghĩ của tôi là đúng.

Trên đường vào Tứ Xuyên, cả ông bạn Nghĩa và Đăng nhắc nhiều đến xứ Ba Thục trong Tam quốc, và, chẳng hạn, cái vùng đất xảy ra những trận chiến “ thất cầm thất phóng Mạnh Hoạch”.
Tôi nhớ nhiều hơn tới thơ Đường, đầu tiên là nhớ câu thơ của Lý Bạch -- Thục đạo nan, nan ư thướng thanh thiên, rồi đến mấy câu tuyệt cú của Đỗ Phủ:
Lưỡng cá hoàng ly minh thúy liễu
Nhất hàng cô lộ thướng thanh thiên
Song hàm Tây lĩnh thiên thu tuyết
Môn bạc Đông Ngô vạn lý thuyền
Đăng bảo, đến đấy rồi anh phải chỉ cho em Tây lĩnh.
Nhưng đất nước Trung Hoa bao la, Tứ Xuyên thôi cũng đã bao la, làm sao chỉ được.
Trước khi vào Cửu Trại Câu, qua huyện lỵ, thấy một cửa lớn trên có dòng chữ Tùng Sơn Đại Đường.
Đám trẻ con người dân tộc đen nhẻm nhem nhuốc, nhưng hơn hẳn trẻ con VN ở chỗ đứa nào cũng có đôi giày dưới chân. Đường bụi. Một đứa trẻ thấy người lớn lau kính cũng lau kính. Ở một chỗ khác, hai đứa trẻ thi nhau xúc đất.
22-9
Đi theo kiểu tự động, lo lấy, học theo Tây ba lô là chính song thỉnh thoảng bọn tôi cũng nhập vào một tốp du lịch nội địa Trung quốc. Họ có vẻ cũng hay bàn tán trước sự xuất hiện mấy người lạ VN.
Tôi còn nhớ được mấy câu hội thoại học được từ hồi lớp sáu , nên thỉnh thoảng cũng bắt chuyện. Ở chỗ riêng tư, mọi người có thể nói thẳng với nhau nhiều điều. Dân du lịch TQ thường hỏi tôi, sao đi du lịch TQ, tôi bảo tôi muốn hiểu TQ để hiểu VN. Tôi tạm khái quát “Con đường VN đến với thế giới thông qua Trung quốc”.( Một công thức như thế giờ nói ra ở VN chắc hơi khó chấp nhận, nhưng chết nỗi, có cảm tưởng đó lại là sự thực.)
Hai người hỏi tôi về sông Mê Kông. Tôi hiểu họ có những quan ngại. Thời gian tới, quan hệ giữa các dân tộc phụ thuộc nhiều vào việc giải quyết nguồn nước. Nay không chỉ các nhà lãnh đạo mà dân thường cũng biết vậy.
Một khẩu hiệu đọc ở Tùng Sơn Đại đường Kẻ đứng vững sẽ khỏe, kẻ khỏe sẽ đứng vững (dịch từ chữ ban Tự lập gia cường, tự cường gia lập)
Cửu trại câu, rừng sâm lâm ( rừng sâu) gợi cảm giác về một cái gì nguyên thủy. Không có con người, thiên nhiên vẫn tạo ra được sự cân xứng riêng. Cây mọc thẳng lạ lùng.
Làng người Tạng. Từng ngôi nhà đều tăm tắp. Cả bản cùng một màu sơn. Có vẻ sơn cùng một đợt. Các nhà được cả cộng đồng lo, không có chuyện ai lo nhà ấy.
Như thế kể cũng buồn. Thực ra thì cái ngây thơ là tẻ nhạt đơn điệu và đáng buồn. Tôi càng ngày càng tin rằng các cộng đồng trưởng thành nhờ elite – giới tinh hoa
Nhớ hôm lên Lệ Giang, trên cánh đồng cỏ rộng theo đúng nghĩa của một thảo nguyên, cạnh ô tô của mấy tay chơi phố xá là mấy con ngựa thuê của thổ dân.
Hôm nay, lúc qua một cánh đồng khô cạnh trại, tôi gặp một đám đàn bà quây quần thành một vòng tròn. Chắc là sắp hát múa gì đây
Cuộc sống nguyên thủy có cái đẹp riêng và rất hấp dẫn với con người hiện dại.
Nhưng tự nó cuộc sống đó không tự khai thác để trình ra bộ mặt của mình trước thế giới. Phải có ánh sáng hiện đại. Chắc chắn tổng công trình sư của CTC phải là một người Hán.
Chỉ có văn hóa hiện đại mới khai thác được văn hóa nguyên thủy.
Đăng kể : Ở VN cũng có khu Cần Giờ, rừng cũng hoang vu kiểu nguyên thủy thế này, mà không làm sao tổ chức du lịch cho ra trò.
Một câu quảng cáo trên bảng lớn: Chỉ có một địa cầu—Chỉ có một Cửu Trại Câu

Trong các chuyến du lịch, nhìn đâu cũng thấy con người và mobile. Con người hiện đại lúc nào cũng đang trò chuyện với ai đó. Chỉ trừ trò chuyện với mình là họ bỏ qua. Tất cả quan tâm dồn vào cả đôi tay.
Họ quan hệ rất rộng và sẵn sàng kết bạn với những người mới quen. Nhưng bạn cũ thì họ quan liêu lảng tránh.
Hôm đầu từ Thành Đô lên Cửu Trại Câu, -- có người dịch là khe chín trại --, bọn tôi được dự một buổi gặp mặt cộng đồng làm theo kiểu của các sơn trang. Đám cưới. Mọi người nhâm nhi gì đấy, hát. Rồi xuống sân, nhảy múa bên bếp lửa. Nhớ nhất là một cô gái vừa tiếp khách vừa hát, hát rất tự nhiên thấy như trong cô có biểu hiện tượng trưng của một vẻ đẹp hoang dại.
Trong buổi tối se lạnh như không khí rét ngọt HN, tôi thấy hơi say say – cái cảm giác mà hồi còn làm phóng viên nghệ thuật ở VNQĐ, tôi cảm thấy, trong những đêm theo mấy ông trên Cục dự tổng duyệt ở các đoàn văn công. Xem duyệt thường có cái thú vì gần gũi với diễn viên hơn nhiều, so với những đêm biểu diễn.
Hôm sau chúng tôi được dự một buổi ca múa tổng hợp chuyên nghiệp vé vào lên tới trên 100 tệ -- cả hai buổi nói trên, vé phải trả là 260 tệ. Thấy xứng đáng. Các giọng hát nam cũng như nữ đều khỏe. Tình ca cũng khỏe.
Cái hoang dại ở thế giới thường khỏe mạnh cứng cỏi; ở ta hoang dại lại lả lướt yếu đuối.
Không khí lôi cuốn tôi tới mức tôi thường hát theo những dòng chữ ghi lời bài hát trên bảng điện tử. Tôi không sợ ai cười cả.
23-9
Đến HoàngLong,thú vị là ở cảnh suối chân núi chứ không phải đỉnh núi.
Không may cho bọn tôi là gặp mưa khi đang lưng chừng núi.
Nhưng nhờ thế tôi biết thói ham du lịch của người TQ. Năm giờ chiều, vẫn có những ông già tay cầm ô theo vợ con leo lên đỉnh núi. Có lẽ họ di từ xa tới, và chỉ ghé đây chiều nay đêm nay, mai lại phải đi rồi .
Họ lên từ phía chân núi mà tôi nói ở trên là cảnh đẹp nhất ở Hoàng Long.

Một điều may khác, gặp được trong chuyến đi này là tôi được các bạn TQ mà tôi mới nhập đoàn từ hôm trước giúp đỡ rất tận tình. Sheyu( Hán Việt đọc là Thạch Vũ), cô gái đi với mẹ, hai mẹ con chỉ có một ô. Gặp chúng tôi trú mưa vì không ô, tỏ vẻ ái ngại. Đến một trạm nghỉ phía trước, S. bảo mẹ ngồi đấy, lấy ô của mình và mượn thêm ô nữa là hai, quay trở lại đón tôi và cậu Đăng em tôi. Gặp mẹ rồi, S. trả ô đi mượn, hai mẹ con xuống núi trước, nhưng không quên dặn dò chúng tôi gì đấy. Vì nghe kém nên tôi không hiểu, nhưng tin chắc là dặn xem ai có ô mà đi một người, thì xin đi cùng. Qủa nhiên, lúc sau Huy, một thanh niên trong đoàn đến cho tôi ghé ô cùng về, Đăng thì lấy mấy cái túi ny lông to chụp xuống làm mũ che đầu.
Phụ nữ đi cùng đoàn với bọn tôi phần lớn to khỏe, mà tôi nói đùa là trông như ngựa cái cả một lũ. Hai cô từ Liêu Ninh xuống rất vâm, đội mưa mà chụp ảnh.
Riêng S., nhỏ bé như L. “của tôi” mấy năm 1971-73, lại có vẻ thùy mị nết na.
Trước đó, hôm 22-9, ở Cửu Trại Câu, tôi gặp một đôi bạn trẻ, một thanh niên trông rất trí thức đi chơi với người bạn gái của mình. Vừa lúc chúng tôi đến thì cô gái bảo bạn mình chụp cho cô cái cảnh cô đang lúi húi nhìn mặt nước, cái khăn vắt ở cổ cúi xuống trông rất có vẻ tạo hình. Cảm thấy cô là người có gu nghệ thuật. Trò chuyện với người bạn trai của cô, tôi nhận ra đó là một người thanh niên thông minh. Sau tôi hỏi mới biết cậu ta đã tốt nghiệp đại học. Họ đẹp đôi quá. Tôi bảo, các bạn là tương lai của đất nước Trung Hoa. Và tôi nói đùa, hôm qua bọn tôi cũng có một tuổi trẻ như các bạn, nhưng bây giờ thì không còn nữa.

24-9
Tôi đã nhiều lần ghi nhận cảm giác kính trọng đối với công việc của người Trung quốc với giao thông. Từ thời Tần Hán, họ đã biết dùng xe, và có khái niệm về đường xá.
Tôi nhớ lần từ Nam Ninh về Bằng Tường. Đường vùng núi biên giới mà đàng hoàng đạt tiêu chuẩn quốc tế.
Và lần lên CTC này, tôi chứng kiến một phía khác của giao thông TQ. Là đọ sức với thiên nhiên, bổ sung vào thiên nhiên một cách đàng hoàng nối thiên nhiên lại trong một hệ thống.
Từ Thành Đô lên CTC, qua Vấn Xuyên, tới khu vực xảy trận động đất 5-08, đường bị sạt cầu bị gẫy. Có những tảng đá cao to quá đầu người từ đâu bay về đặt ngay bên đường cho dân mê cảnh lạ chụp làm cảnh nền.
25-9
Có lần đọc nhật ký du lịch trên mạng của một cô gái, kẻ là đến Thành Đô, cô nghe nói đến Võ Hầu từ, nhưng không hiểu Võ hầu là ai, nên mặc không vào.
May quá chúng tôi còn nhớ Tam Quốc, nên vừa đến Thành Đô 5h chiều rồi còn theo xe bus đến bằng được nơi thờ Khổng Minh.
Hôm nay sau khi đến CTC, quay về, lại được dịp thăm một vài thắng cảnh trong nội thị .
Đến Vọng Giang lâu, hóa ra một cái lầu đặt giữa rừng tre nứa. Có nhiều bảng ghi chú, đề rõ, tre này mang từ Quảng Đông lên, tre kia từ Thanh Hải sang.
Nước mình vốn tự coi là xứ sở của tre nứa, nhưng bao giờ có được một công viên như thế này? Và liệu có ai nghĩ ra một công viên thuần chủng đặt ở phương bắc để dành cho một giống cây ở phương Nam?
Thăm Đỗ Phủ thảo đường. Nhiều tảng đá lớn được bài trí hợp lý, và nhất là được chọn kỹ, khiến mỗi thế đá là tượng trưng cho một con vật. Đăng được một bữa chụp mỏi tay.

Con người nới đây bạn bầu thân thiết với đá. Đá là một phần của đời sống, đá làm đường làm nhà trang trí cho vườn hoa đá có mặt bên con người và cây cỏ.
Trên đường về, nhiều chỗ thấy người ta chuẩn bị những tảng đá làm gạch lát đường, mỗi tấm đến phần tư cánh phản và dầy bằng độ dày viên gạch thông thường. Tưởng sau thiên niên vạn niên, những con đường này còn ngay ngắn. Đăng bảo hình như người Trung quốc luôn có khát vọng hoàn hảo.
Ở mình , sợ nhất là cái gì cũng mỏng manh, tạm bợ, cũng chóng hỏng.


Đọc tiếp ...